Tiễn bạn

Japanese Maple

By Clive James 

Your death, near now, is of an easy sort.
So slow a fading out brings no real pain.
Breath growing short
Is just uncomfortable. You feel the drain
Of energy, but thought and sight remain: 

Enhanced, in fact. When did you ever see
So much sweet beauty as when fine rain falls
On that small tree
And saturates your brick back garden walls,
So many Amber Rooms and mirror halls? 

Ever more lavish as the dusk descends
This glistening illuminates the air.
It never ends.
Whenever the rain comes it will be there,
Beyond my time, but now I take my share. 

My daughter’s choice, the maple tree is new.
Come autumn and its leaves will turn to flame.
What I must do
Is live to see that. That will end the game
For me, though life continues all the same:

Filling the double doors to bathe my eyes,
A final flood of colors will live on
As my mind dies,
Burned by my vision of a world that shone
So brightly at the last, and then was gone.


Phong Nhựt Bổn

Cái chết của bạn, liền bi giờ, thì cũng là chuyện dễ dàng
Một cái chết từ từ, theo kiểu nhạc TCS, nhạt nhoà trong mưa, thường không làm đau
Hơi thở ngắn đi, đúng là không được thoải mái cho lắm
Bạn cảm thấy não khô kiệt, hết xí oát, nhưng ý nghĩ và cái nhìn, còn:

Thực sự mà nói, như được cú hích - nhập cuộc, dấn thân, chúng ta đã xuống thuyền, nói theo kiểu hiện sinh-
Bạn có khi nào nhìn thấy cái đẹp ngọt ngào, dịu dàng, nhiều đến như thế này, bao giờ chưa,
Khi mưa nhẹ, mịn, [cái “gì gì”, "đậu bằng quá giá vũ như ti","have you ever seen the rain"]
Mưa, mưa trên cây nhỏ
Và làm đầy những bức tường gạch khu vườn đằng sau
Ui, biết bao nhiêu là Amber Rooms và “cao đường minh kính”?

Điêu tàn/hoang tàn/đổ nát… biết bao, khi bóng đêm thả xuống
Cái lung linh của cái gì đang trở thành hoang tàn, đổ nát,
Làm sáng ngời không khí, bầu trời
Chẳng bao giờ tận.
Bất cứ khi nào mưa rơi, là cái đẹp như thế, bèn trở về, bèn xuất hiện, bèn có đó
Vượt quá cả thời gian của tôi, nhưng vào lúc này, tôi có phần chia của mình

Con gái tôi chọn, cây phong, mới
Thu tới, và lá của nó trở thành ngọn lửa
Điều tôi phải làm là,
Sống và chiêm ngưỡng nó
Cuộc chơi kể như chấm dứt với tôi, như thế đó,
Mặc dù cuộc đời vưỡn tiếp tục, vũ như cẩn:

Làm đầy cửa kép, tắm mắt tôi
Bằng trận lũ mầu sắc sau cùng
Sẽ sống mãi
Trong khi cái đầu của tôi ngỏm
Do bị đốt cháy bởi viễn ảnh của mình
Nó chiếu sáng rực rỡ đến phút chót
Và rồi, xong!
Adieu bạn quí,
GCC!
NDTM!

Hà, hà!

Note: Bài thơ này, đăng trên tờ The New Yorker, và được tòa soạn cho điểm, most popular!
GCC chôm liền, khi mua tờ báo!

Pablo Antonio Cuadra
Spanish
1912-2002

THE PAIN

What tells me to start
fingering the harp strings?-
already in me
the pain of distance begins.
One
Sail
            a long way out
                                   is all it takes.

Cái đau

Điều nói với tôi khi bắt đầu bấm sợi dây đàn
Thì đã có ở trong tôi ngay từ lúc bò ra khỏi bụng mẹ rùi
[Thành thử mới khóc dữ như thế]
Nỗi đau của khoảng cách – thì cứ phán đại, từ Toronto tới San Diego –
Bắt đầu
Một cú ra khơi
Một viễn du dài
Là tất cả những gì mà nó lấy

Note: Bài thơ này, ngược hẳn lại với bài thơ trên, tuy nói cùng 1 điều, mà Weil phán, và Milosz vinh danh bà, khi lập lại, trong diễn từ Nobel của ông:

Simone Weil mà tôi mang nợ rất nhiều những bài viết của bà, nói: “Khoảng cách là linh hồn của cái đẹp”. Tuy nhiên, đôi khi giữ được khoảng cách là 1 điều bất khả. Tôi là Ðứa bé của Âu châu, như cái tít của 1 trong những bài thơ của tôi thừa nhận, nhưng đó là 1 thừa nhận cay đắng, mỉa mai. Tôi còn là tác giả của một cuốn sách tự thuật mà bản dịch tiếng Tây có cái tít Một Âu châu khác. Không nghi ngờ chi, có tới hai Âu châu, và chuyện xẩy ra là, chúng tôi, cư dân của một Âu châu thứ nhì, bị số phận ra lệnh, phải lặn xuống “trái tim của bóng đen của Thế Kỷ 20”. Tôi sẽ chẳng biết nói thế nào về thơ ca, tổng quát. Tôi phải nói về thơ ca và cuộc đụng độ, hội ngộ, đối đầu, gặp gỡ… của nó, với một số hoàn cảnh kỳ cục, quái dị, về thời gian và nơi chốn…
Czeslaw Milosz

Chính là nhờ đọc đoạn trên đây, mà Gấu “ngộ” ra thời gian đi tù VC của Gấu là quãng đời đẹp nhất, và “khoảng cách là linh hồn của cái đẹp”, cái đẹp ở đây là của những bản nhạc sến mà Gấu chỉ còn có nó để mang theo vô tù.
Cái câu phán hãnh diện của Gấu, linh hồn văn chương Miền Nam trước 1975 ở trong những bản nhạc sến, nhờ đọc đoạn trên mà có được!

 LISTENING FOR THE ORIGINAL: A RETROSPECTIVE FOREWORD 
Lắng nghe nguyên tác: Một lời tựa theo kiểu nhìn lại

This foreword was begun as an introduction to the third volume of selected translations representing the translations I have done over the past thirty years. I soon realized that it should be an attempt to place in perspective my whole lifetime as a translator, and the ideas and ideals of translation itself that have evolved since I began, over sixty years ago, to work at this unfinishable art….

W.S. Merwin

Có hai bài viết về nghiệp dịch, một, của “cái tay” dịch lại Kafka, và một, của W.S. Merwin, nhà thơ nguyệt quế Huê Kỳ, [U.S. Poet Lauerate, from 2010-2011]. Cả hai, mỗi người tới với dịch mỗi khác. Với Merwin, là 1 công việc kéo dài 30 niên, cho tới nay. Với người dịch lại Kafka, thì còn là 1 khám phá ra 1 tình bạn chẳng ai biết đến, 1 người bạn của Kafka, chẳng ai hay, và cùng với người này, là những bài thơ, bài ca. Cả hai bài viết, GCC đều hăm hở muốn dịch cả!

September 16, 2014

Translating a Novel of Sadism

“A Sentimental Novel,” the final published work of the avant-garde novelist and theorist Alain Robbe-Grillet, appeared in France four months before his death, in 2008, and in English translation last spring. The content of the novel contributed to the lag in its translation: “A Sentimental Novel” (reviewed this summer in Briefly Noted) is a compendium of Robbe-Grillet’s sadistic fantasies, which, he said, he had catalogued since adolescence. The work consists of two hundred and thirty-nine numbered paragraphs that form a sort of sadist’s rhapsody about the sexual initiation of a fourteen-year-old girl, Gigi. Gigi’s travails are recounted in exacting detail, against a lushly imagined mise-en-scène, with elaborate furnishings, torture devices, and a proliferation of young companions.

Cuốn tiểu thuyết cuối cùng được xb của Alain Robbe-Grillet, giáo chủ của tiểu thuyết mới, là 1 cuốn tiểu thuyết về sa đích. Ở dưới suối vàng thi sĩ Nguyên Sa chắc là gật gù, khi nghĩ đến cái nick ông ban cho Gấu, tên sa đích văn nghệ!
Vấn nạn ở đây là, có cái gọi là tiểu thuyết mới, ở Việt Nam, mà những kẻ đại diện cho nó, là lũ Gấu & bè bạn? Me-xừ Mít Butor, Hoàng Ngọc Biên, cũng bạn quí 1 thời của GCC, có phát biểu đâu đó, Gấu đọc trên net, không có cái gọi là TTM ở Miền Nam.
Sai.
Chứng cớ, chính là Mít Butor. Văn HNB, đúng là từ Butor mà ra. Bạn thử đọc truyện ngắn HNB, trong số Văn “Mây Mùa Thu” là thấy ngay. Đây là thứ văn phong chú trọng vào cái nhìn, khi miêu tả sự vật, nhưng cố gạt bỏ cảm xúc. MT đã từng gọi, khi lập lại tụi Tẩy, đây là “trường phái của cái nhìn”, école du regard. Tuy nhiên, TTM không chỉ có thế. Những thành viên của nó, mỗi người viết  mỗi cách, và đều có cùng tham vọng, làm khác văn chương đi. Nếu như thế, thì quá đúng, khi áp dụng vào NXH, NQT, HPA!
Có thể nói, TTM là từ Roland Barthes mà ra, khi ông phán, mặc khải từ Kafka, kỹ thuật chính là linh hồn của văn chươnhg: Viết như thế nào mới là vấn đề, how to write.
Không phải Tại sao viết, Viết cho ai, Viết cái gì... như Sartre phán.


Richie & Friends


Thu 2014

*

*
Jennifer @ Paris

Ancient Autumn

Is that foolish youth still sawing
The good branch he's sitting on?
Do the hills wheeze like old men
And the few remaining apples sway?
Can he see the village in the valley
The way a chicken hawk would?

Already smoke rises over the roofs,
The days are getting short and chilly.
Even he must rest from time to time,
So he's lit a long-stemmed pipe
To watch a chimneysweep at work
And a woman pin diapers on the line
And then step behind some bushes,
Hike her skirt so her bare ass shows
While on the common humpbacked men
Roll a barrel of hard cider or beer,
And still beyond, past grazing cattle,
Children play soldier and march in step.

He thinks, if the wind changes direction,
He'll hear them shouting commands,
But it doesn't, so the black horseman
On the cobbled road remains inaudible.
One instant he's coming his way,
In the next he appears to be leaving in a hurry ...
It's such scenes with their air of menace,
That make him muddled in the head.
He's not even aware that he has resumed sawing,
That the big red sun is about to set.

Charles Simic


 Thơ Mỗi Ngày  

Without a Sough of Wind

Against the backdrop
Of a twilight world
In which one has done so little
For one's soul

She hangs a skirt
On the doorknob
Put s a foot on the chair
To lake off a black stocking

And it’s good to have eyes
Just then for the familiar
Large swinging breast
And the cleft of her ass

Before the recital
Of that long day's
Woes and forebodings
In the warm evening

With the drone of insects
On the window screen
And the lit dial of a radio
Providing what light there is

Its sound turned much too low
To make out the words
Of what sounds like
A silly old love song

Charles Simic: New and selected poems

Không một cọng gió

Chống lại cái nền của thế giới chạng vạng/loạng quạng
Trong đó, chẳng ai làm gì được, dù chỉ một tí ti
Cho linh hồn Gấu Cà Chớn

Nàng treo cái áo thun
Lên núm cửa
Để một cẳng lên ghế
Lột cái vớ đen

Lúc này Gấu thoải mái làm sao
Chiêm ngưỡng cái quen thuộc
Cái gì gì, “ta về ta tắm ao ta”, là
Cặp vú bự ơi là bự
Lắc ơi là lư
Ui chao, cái gì gì, như là 1 đường nứt đen đen
Ở chảo của nàng

Trước cuộc trình diễn
Về những nỗi thống khổ và những điềm gở
Của ngày dài
Trong buổi chiều ấm áp

Với tiếng o o của bầy ong
Trên màn kính cửa sổ
Và cái chấm sáng tìm đài của cái la dô
Thì cứ kể như ánh sáng, “thôi thì thôi cũng thế thôi”,
Là thế đó
Âm thanh quá trầm, quá nhỏ
Để bật lên thành lời
Nhưng đúng là 1 bài tình ca của cái tay họ Trịnh cà chớn.

Ba lịch sử [bản dịch mới]

Có, ít ra là ba lịch sử khác nhau, không phải một: lịch sử của sức mạnh, lịch sử của cái đẹp, và lịch sử của khổ đau. Chỉ có hai cái đầu là được lên bảng, ít hoặc nhiều. Chúng có những vì giáo sư, có những cuốn sách, sổ học. Nhưng khổ đau đếch có dấu vết. Nó câm, nói về mặt lịch sử. Một tiếng la, khóc, thét… làm sao…  kéo dài, hà, hà! Cũng đếch có một cái “note symbol” - biểu tượng ghi chú - để đại diện cho nó, và làm cho nó kéo dài.
    Chính vì thế mà thật là khó khăn để mà hiểu yếu tính của Lò Cải Tạo, của Lò Thiêu. Từ cái nhìn của lịch sử của sức mạnh, nó là một thời kỳ không đáng nghiên cứu cặn kẽ. Làm sao so được với đỉnh chao chói lọi, chiến thắng Điện Biên, Điện Biên Phủ Trên Không, thí dụ? Nhưng với lũ Ngụy, vốn thuộc dòng lịch sử của khổ đau, thì nó là cơ bản, là trung tâm, là tất cả - chúng làm đéo gì có 1 thứ lịch sử nào khác, hà, hà!
Đau đớn thay bất hạnh thay, đếch có thứ lịch sử của khổ đau, Những nhà sử học của nghệ thuật cũng đếch thèm quan tâm đến Trại Tù VC, Lò Cải Tạo.
Chứng cớ rõ ràng là lũ VC, chúng đâu có nhớ có 1 thời kỳ chúng dâng vợ con của chúng cho Tẫu, để ăn cướp Miền Nam, nghĩa là để làm ra cái gọi là lịch sử khổ đau cho Lũ Ngụy!
Trại Tù VC ư? Rừng thượng du Bắc Kít, bầu trời lùn tịt, sương trắng Cổng Trời, đám họa sĩ VC chưa từng triển lãm tranh về nó, và họa sỡi Ngụy thì cũng không!

THREE HISTORIES

THERE ARE AT least three different human histories, not one: the history of force, the history of beauty, and the history of suffering. Only the first two are cataloged and recorded, more or less. They have their professors and their textbooks. But suffering leaves no traces. It is mute. That is, mute historically. A scream does not last long, and there is no note symbol to represent it and make it last.
    That is why it is so difficult to understand the essence of Auschwitz. From the point of view of the history of force, it was an episode, undeserving of closer study. How much more interesting was the Battle of Wagram, for example. As the history of suffering, Auschwitz was fundamental. Unfortunately, the history of suffering does not exist. Art historians are not interested in Auschwitz either. Mud, barracks, low skies. Fog and four skinny poplars. Orpheus does not stroll this way. Ophelia doesn't choose to drown here.

Adam Zagajewski: Two Cities

Ba lịch sử [cũ]

Có ít nhất là ba lịch sử con người khác nhau, không phải một. Lịch sử sức mạnh. Lịch sử nhan sắc, và lịch sử của sự đau khổ. Chỉ hai cái đầu là được nghiên cứu, xếp loại, ghi chú, ghi âm, ghi nhận… nhiều hoặc ít. Chúng có những vị giáo sư, những sổ sách. Nhưng đau khổ đếch để lại một vết tích. Nó câm. Nghĩa là, câm, về mặt lịch sử mà nói. Một tiếng la đâu có kéo dài. Và đếch có 1 biểu tượng, sử dụng như là ghi chú, tiểu chú cái con mẹ gì đó, để thay mặt nó, trình nó ra, và làm cho nó có tuổi thọ.
Chính vì thế mà thật là khó khăn khi tìm, hiểu, cái gọi là yếu tính của Lò Thiêu. Nhìn từ quan điểm lịch sử của sức mạnh, thì nó là một thời kỳ, không đáng để bỏ công nghiên cứu, gần hay không gần, xa hay không xa. Cuộc chiến tranh thần thánh đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào, thí dụ, bảnh hơn nhiều, cần nghiên cứu cho ngàn ngàn đời sau.
Nhìn từ lịch sử của khổ đau, Lò Thiêu là cơ bản, là chủ yếu. Nhưng than ôi, làm đếch gì có thứ lịch sử của khổ đau?
Những sử gia của nghệ thuật cũng đếch thèm để ý đến Lò Thiêu. Bùn, trại tù dây kẽm gai, bầu trời lùn tịt. Thềm sương mù lù tà mù, rừng bạch dương trơ xương. Orpheus đâu có đi dạo hướng đó. Ophelia đâu chọn nơi chốn tệ hại như thế để mà trầm mình.

Adam Zagajewski: Two Cities


Vila-Matas @ ML

Kafka: Trước Pháp Luật

Bản dịch tiếng Anh mới nhất

IN FRONT OF THE LAW  

IN FRONT OF the Law stands a doorman. A man from the country comes to this doorman and asks to be admitted to the Law, but the doorman says that he can't allow him to enter. The man reflects on this and then asks if he can assume that he'll be allowed to enter later. "It's possible," says the doorman, "but not now." Since the gate to the Law remains open and the doorman steps to the side, the man bends down to look through the gate into the interior. When the doorman notices this, he laughs and says, "If it tempts you so much, try to get in despite my warning. But know this: I'm powerful, and I'm only the lowliest doorman. In every chamber stands another doorman, each more powerful than the one before. Though powerful myself, the very gaze of the third is more than I can endure." The man from the country hadn't anticipated such difficulties; the Law is supposedly accessible to anyone at any time, he thinks, but now, as he looks at the doorman in his fur coat more carefully, at his large, pointed nose, the long, thick, black Cossack beard, he decides to continue waiting until he receives permission to enter. The doorman gives him a stool and lets him sit down to the side of the door. There he sits for days and years. He makes many attempts to be admitted and wears out the doorman with his pleas. The doorman often subjects him to a series of questions, asks him about his home and many other things, but they're questions posed in a detached way, the sort that great lords pose, and in the end he always repeats that he still can't grant him entry. The man, who had fully equipped himself for his journey, uses everything he has, no matter how valuable, to bribe the doorman. The latter accepts everything but says at the same time: "I'm only accepting this so that you won't think that you've overlooked something." Over the many years the man watches the doorman almost constantly. He forgets about the other doormen, and this first one seems to him to be the only obstacle between him and access to the Law. He curses his bad luck, in the first years recklessly and loudly; later, as he grows old, he continues only to grumble to himself quietly. He becomes like a child, and since in his perennial observations of the doorman he has come to know even the fleas in the collar of his fur coat, he even asks the fleas to help him change the doorman's mind. Finally, his vision becomes weak, and he doesn't know whether it's getting darker around him or his eyes are only deceiving him. But now he recognizes in the darkness a brilliance which radiates inextinguishably from the door of the Law. He doesn't have much longer to live now. As he's near the end, all of his experiences of the entire time culminate in a question that he hasn't yet asked the doorman. Since he can no longer raise his stiffening body, he motions to him. The doorman must bend very low for him since their difference in height has changed much to the latter's disadvantage. "What do you want to know now?" asks the doorman. "You're insatiable." "Everyone strives for the Law," says the man. "How is it that in these many years no one except me has asked to be admitted?" The doorman realizes that the man is already near the end, and to reach his failing ears he roars at him: "No one else could be admitted here because this entrance was for you alone. I'll now go and close it."

Trước Pháp Luật

Trước Pháp Luật có tên gác cửa. Một người nhà quê tới và xin phép vô, nhưng tên gác nói, ta không thể cho phép. Người nhà quê suy nghĩ về vụ này và rồi hỏi liệu lát nữa, có được không. Tên gác nói, “có thể”, nhưng “lúc này thì chưa”. Bởi là vì cửa mở, và tên gác thì đứng né qua 1 bên, cho nên người nhà quê bèn cúi xuống dòm vô bên trong. Tên gác bèn cười và nói, Nếu mi thèm như thế, thì cần gì ta, cứ vô đại đi.

Tay dịch giả này, có bằng tiến sỡi dịch, và những tiểu chú của ông về tại làm sao lại dịch lại Kafka, cực thú, Gấu có scan, và sẽ dịch cùng với truyện ngắn Trước Pháp Luật.

Kết cục thì nó phải như thế đó: Đếch làm sao giải thích được!

Trên TLS, số 7 Sept 2012, GABRIEL JOSIPOVIC điểm 1 số sách mới ra lò về Kafka - vị thầy gối đầu giường của Sến - đưa ra nhận xét, vào cái ngày 23 Tháng Chín này, thì kể như là đúng 100 năm, ngày Kafka viết cái truyện ngắn khủng ơi là khủng, “Sự Xét Xử”. Và có thể nói, vào giờ này, độc giả chúng ta cũng chẳng hiểu ông nhiều hơn, so với những độc giả đầu tiên của ông, và có lẽ sự thể nó phải như thế, nghĩa là nó phải chấm dứt bằng cái sự đếch làm sao hiểu được Kafka!

Ở đây, cũng phải đi 1 đường ghi chú ngoài lề!

1. Cuốn Bếp Lửa của TTT, chấm dứt bằng lá thư của 1 tên Mít, là Tâm, bỏ đất mẹ ra đi, đếch thèm trở về, viết cho cô em bà con, buộc vào quê hương thì phải là ruột thịt, máu mủ. (1)
Quái là, đây cũng là nhận xét của Walter Benjamin, về Kafka: Cái con quái vật, con bọ VC, do Chúa Sẩy Thai mà có đó, nó chỉ trở thành bọ, vào 1 buổi sáng, khi ngủ dậy, ở trong căn nhà của bố mẹ nó.

Điều này giải thích, sự kiện, Nobel Toán Mít phải nhận cái nhà cho bố mẹ xong xuôi, rồi mới bỏ đi được!

2. Cuốn Sinh Nhật của bạn quí của Gấu, khi mới ra lò, Gấu đề nghị, nên đổi tít, là Sinh Nhạt, và còn đề nghị viết bài phê bình điểm sách, “Đi tìm 1 cái mũ đã mất”:
Ui chao, đây đúng là chuyện xẩy ra với tác phẩm của Kafka, theo bài điểm trên như đoạn sau đây cho thấy:

Truyện ngắn mà Brod gọi là "Prometheus", được kiếm thấy trong Sổ Tay Octavo Notebooks, của Kafka, đã được gạch bỏ [crossed out]. Câu kết thúc của truyện: “Giai thoại thường toan tính giải thích cái không thể giải thích; bởi vì dưng không trồi lên sự thực [chữ của TTT, trong Cát Lầy], nó phải lại chấm dứt trong không thể cắt nghĩa được”
[Nguyên văn: "Legend attempts to explain the inexplicable, because it arises from a ground of truth, it must end in the inexplicable”]

Nói rõ hơn, nhân loại không làm sao đọc được Kafka vì có 1 thằng cà chớn Gấu "nào đó", nẫng mẹ mất cái nón đội đầu của ông!
Bạn quí của ông, là Brod, thì cắt mẹ mất chim của Kafka, để biến ông thành Thánh!
Thánh đâu cần chim!

(1)

Thanh,
Không ngờ Thanh còn nhớ đến anh.
Anh cảm động khi đọc thư. Anh tưởng nơi quê hương không còn ai nhớ đến anh nữa. Đôi lúc anh vẫn ân hận rằng anh không buộc với xứ sở một dây liên lạc nào ngoài anh ra. Nguời ta gặp nhau ở ngoài phố rồi quên nhau ngay, thì ở quê hương hay một phương trời nào khác gì nhau.
Một hôm tình cờ anh nghe đài phát thanh và được gặp giọng hát Thanh.
Vẫn giọng ấy. Trở về mái nhà xưa. Anh định viết cho Thanh nhưng anh nghĩ biết đâu, Thanh chẳng đã quên anh rồi như mọi người. Được thư Thanh anh phải cám ơn Thanh nhiều.
Thanh lại sống một mình. Nga đã lấy chồng. Chắc Nga thôi viết văn rồi nhỉ? Bên này anh cũng có người bạn gái là văn sĩ nổi danh. Thanh hát lại là phải, anh đã chẳng nói thế sao? Vợ chồng Minh vẫn mạnh khỏe, được mấy cháu rồi? Hãy nói với Minh lấy tên anh đặt cho một đứa con của Minh để anh được đinh ninh anh còn nhiều liên lạc với quê hương.
Chúng ta là những người sinh ra để đi một mình suốt đời. Thanh hãy can đảm nhận lấy điều ấy. Đi một mình suốt đời khó nhọc đấy chứ. Không có một sự gì ràng buộc ta, thật là bất hạnh.
Những buổi trời lạnh, tự sửa soạn bữa ăn lấy, anh nhớ Thanh hơn hết. Anh chỉ còn có Thanh và chắc Thanh chỉ còn có anh. Hãy cho anh sự tin tưởng khi anh có dịp trở về quê hương, anh đã có sự ràng buộc, ấy là Thanh. Không phải những người bạn. Bạn chưa đủ. Buộc vào quê hương phải là những người cùng máu mủ với mình.
Chúng ta phải tự tạo lấy sự ràng buộc nhau để cùng bám chặt quê hương, nếu không chúng ta sẽ mất trong sự quên lãng.
Anh yêu quê hương vô cùng và anh yêu em vô cùng.
Tâm

Viết xong tại Thủ Dầu Một
vào tháng 10-1956

Đọc cái thư thấy sến ơi là sến.
Nhưng phải như thế, thì mới cân bằng được với cái nội dung của 1 cuốn sách, viết về anh Bắc Kít, Hà Lội, chưa sống đã già, chưa già đã chết, trong Bếp Lửa.


Ghi chú trong ngày

 TRẢ LẠI LỊCH SỬ NHỮNG GÌ CỦA LỊCH SỬ 

Tại sao bầu cử thống nhất đất nước năm 1956 không thành...

 Trước giờ chúng ta thường được thông tin của lề phải nói rằng, tại vì chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm không chấp nhận bầu cử vì sợ sẽ thất cử trước chính quyền VNDCCH của Chủ Tịch Hồ Chí Minh...
 Ta sẽ sơ lược để tìm hiểu nhé. Thời điểm từ năm 1954, là năm ký Hiệp Định Giơnevơ cho đến năm 1956 là năm sẽ phải Tổng tuyển cử thống nhất hai miền, thì như các bạn đã biết là công cuộc Cải Cách Ruộng Đất đang "Long Trời Lở Đất" trên khắp lãnh thổ miền Bắc của VNDCCH. Những cuộc di cư của hàng trăm ngàn đồng bào Công Giáo vào Nam vẫn tiếp diễn ,khiến cho các vùng Công Giáo truyền thống Bùi Chu, Phát Diệm...vắng tanh, chỉ còn các cha ở lại để giữ tài sản Nhà Thờ. Vùng tập kết tự do cho dân di cư ở Hải Phòng vẫn hoạt động trong thời hạn 300 ngày...Ước tính có khoảng 900.000 ngàn đã rời bỏ quê hương ở Miền Bắc để di cư vào Miền Nam. Số người di cư này, vốn có sự căm thù hiển nhiên với CS, cộng với các Giáo Phái Cao Đài, Hòa Hảo...đều có mối thù không khoan nhượng với CS. Và hơn tất cả là tuyệt đại đa số người Miền Nam, miền Trung đều không ủng hộ CS. Và thực tế trong cuộc kháng chiến 9 năm thì Việt Minh không thành công ở miền Nam và miền Trung như ở Miền Bắc được..
 Ngược lại chỉ có khoảng 160.000 ngàn người vừa dân vừa quân đội Việt Minh đã rời bỏ quê hương để tập kết ra Bắc. Bối cảnh thì như vậy, và với truyền thống thắng cử của nền dân chủ trước nền độc đảng thì hẳn là ngược đời nếu cho rằng chính quyền Ngô Đình Diệm không dám Tổng tuyển cử vì sợ...thất cử.
Việc từ chối Tổng tuyển cử thống nhất là sự thật chứ không phải là bịa đặt của chính quyền CS. Tất cả dường như bắt đầu từ một con người. Nhà chí sĩ Ngô Đình Diệm. Và với lý do là không tin có sự bầu cử công bằng, chứ không phải là sợ thất cử.
Khi Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ, phải chấp nhận ký hiệp định Genever 1954, thì chỉ có 7/9 nước tham gia ký Hiệp Định này. Và hai nước không ký chính là Hoa Kỳ và Quốc Gia VN, tên của QG mà lúc đó còn do Bảo Đại làm quốc trưởng và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Mặc cho Pháp thúc ép, và ngay cả QT Bảo Đại thúc giục nhưng TTg Diệm vẫn cương quyết không chấp nhận ký, vì lý do chia cắt đất nước...Ông chỉ đạo cho ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn QGVN dứt khoát không ký với một tuyên bố long trọng :
 "Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam. Hiệp định đã nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của (Quốc gia) Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam... chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở."
Và khi cái Hiệp Định tai họa đó đã ký thì QG VN và Hoa Kỳ đã không ký. Ông ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã bật khóc...TTg Ngô Đình Diệm tuyên bố treo cờ rủ vào ngày ký kết hiệp định vì biết trước sự chia cắt đất nước...Và ông đã có một câu nói nổi tiếng :
 "Phải thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ"
Và khi năm bầu cử 1956 đến, khi đó ông đã là Tổng Thống của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, ông đã bác bỏ mọi khả năng bầu cử hòa bình để thống nhất hai miền. Vì không tin rằng sẽ có một cuộc bầu cử hợp lệ, tự do và công bằng. Chính phủ Việt Nam DCCH lại được nước, liên tiếp đưa ra các đề nghị bầu cử. Nhưng chính quyền NĐD không trả lời...Và thế là chiến tranh giữa hai miền nổ ra sau đó đưa đến bao cảnh tan nát điêu linh. Và Chính quyền VNDCCH cũng lên tiếng tố cáo chính quyền NĐD không chịu bầu cử thì cũng không sai...
Nhưng trong vòng thân tình thì ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã cười ruồi khi trả lời phóng viên nước ngoài rằng : "Nếu có bầu cử thì dù chúng tôi có nhắm mắt lại cho họ (CS) gian lận bầu cử thì chúng tôi vẫn thắng lớn"

 MTA


A Defense of Ardor

Writing in Polish


Tàn Ngày
Chúng ta viết cho ai?
hay là
Cái kệ sách giả dụ

Note Bài này, GCC mới kiếm thấy, nhưng lại không biết ai là tác giả. Mò mãi mới ra: Italo Calvino.
Bài tuyệt hay. Nó giải thích được cái sự tha hóa của đám nhà văn Mít, chê tiếng Mít, viết bằng tiếng mũi lõ: Đếch có mảnh đất nào an toàn cả. Tác phẩm, chính nó, là 1 trận địa.
Đám khốn này, biết tỏng ra là đếch ai thèm đọc chúng, trừ đám bạn bè quanh quẩn cũng mất gốc như chúng.

Miêu sinh
Đệ nghe thế đủ rồi, cái thứ văn chương ấy chỉ nên đem về đầu giường đọc cho vợ nghe thôi. Ở chỗ đông người nhai nhải mãi chán lắm.

The Tiger Guest
There is nothing more characteristic of a country than its imaginations.


KL vs VC

Thời Sự Hình