SN 2014

Thu 2014

Robin William Hommage


A small, straw basket
Full of medals
From good old wars
No one recalls.

I flipped one over
To feel the pin
That once pierced
The hero's swelling chest.

Charles Simic: The Little Something

Tại Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Thành Hồ

Một cái giỏ rơm nhỏ
Đầy những huy chương
Của hai cuộc chiến thần thánh
Chống hai tên thực dân đầu sỏ, cũ và mới
Chẳng tên Mít, thứ thiệt nào, còn nhớ!

Gấu lật lật 1 cái huy chương Thành Đồng Tổ Quốc
Cảm nhận mũi đinh ghim
Đã 1 thời cắm vô bộ ngực căng phồng
Của Anh hùng Núp
Của nhà văn truyền kỳ Đất Nước Đứng Lên
Rồi Đất Nước Nằm Xuống
Rồi Đất Nước Đi Luôn!

Hà, hà!

Junk Store: Tiệm bán ba đồ tạp nhạp, phế thải, đồng nát, sắt vụn….


Trong bài “Dẫn nhập” cho lần tái bản tuyển tập thơ ”Ngựa sáu chân”, Simic cho biết, cái chuyện ông dịch thơ thì thật là đơn giản. Nó bắt đầu khi vớ được 1 bài thơ ngoại, được quá, thì bèn chơi luôn, vì nghĩ rằng độc giả Mẽo của ông chắc là sẽ đã thèm, nếu được đọc nó, và sẽ thật là bất công, nếu không được.
Trước  cái thảm họa thơ Mít như bây giờ - như bao giờ, đúng hơn - thì lại càng phải dịch thơ, bởi là vì, thơ dịch là liều thuốc cải tử hoàn sinh cho nó.
Gấu thực sự ngạc nhiên tại làm sao thơ dịch rất không được Mít đọc.
Cái số phận dân Serbia lại càng khiến chúng ta đọc thơ của họ. Có 1 cái gì đó, chung chạ, giữa hai số phận, của hai xứ sở, qua bài dẫn nhập của Simic, mà TV sẽ giới thiệu toàn bài.
Nói rõ ra thì như thế này, nếu 1 tên Việt Kiều nhớ nhà, thì không phải cái quê hương như là bây giờ hiện lên trong trí tưởng tượng của nó, nếu nó là 1 tên gốc Ngụy.

Death Sentences

I was born too late and I am much too old,
My dear Hamlet,
To be your pimply Ophelia, 

To let my hair like flattened wheat
Spread over the dark waters
And upset the floating water lilies
With my floating eyes, 

To glide fishlike between fishes,
Sink to the bottom like a dead seashell,
Burrow in sand next to shipwrecks oflove,
I, the amphora, entangled in seaweeds. 

1'd rather you take off my dress,
Let it fall at my feet like aspen leaves
The wind shakes without permission
As if there's nothing to it. 

1'd rather have that death sentence:
Eternity of your arms around my neck.

Án Tử

Ta sinh ra quá trễ, và ta lại quá già
Ðể làm nàng Ophelia
đầy mụn trứng cá của mi,
Tên hoàng tử thân thương vừa Hâm lại vừa Liệt của ta ơi!

Ðể tóc ta như lúa mì
Trải dài trên mặt nước tối
Và làm bực mình những bông hoa kèn
Với cặp mắt trôi lềnh bềnh của ta

Ðể lướt như cá giữa đám cá
Chìm xuống đáy biển như cái vỏ
Của m
ột con sò chết
Lặn lội trong cát kế bên những mảnh vỡ của chiếc thuyền tình
Ta, chiếc bình hai quai, bị quấn quýt giữa mớ rong biển

Ta thà để cho mi lột quần áo của ta ra
Và chúng rớt xuống chân ta như những chiếc lá dương
Và gió, vô lễ, chẳng thèm xin phép ta
Nghịch ngợm với chúng
Như thể chẳng có chi là quan trọng

Ta thà có bản án tử, này:
Thiên thu, vĩnh viễn
Vòng tay của mi vòng quanh cổ ta.



Lalic started publishing in 1952 and his first book, A Child Once came out in 1955. Since then there have been many more books of poetry, all highly regarded) which have been translated into many languages, including English. Most of the poems here are taken from Roll Call of Mirrors, a selection of Lalic's poems published in 1988. He translated Holderlin, Whitman, Dickinson, and many other American poets.

Love in July


Open this evening like a letter,
Its handwriting spotted with blood of birds
Devoured in the bright lava of the afternoon. 

Open this evening like a rose,
1hat dust, that bronze, and that sweat on your skin,
1hat constellation that breathes.

Open this evening like a letter.
I'm hidden in its handwriting
Like a shadow in the still leaves of a cherry tree,
Or like noon in our blood.

Comes night grown over with rain and cherries,
And the wavering diamonds of sudden freshness.
Open this evening like a letter. 

The date is illegible, time without beginning,
But the signature is clear:
                                    I love.


The taste of the storm in the stalk of the invisible rose
1hat you twirl absentmindedly between your fingers.
Summer golden and dark. 

But there's no wind, and the rain glitters
On your words like phosphorus
On the seams of the water.
Summer golden and dark.

The lightning that travels slower than memory
Will never again give us light in this place.

That lightning still buried in snows and flowers
In its journey around the year.
The taste of rain on your lips,
Summer golden and dark.

Bai Hua


Fiona Sze-Lorrain:
In your most recent sequenced poems - such as "The Book of Tibet," "Gift" and "Notes from the Late Qing'; - that hybridize prose with verse, as well as different voices, musicalities and narratives, you employ various linguistic registers. How do you relate to such a multi-layered poetic structure, its emotional responses and interpretation?
Bai Hua:
When I was young, I had already come up with this poetic ideal of "weaving prose with poetry," that is, "all mingled in one," mingling all linguistic genres into one melting pot. When I began to write "An Immortal Companion to Watercolor" and "Historical Annals," I started to find ways to hybridize the novel, prose, theatre, and even journalism with poetry, and to achieve this intertextuality with skill and ease. Of course, such techniques are not original. Experiments with sound, voice and presence define much of contemporary and avant-garde poetics. As to how I would blend all of these voices into a melting pot, I, too, don't quite know. I just do so with a little common sense, and let the technique function as it best can.

Do you see a poem as an experience or as an act?
One can't be separated from the other. "Poetry is experience" - this is a universally-known dictum from the German poet, Rilke. Even Nabokov who detested Rilke, also said, "Poetry is a distant past." But poetry must also be an act - in a modern sense, and even more so in a post-modern context. If I must choose between the two of them, an old poet like me would go for the former.

The One Who Disappeared

By Charles Simic

Now that it’s warm to sit on the porch at night
Someone happened to remember a neighbor,
Though it had been more than thirty years

Since she went for a little walk after dinner

And never came back to her husband and children.

No one present could recall much about her,

Except how she’d smile and grow thoughtful

All of a sudden and would not say what about,

When asked, as if she already carried a secret,

Or was heartbroken that she didn’t have one.

Note: Bài thơ này, Gấu nhớ là đã chôm, và đã dịch trên TV rồi, nhưng không làm sao kiếm ra bản tiếng Mít, chán thế!
Post lại, để mò sau, hà hà!

Trong số báo có bài thơ, Gấu tình cờ cầm lên, trong khi dọn dẹp mớ sách báo, còn bài viết, về cựu binh tìm ra giọng của mình, về thứ văn học chiến tranh, viết bởi chính những kẻ cầm súng. Gấu đọc lại số báo là vì bài viết này. Tác giả là George Packer. Ông phát giác, cái tinh thần hiện đại của văn học - chủ yếu là tiếu lâm, cà chớn, hài, irony, Kundera cũng chỉ ra điều này, trong Những Di Chúc Bị Phản Bội - là do những kẻ đếch cầm súng phịa ra:                                                                                                                

"Every war is ironic because every war is worse than expected," Paul Fussell wrote in 'The Great War and Modern Memory," his classic study of the English literature of the First World War. "But the Great War was more ironic than any before or since." The ancient verities of honor and glory were still standing in 1914 when England's soldier-poets marched off to fight in France. Those young men became modem through the experience of trench warfare, if not in the forms they used to describe it. It was Yeats, Pound, Eliot, Joyce, and Lawrence who invented literary modernism while sitting out the war. Robert Graves, Siegfried Sassoon, Edmund Blunden, Isaac Rosenberg, and Wilfred Owen-who all fought in the trenches and, in the last two cases, died there-remained tied to the conventions of the nineteenth century while trying to convey the unprecedented horror of industrial warfare, a condition of existence so murderous and absurd that a romantic or heroic attitude became impossible. The essence of modern understanding is irony, Fussell argued, and it was born on the Western Front.

Bài viết này, tuyệt lắm. The essence of modern understanding is irony, Fussell argued, and it was born on the Western Front: Cái yếu tính của sự hiểu biết hiện đại là... cà chớn!

Gửi Osip Mandelstam

Những người sống trong khùng điên
Họ còn sợ chi?
Sợ sự thuần khiết của trần truồng?
Không, sợ tiếng động
Cái tiếng động đá văng suy tư 

Nhà thơ trong giấc mộng tôi
Xuyên qua phương bắc nặng nề
Xuyên qua ấu thơ với ảo giác yếu đuối
Người đã buộc lòng đi đến cõi nhân gian 

Hôm nay, một ngày tôi nhẫn chịu sự kỳ cục của ông
Hôm nay, một ngày tôi nhẫn chịu sự ngây thơ của ông
Hôm nay, tôi làm nổi trội bi kịch của ông 

Im lặng đang chỉ rõ
Áng thơ đang đập nhịp, đang tiếc thương
Lưỡi rảnh rang nhuộm lên ngôn từ
Đây cũng là một ngày nào đó trong trí nhớ tôi 

Trâu bò đã ngưng cày bừa
Lưỡi hái đã từ bỏ mạng vong
Gió đang cưỡng lại hơi thở
A, lạnh lẽo, mi đang tranh thủ vận chuyển mùa đông 

Moscow hồi hộp
Mi siết chặt cây đại phong cầm động lòng người
Chào đón đầy trời hoa tuyết, ngẩng đầu chờ trông
Kìa, coi, nhà thơ đến rồi 

Một vong hồn đáng khóc thương nhất trong đám thi sĩ chúng ta
Ông đang bước tới phía tôi 

Tôi bắt đầu thuộc về nơi này
Tôi bắt đầu chui vô hình hài ông
Phối dựng lại thiên đường tàn khốc của ông
Tôi, một đứa trẻ không lớn nổi của xứ sở khác
Trước tất cả điều này
Những người bên đường chỉ có thể càng lẻ loi hơn.

Bai Hua

Bản của Dã Viên, từ nguyên tác

Là gì, kẻ sống trong nỗi sợ khùng điên?
Sự trinh khiết của một xác thân trần trụi?
Không! Những tiếng nói –
Những tiếng nói thoát khỏi tư tưởng

Nhà thơ trong mộng của tôi
Đi qua Xứ Bắc nặng nề
Tuổi thơ hão huyền yếu đuối
Kẻ buộc lòng đến với trần gian này

Hôm nay tôi sẽ cưu mang tính lập dị của ông
Vác lên vai sự ngây thơ của ông
Đẩy cao lên bi kịch của ông

Im lặng chỉ cho thấy -
Trái tim thơ đang đập, đang nức nở
Một cái lưỡi ngây thơ nhuộm ngôn từ

Đây cũng là ngày đáng nhớ

Trâu bò ngưng cày bừa
Những lưỡi hái từ bỏ công việc nặng nhọc
Gió kìm hơi thở của nó
Ôi lạnh lẽo, mi hối hả chuyển mùa đông đi xa

Moscow khắc khoải
Mi xiết chặt những cây đàn organs nhức nhối
Chờ đợi trước trời tuyết
A, coi kìa, ông ta đây rồi
Một hồn ma bi thương nhất giữa những nhà thơ chúng ta
Ông ta đang bước tới tôi

Tôi bắt đầu thuộc về đây
Tôi đi vô thân thể của ông
Thay thế thiên đàng độc ác của ông
Tôi - một đứa trẻ ngoại nhân chẳng bao giờ trưởng thành
Truớc những đám đông bên đường này
Chỉ cảm thấy càng thêm cô độc

NQT dịch từ bản tiếng Anh

Note: Đầu tháng, lòi ra bài này, như để chào mừng 2/9:

Số Granta về Mẹ, có bài viết của Ryszard Kapuscinski, When there is talk of 1945 [Nói về năm 1945 khi nào nhỉ?], thật là tuyệt, với Mít, vì 1945 đúng là cái năm khốn khổ khốn nạn của nó.

Ðây là 1 hồi ức về tuổi thơ của ông, lần đầu nghe bom nổ, đâu biết bom là gì, chạy đi coi, bị mẹ giữ lại, ôm chặt vào lòng, và thì thào, cũng một điều đứa bé không làm sao hiểu nổi: “Chết ở đó đó, con ơi, There’s death over there, child”.
Những năm tháng chiến tranh trùng hợp với ấu thời, và rồi, với những năm đầu của tuổi trưởng thành, của tư duy thuần lý, của ý thức. Thành thử với ông, chiến tranh, không phải hòa bình, mới là lẽ tự nhiên ở đời, the natural state. Và khi mà bom ngưng nổ, súng ngưng bắn, khi tất cả im lặng, ông sững sờ. Ông nghĩ những nguời lớn tuổi, khi đụng đầu với cái im lặng đó, thì bèn nói, địa ngục chấm dứt, hòa bình trở lại. Nhưng tôi không làm sao nhớ lại được hòa bình. Tôi quá trẻ khi đó. Vào lúc chiến tranh chấm dứt, tôi chỉ biết địa ngục.

Một trong những nhà văn của thời của ông, Boleslaw Micinski, viết, về những năm đó: Chiến tranh không chỉ làm méo mó linh hồn, the soul, của những kẻ xâm lăng, mà còn tẩm độc nó, với thù hận, và do đó, chiến tranh còn làm biến dạng những linh hồn của những kẻ cố gắng chống lại những kẻ xâm lăng”. Và rồi ông viết thêm: “Ðó là lý do tại sao tôi thù chủ nghĩa toàn trị, bởi vì nó dạy tôi thù hận”.

Trong suốt cuộc chiến, hình như Bắc Kít chưa từng quên hai chữ thù hận. Nhưng hết cuộc chiến, vẫn không bao giờ quên cả. Thành thử, cái còn lại muôn đời của cuộc chiến Mít, theo GNV, chỉ là thù hận.
Một người như Kỳ Râu Kẽm, “bó thân về với triều đình”, như thế, mà đâu có yên thân. Chuyện ông bị đám hải ngoại chửi thì còn có lý, vì rõ là phản bội họ. Nhưng khốn nạn nhất  là lũ VC chiến thắng, chúng vẫn giở cái giọng khốn nạn ra, thôi tha cho tên tội đồ. Cái “gì gì” đứa con hư đã trở về nhà.

1939-2014: Die in Danzig - Live in Donetsk

Hôm qua Danzig, hôm nay Donetsk

Note: Cái tít tiếng Anh, theo Gấu, thú hơn, Chết ở Danzig - Sống ở Donetsk

V/v này, Putin cảnh cáo: Tốt nhất, là đừng có cà chớn với chúng ông, "It's best not to mess with us," Putin says. “Cám ơn Chúa, không thằng nào khùng dám đương đầu với Nga, khi muốn đẩy cuộc xung đột tới mức khủng, trên một bình diện rộng. Tao muốn nhắc nhở lũ chúng mi, Nga là 1 đại cường quốc về nguyên tử dẫn đầu thế giới đấy nhe!” [Toronto Star]


Ghi Ngày


Nhiều chi tiết lịch sử đươc ghi lại mà chính sử sẽ bỏ qua, trong đó có chuyện Lê Duẩn “trình bày về đề cương về vấn đề con người” riêng cho triết gia Trần Đức Thảo nghe (trang 435-441) và khi xin Giaó sư Thảo có ý kiến… thì:
“Ngơ ngác một lát, Thảo nói: – Tôi không hiểu gì cả.”
Thế là, Lê Duẩn vòng ra sau GS Thảo, vòng tay ôm GS Thảo nhấc lên, giộng xuống đất mấy cái cho hả giận… rồi bỏ vào trong nhà.
Sau đó, GS Trần Đức Thảo kể lại với Trần Đĩnh, Duẩn chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác… Rồi Trần Đức Thảo thì thầm vào tai Trần Đĩnh: “Làm sao Duẩn lại Mác-xít được?”

Nguồn net

Thú thực đọc đoạn trên, GCC thấy...  buồn cười quá. Như đọc truyện tiếu lâm, rửa bướm như rửa rau, chờ phục vụ, của đám bướm Bắc Kít, ở Paris, viết văn bằng tiếng Tẩy!

Trần Đức Thảo là 1 nhà Mác Học, đã từng cà khịa với Sartre, hai bên đưa nhau ra tòa, toà chưa xử thì bỏ về xứ Mít phục vụ CM, Bác Hồ phán, chú chỉ giỏi lý thuyết, bây giờ phải giỏi cả “thực hành”, bằng cách làm thằng bồi cho nhân dân!
Cỡ như ông, mà “mặc khải”, về cái chuyện Duẩn đéo biết gì Mác Xít?

Một thằng cà chớn như Gấu thì cũng biết tỏng ra rằng thì là, không có lấy 1 tên Mít VC nào biết gì về Mác xít.
Chủ nghĩa Mác đâu có dễ, nếu đúng thứ thiệt, ở những nhà Mác Học, thứ thiệt, như Lukacs, Henri Lefebvre, hay Trần Đức Thảo.

Viết lách như thế mà làm ồn lên, Đèn Kù!
Đèn chọt lét mới đúng.
Lũ bộ lạc Cờ Lăng này, cứ ngửi thấy mùi tiền là nhào dzô, chính chúng cũng đâu biết Mác xít là cái đéo gì!

Hà, hà!

Ui chao, Gấu Cà Chớn, lại nhớ những ngày mới lớn, ở Xề Gòn, vô thư viện Gia Long, mượn Biện Chứng Pháp Duy Vật, của TDT, nắn nót chép từng dòng chữ Tây, đếch hiểu lấy 1 dòng, vô cuốn tập, về tụng, như tụng Kinh Thánh!

KL vs VC


GCC đã tính không viết tiếp về những kỷ niệm nghe nhạc Sến ở trong tù VC, trong có nhạc TCS, nhưng gặp cú này, không làm sao hiểu nổi.
TCS đã viết cái "di chúc không thể bị phản bội" này, vào…  lúc nào?
Hà, hà!
Ai nảy ra cái ý định viết di chúc này?
Nên nhớ, đây là cặp tình nhân lý tưởng, của cả 1 thời, của đời đời, không thể có mùi tiền trong tình yêu của họ.
Bất giác lại nhớ đến BHD. Em phán về GCC, mi không làm nổi cái chuyện đó đâu, khi nói về boyfriend, bạn cùng học Y Khoa, cứ mỗi lần Sài Gòn dục dịch đảo chính, là khệ nệ vác mấy bao gạo đến nhà ông bố vợ tương lai. 
Theo nghĩa đó, thì TCS “cũng” không thể “nghĩ ra được” cái cú viết di chúc!
Bất giác lại nhớ đến nhà văn Mặc Thu, bạn của ông anh Nguyễn Hoạt.
Ông có cái truyện ngắn, GCC đọc, hồi mới lớn, không làm sao hiểu nổi. Một anh chàng quen 1 cô nàng, và 1 bữa đó, đưa cô nàng đi chơi, qua 1 cửa tiệm, thấy bầy 1 cái áo dài đẹp quá, em nói, anh mua cho em đi. Anh chàng bèn ngỡ ngàng nhìn em, và bỏ ra về!

Cái tít của cái di chúc, cũng thú
HCM xì ty!

GCC chưa bao giờ sử dụng cái tít đó!

GCC's Novel

Kỷ niệm với nhà thơ. 

« II existe une nostalgie sans rapport avec l'Histoire, que nous ressentons tous, la mémoire émotionnelle d'un temps où nous étions innocents. »
Kazuo Ishiguro: L'âge de la nostalgie.
Có một thứ hoài nhớ chẳng mắc mớ gì tới Lịch Sử, mà tất cả chúng ta đều cảm thấy.

Vào cái thời ngốc nghếch đó, Sài Gòn còn có xe thổ mộ, xe buýt vàng, nhưng thường thường, Gấu sử dụng xe lô ca chân, đi từ hẻm Đội Có lên Ngã Tư Phú Nhuận, rồi theo con đường bi giờ kêu là Phan Đăng Lưu [Chi Lăng, hay Võ Tánh, ngày xưa?] qua tới hẻm Đỗ Thành Nhân, Xóm Gà, phía sau Tòa Bố Gia Định. Gặp bạn, lẽ tất nhiên! Và được bạn dẫn đi ăn phở, lẽ tất nhiên!