*

Nguyễn Quốc Trụ

Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975 công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định cư năm 1994
Canada

Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Trang Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và chuyển về những bài viết liên quan.
*
Một khi kiếm, không thấy trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang có đánh số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu trang Tin Văn.

Email

Nhìn lại những trang
Tin Văn cũ
  5

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free]



Last Page

SN-GCC, 2015

MY WHOLE LIFE

J.L. Borges 

Here once again the memorable lips, unique and like yours.
I am this groping intensity that is a soul.
I have got near to happiness and have stood in the shadow
        of suffering.
I have crossed the sea.
I have known many lands; I have seen one woman and two
        or three men.
I have loved a girl who was fair and proud, with a Spanish
        quietness.
I have seen the city's edge, an endless sprawl where the sun
        goes down tirelessly, over and over.
I have relished many words.
I believe deeply that this is all and that I will neither see
        nor accomplish new things,
I believe that my days and my nights, in their poverty and
        their riches, are the equal of God's and of all men's.

[W. S. Merwin]

MA VIE ENTIÈRE

Me voici encore, les lèvres mémorables, unique et semblable à vous.
J'ai persévéré dans l'à-peu-près du bonheur et dans l'intimité de la peine.
J'ai traversé la mer.
J'ai connu bien des pays; j'ai vu une femme et deux ou
trois hommes.
J'ai aimé une enfant altière et blanche et d'une hispanique
quiétude.
J'ai vu d'infinies banlieues ou s'accomplit sans s'assouvir
une immortalité de couchants.
J'ai gouté à de nombreux mots.
Je crois profondément que c'est tout et que je ne verrai ni
ne ferai de nouvelles choses.
Je crois que mes journées et mes nuits
égalent en pauvreté comme en richesse celles de Dieu et
celles de tous les hommes.

[Ibarra]

Trọn đời Gấu

Lại là tôi, ở đây, đôi môi gợi nhớ, độc nhất và như của em
Đắm đuối nơi “xém một tí” hạnh phúc, và, trong bóng của sự đau khổ
Tôi đi hết biển [đ
ếch thấy xứ Mít]
Tôi biết nhiều xứ sở; tôi nhìn thấy 1 người đàn bà, và hai hoặc ba người đàn ông
Tôi yêu một cô gái kiêu sa, trầm lắng Tây Ban Nha
Tôi đã nhìn thấy mép bờ thành phố,
một cõi bao la trải dài, nơi mặt trời lặn, lặn hoài,
không mệt mỏi.
Tôi nếm đi nếm lại rất nhiều từ
Tôi nghĩ như vậy là quá đủ, chẳng cần thêm gì nữa.  
Tôi tin tưởng, những ngày, những đêm của tôi, trong cái sự khốn cùng cũng như giầu sang của chúng,
thì chẳng thua gì, của Thượng Đế, và của tất cả mọi người.


Eternities

A child lifted in his mother's arms to see a parade
And that old man throwing breadcrumbs

To the pigeons crowding around his feet in the park,
Could they be the same person?

The blind woman who may know the answer recalls
Seeing a ship as big as a city block

Glide one night all lit up past her kitchen window
On its way to the dark and stormy Atlantic.

Charles Simic

Granta: Summer 2013: Travel

Vĩnh Cửu

Đứa bé níu tay mẹ, cố ngước nhìn đám rước ngày 30 Tháng Tư 1975
Ba muơi năm mới có ngày hôm nay
Vui sao nước mắt lại trào.

Và cái tay già khằn, vừa lùn vừa lé, đang ném những mẩu bánh mì cho đàn bồ câu
quanh quẩn dưới chân anh già ở 1 công viên Toronto, Canada
Phải chăng là cùng 1 người?

Người đàn bà mù có thể có câu trả lời
Nhớ lại
Đã có 1 lần nhìn thấy 1 con tầu to bằng cả 1 góc biển Đông,
Chạy suốt mảnh đất hình chữ S

Đưa bà và hai đứa con đến bến cảng Xề Gòn
Trong 1 đêm tối thui, bão tố đầy trời.

*

Hôm nay tao gặp Hàm [đeo kính] và Thịnh [áo trắng], nghe Thịnh nói sinh nhật mày cách nay một, hai ngày gì đó. Gởi lời chúc mừng SN trễ tới mày với lời chúc sức khỏe
Lãng

Note: Ba ông bạn học, thời trung học.

Tks all of U. Noel sẽ qua thăm. Take Care. NQT

Nhân đây, xin mấy bạn - SN/GCC thường vẫn mail, chúc - Gấu cầu mong mấy bạn OK, an toàn như xa lộ Biên Hòa ngày nào, hà, hà!


Thơ Mỗi Ngày


The Accomplice

They crucify me. I have to be the cross, the nails.
They hand me the cup. I have to be the hemlock.
They trick me. I have to be the lie.
They burn me alive. I have to be that hell.
I have to praise and thank every instant of time.
My food is all things.
The precise weight of the universe. The humiliation, the rejoicing.
I have to justify what wounds me.
My fortune or misfortune does not matter.
I am the poet.
-H.R.

Kẻ đồng lõa

Chúng đóng đinh thập giá tôi. Tôi phải là cây thập tự, những cái đinh.
Chúng đưa tôi cái ly. Tôi phải là thuốc độc
Chúng đánh lừa tôi. Tôi phải là lời dối trá
Chúng thiêu sống tôi. Tôi phải là cái địa ngục đó.
Tôi phải vinh danh, xoa đầu chúng, và lúc nào cũng phải cám ơn chúng lia chia.
Thức ăn của tôi là mọi thứ, mọi điều.
Sức nặng đích thực của vũ trụ. Sự lăng nhục. Niềm vui mừng.
Tôi phải xác minh điều làm tôi thương tổn.
May mắn, hay bất hạnh của tôi chẳng là cái chó gì ở đây.
Tôi là thi sĩ
*

«Ne pas vivre plus qu'on ne peut se souvenir »

Đừng sống quá cái sức nhớ của mi ? Sống tới đâu, nhớ tới đó. Sống tới đâu, đọc tới đó, sống tới đâu khổ tới đó….

Hà, hà ! 

Bất giác lại nhớ Mai Thảo, và một lần ngồi Quán Chùa. Ông nhắc tới TTT, và nói, hắn ta nói, mi cầm một cây lao, quay người lại, và phóng về quá khứ. Cây lao cắm tới chỗ nào, là hồi nhớ của mi tới đó !
Sau đó, có lần ngồi với ông anh, nhân nhắc tới bạo động trong thơ của ông, Gấu bèn nhớ tới giai thoại trên, bèn kể. Ông anh chắc là cũng thấy thú, bèn xì ra 1 kỷ niệm, 1 lần dậy học, ở cuối lớp có 1 tay học trò chỉ lo dỡn, ông bực quá, bèn vo cái khăn lau bảng thành 1 cục, và thẳng tay ném tới anh học trò, rồi quát, mang nó lên đây.
Quả bóng bay tới chỗ anh học trò, anh cúi xuống nhặt, líu ríu mang lên cho ông Thầy.

Borges gần như chưa hề đọc trọn, dù chỉ 1 cuốn sách. Khi ông rời chức vụ giám đốc thư viện quốc gia ở Buenos Aires vào năm 1973, ông bèn rũ sạch áo xống, chỉ đem theo cùng với ông, con chim ‘của ông’, để lại hàng ngàn tác phẩm ‘của ông’. Hai nhân viên đã tìm lại được chúng, và đi 1 đường nghiên cứu, và sau đó, tất nhiên, xb, với nhan đề như trên, Tớ, « Borges đã đọc sách như thế đó ».

Cái vụ ‘rũ sạch áo xống’, là có lý do chẳng đẹp của nó, nhưng thôi, bỏ qua, chỉ nói đến phần « sáng và đẹp » của tác phẩm, qua bài giới thiệu trên.
*

Trong bài viết trên, có 1 ý thật tuyệt và được coi là một tuyệt chiêu của Borges, trong cái gọi là chiến lược đọc của ông: Người ta có thể đọc «cả 1 thư viện» của thế gian, nhưng vẫn là 1 tên vô học. Nhưng nếu chỉ vô tư ‘chơi’ một, hoặc hai câu, mà thôi, và thế là thành 1 tay uyên bác. (1)

Tuyệt !

GNV có lần được 1 độc giả, trên 1 blog [không phải TV] khen, đọc hết cõi văn Tây !
Đa tạ, nhưng không phải vậy.
GNV này, nếu nói về đọc văn người, Ta hay Tây, thì, như TTT viết về nhà văn nhà thơ Mít, "hết thời thanh xuân là... thôi", cái đọc của Gấu chấm dứt, sau khi VC ăn cướp được Miền Nam!
Muốn đọc nữa, cũng chịu thua!
Cặn kẽ hơn, nó chấm dứt trước đó, với Camus, và Faulkner.

Từ khi ra hải ngoại, Gấu chưa hề có diễm phúc được đọc, hay đọc được, chỉ 1 tác phẩm văn chương, do trúng 1 cú rìu phá băng của… Steiner, và vì cú đó, khám phá ra Lò Thiêu, rồi bị 1 đòn hồi mã thương, tức cú đánh quật ngược lại, và nhờ cú này, khám phá ra Lò Cải Tạo.
Bị trúng hai búa khủng khiếp như thế, không bị THNM, là nhờ... BHD.

Một độc giả TV đã nhận ra điều này, khi phán, ngoài những trang về BHD, còn lại là đen thui !

Chỉ chừng 1 năm nay, GNV mới lại có lại được cái thú đọc văn, và như để đền bù, ông Trời còn cho phép Gấu làm được tí thơ, và đọc được Thơ!
Cám ơn ông ta 1 phát!

&

  (1)
Borges đọc sách như thế đó

« On pourrait lire (si l'on vivait assez longtemps) tous les livres du British Museum et rester cependant une personne franchement illettrée et sans instruction; mais si on lisait dix pages d'un bon livre, mot à mot - c'est-à-dire avec une véritable acuité -, on serait une personne instruite. L'unique différence entre une personne instruite et une autre qui ne l'est pas tient à cette acuité. »

Happy birthday to Martin Amis

Celebrate with John Banville's review of ‘House of Meetings’

Here is Joseph de Maistre, jurist, philosopher, and grand reactionary, in exile in St. Petersburg in the first part of the nineteenth century, contemplating the figure of the Executioner.
nybooks.com

Happy birthday Jorge Luis Borges

People now only think about whether something is advantageous. They think as if the future doesn’t exist, or as if there is no future other than an immediate one....
nybooks.com
*

Borges on Borges

Jorge Luis Borges
The Royal Society of Arts, London 5 Oct 1983


ON 'THE INTRUDER'

It was a brutal story, I'm sorry to say, but it was meant to be brutal. It shows the contempt men have for women in my country and in South America generally. It's a story about machismo, which I thoroughly dislike. It's a very simple story, but I didn't know how to end it. I was dictating it to my mother (I was already blind) and I came to the point where the elder brother has to tell the younger that he has killed the girl. And then I said to my mother, 'The fate of the story depends on the words he says. Try and help me.' She was taking down the story, she didn't like it, and she said, 'Let me think.' And then she said in a quite different voice, 'I know what he said.' It was as if he had actually said it, but of course it was merely fiction. And then 1 said, 'Well, write it down.' And then she wrote down, 'A trabajar, hermano. Esta manana la mate. To work, brother, this morning I killed her.' She found the right words, but she didn't like the story; however, at that moment she believed in the story. And then she made me promise never to write about people like that again; she found them utterly uninteresting and repugnant. 'Don't keep on writing about knives and knife duels,' she said; 'I'm sick and tired of it all.' She had found her way inside the story and I hadn't really. She knew far better about the story than I did, since she found the right words and the right intonation and the right cadence to the words.
Note: Trong những truyện ngắn của Borges, câu chuyện “Kẻ Lén Lút Xâm Nhập”, lạ nhất, có thể nói, và có lần, Gấu, chắc cũng THNM, nên coi cô gái - bị hai anh em cùng yêu, và 1 tên bèn giết cô gái – là văn chương Ngụy trước 1975, và sở dĩ thằng anh ruột làm thịt cô gái, để cả hai anh em sau đó, cùng có chung 1 bổn phận, quên nàng!
Trên đây, là những dòng, của chính Borges, viết về truyện ngắn đó. Ông kể là, lúc đó, ông đã mù, và đọc nó cho bà cụ thân sinh, Bả cũng không thích, và sau đó, cấm ông con trai đừng bao giờ viết truyện như thế nữa. Vargas Llosa cũng chê Borges, ưa viết truyện có tí dao găm, có tí máu.

Borges: The Intruder

Trong bài viết về Borges, Hổ trong gương, “Tigers in the mirror”, trên The New Yorker, sau in trong “Steiner at The New Yorker”, Steiner có nhắc tới 1 truyện ngắn của Borges, mới được dịch qua tiếng Anh, The Intruder. Truyện này hoành dương, illustrate, tư tưởng hiện tại của Borges.

Tò mò, Gấu kiếm trong “thư khố” của Gấu, về ông, không có. Lên net, có, nhưng chỉ cho đọc, không làm sao chôm: “The Intruder”, câu chuyện hai anh em chia nhau, một phụ nữ trẻ. Một trong họ, giết cô gái để cho tình anh em lại được trọn vẹn. Vì chỉ có cách đó mà hai em mới cùng san sẻ một cam kết mới: “bổn phận quên nàng”.

Borges coi nó như là 1 vi-nhét - bức họa nhỏ, dùng để trang trí - cho những những câu chuyện đầu tay của Kipling. “Kẻ lén vô nhà, The Intruder”, quả là 1 chuyện nhỏ, nhẹ, nhưng không 1 tì vết và cảm động một cách lạ thường. Lần đầu đọc, trên net, Gấu mơ hồ nghĩ đến BHD, tượng trưng cho thứ văn học của Gấu, hay rộng ra, của cả Miền Nam đúng hơn, được cả hai thằng, anh Bắc Kít và em Nam Kít, cùng mê, và 1 thằng đã "làm thịt em" để cả hai cùng có bổn phận, quên nàng:

Như thể, sau khi Gấu lang thang xứ người, lưu vong nơi Xứ Lạnh, một bữa trở về Xề Gòn, và thấy Những Ngày Ở Sài Gòn, nằm trên bàn!

"The Intruder," a very short story recently translated into English, illustrates Borges's present ideal. Two brothers share a young woman. One of them kills her so that their fraternity may again be whole. They now share a new bond: "the obligation to forget her."

Borges himself compares this vignette to Kipling's first tales. "The Intruder" is a slight thing, but flawless and strangely moving. It is as if Borges, after his rare voyage through languages, cultures, mythologies, had come home and found the Aleph in the next patio.

Steiner cho rằng cái sự nổi tiếng của Borges làm khổ dúm độc giả ít ỏi, như là 1 sự mất mát riêng tư.
Và theo ông, nó bắt đầu, cùng với sự kiện, cả hai đấng rất ư được người đời ít biết đến, và đọc được họ, là Beckett và Borges, khi hai đấng này chia nhau giải thưởng Formentor Prize, vào năm 1961.
Năm sau, cuốn Mê Cung và Giả Tưởng của Borges có bản tiếng Anh.
Vinh danh  rớt xuống, như mưa: Honors rained.

Vào cái tuổi già chín rục, Borges tếu táo, tôi bắt đầu nghi, rằng thì là bi giờ cả thế giới biết tới mình!
Quả là 1 ngạc nhiên, bởi là vì vào năm 1932, cỡ đó, tôi có cho xb 1 cuốn  sách, và cuối năm, tôi khám phá ra, chỉ bán được có 37 cuốn!

Beckett thì cũng rứa! Gấu nhớ là 1 tay xb từ chối ông, sau quá ân hận.

TTT cũng thế.

May sau đó, nhờ Nguyễn Đình Vượng, đổ mớ sách ra hè đường Xề Gòn, nhờ thế cuốn sách tái sinh, từ tro than, từ bụi đường!
Khủng nhất, là, ông già NDV như tiên đoán ra được số phận của cả 1 nền văn chương của cả 1 Miền Nam, sau đó, sau 1975!

Gấu là thằng may nhất, nếu không có cú bán xon của NDT, Gấu không làm sao được đọc Bếp Lửa!

The Intruder

Note: GCC kiếm thấy The Intruder, trong cuốn Borges A Reader, mua xôn, từ đời nào. Bèn post ở đây, và sẽ dịch sau.

Borges coi nó như là 1 vi-nhét - bức họa nhỏ, dùng để trang trí - cho những những câu chuyện đầu tay của Kipling. “Kẻ lén vô nhà, The Intruder”, quả là 1 chuyện nhỏ, nhẹ, nhưng không 1 tì vết và cảm động một cách lạ thường.

Lần đầu đọc, trên net, Gấu mơ hồ nghĩ đến BHD, tượng trưng cho thứ văn học của Gấu, hay rộng ra, của cả Miền Nam đúng hơn, được cả hai thằng, anh Bắc Kít và em Nam Kít, cùng mê, và 1 thằng đã "làm thịt em" để cả hai cùng có bổn phận, quên nàng:

Như thể, sau khi Gấu lang thang xứ người, lưu vong nơi Xứ Lạnh, một bữa trở về Xề Gòn, và thấy "Những Ngày Ở Sài Gòn", nằm trên bàn! (1)

*

THE INTRUDER

2 Samuel 1:26

[JLB 98]

They claim (improbably) that the story was told by Eduardo, the younger of the Nilsen brothers, at the wake for Cristian, the elder, who died of natural causes at some point in the 1890s, in the district of Moron. Someone must certainly have heard it from someone else, in the course of that long, idle night, between servings of mate, and passed it on to Santiago Dabove, from whom I learned it. Years later, they told it to me again in Turdera, where it had all happened. The second version, considerably more detailed, substantiated Santiago's, with the usual small variations and departures. I write it down now because, if I am not wrong, it reflects briefly and tragically the whole temper of life in those days along the banks of the River Plate. I shall put it down scrupulously; but already I see myself yielding to the writer's temptation to heighten or amplify some detail or other.

In Turdera, they were referred to as the Nilsens. The parish priest told me that his predecessor remembered with some astonishment seeing in that house a worn Bible, bound in black, with Gothic characters; in the end pages, he glimpsed handwritten names and dates. It was the only book in the house. The recorded misfortunes of the Nilsens, lost as all will be lost. The old house, now no longer in existence, was built of unstuccoed brick; beyond the hallway, one could make out a patio of colored tile, and another with an earth floor. In any case, very few ever went there; the Nilsens were jealous of their privacy. In the dilapidated rooms, they slept on camp beds; their indulgences were horses, riding gear, short-bladed daggers, a substantial fling on Saturdays, and belligerent drinking. I know that they were tall, with red hair which they wore long. Denmark, Ireland, places they would never hear tell of, stirred in the blood of those two criollos. The neighborhood feared them, as they did all red-haired people; nor is it impossible that they might have been responsible for someone's death. Once, shoulder to shoulder, they tangled with the police. The younger one was said to have had an altercation with Juan Iberra in which he did not come off worst; which, according to what we hear, is indeed something. They were cowboys, team drivers, rustlers, and, at times, cheats. They had a reputation for meanness, except when drinking and gambling made them expansive. Of their ancestry or where they came from, nothing was known. They owned a wagon and a yoke of oxen.

Physically, they were quite distinct from the roughneck crowd of settlers who lent the Costa Brava their own bad name. This, and other things we do not know, helps to explain how close they were; to cross one of them meant having two enemies.

The Nilsens were roisterers, but their amorous escapades had until then been confined to hallways and houses of ill fame. Hence, there was no lack of local comment when Cristian brought Juliana Burgos to live with him. True enough, in that way he got himself a servant; but it is also true that he showered her with gaudy trinkets, and showed her off at fiestas-the poor tenement fiestas, where the more intimate figures of the tango were forbidden and where the dancers still kept a respectable space between them. Juliana was dark-complexioned, with  large wide eyes; one had only to look at her to make her smile. In a poor neighborhood, where work and neglect wear out the women, she was not at all bad looking.

At first, Eduardo went about with them. Later, he took a journey to Arrecifes on some business or other; he brought back home with him a girl he had picked up along the way. After a few days, he threw her out. He grew more sullen; he would get drunk alone at the local bar, and would have nothing to do with anyone. He was in love with Cristian's woman. The neighborhood, aware of it possibly before he was, looked forward with malicious glee to then subterranean rivalry between the brothers. One night, when he came back late from the bar at the corner, Eduardo saw Cristian's black horse tethered to the fence. In the patio, the elder brother was waiting for him, all dressed up. The woman came and went, carrying mate. Cristian said to Eduardo:

"I'm off to a brawl at the Farias'. There's Juliana for you. If you want her, make use of her."

His tone was half-commanding, half-cordial. Eduardo kept still, gazing at him; he did not know what to do. Cristian rose, said goodbye to Eduardo but not to Juliana, who was an object to him, mounted, and trotted off, casually.

From that night on, they shared her. No one knew the details of that sordid conjunction, which outraged the proprieties of the poor locality. The arrangement worked well for some weeks, but it could not last. Between them, the brothers never uttered the name of Juliana, not even to summon her, but they sought out and found reasons for disagreeing. They argued over the sale of some skins, but they were really arguing about something else. Cristian would habitually raise his voice, while Eduardo kept quiet. Without realizing it, they were growing jealous. In that rough settlement, no man ever let on to others, or to himself, that a woman would matter, except as something desired or possessed, but the two of them were in love. For them, that in its way was a humiliation.

One afternoon, in the Plaza de Lomos, Eduardo ran into Juan Iberra, who congratulated him on the beautiful "dish" he had fixed up for himself. It was then, I think, that Eduardo roughed him up. No one, in his presence, was going to make fun of Cristiano

The woman waited on the two of them with animal submissiveness; but she could not conceal her preference, unquestionably for the younger one, who, although he had not rejected the arrangement, had not sought it out.

One day, they told Juliana to get two chairs from the first patio, and to keep out of the way, for they had to talk. Expecting a long discussion, she lay down for her siesta, but soon they summoned her. They had her pack a bag with all she possessed, not forgetting the glass rosary and the little crucifix her mother had left her. Without any explanation, they put her on the wagon, and set out on a wordless and wearisome journey. It had rained; the roads were heavy going and it was eleven in the evening when they arrived at Moron. There they passed her over to the patrona of the house of prostitution. The deal had already been made; Cristian picked up the money, and later on he divided it with Eduardo.

In Turdera, the Nilsens, floundering in the meshes of that outrageous love (which was also something of a routine), sought to recover their old ways, of men among men. They went back to their poker games, to fighting, to occasional binges. At times, perhaps, they felt themselves liberated, but one or other of them would quite often be away, perhaps genuinely, perhaps not. A little before the end of the year, the younger one announced that he had business in Buenos Aires. Cristian went to Moron; in the yard of the house we already know, he recognized Eduardo's piebald. He entered; the other was inside, waiting his turn. It seems that Cristian said to him, "If we go on like this, we'll wear out the horses. It's better that we do something about her."

He spoke with the patrona, took some coins from his money belt, and they went off with her. Juliana went with Cristian; Eduardo spurred his horse so as not to see them. They returned to what has already been told. The cruel solution had failed; both had given in to the temptation to dissimulate. Cain's mark was there, but the bond between the Nilsens was strong-who knows what trials and dangers they had shared-and they preferred to vent their furies on others. On a stranger, on the dogs, on Juliana, who had brought discord into their lives.

March was almost over and the heat did not break. One Sunday (on Sundays it is the custom to retire early), Eduardo, coming back from the corner bar, saw Cristian yoking up the oxen. Cristian said to him, "Come on. We have to leave some hides off at the Pardos'. I've already loaded them. Let us take advantage of the cool."

The Pardo place lay, I think, to the south of them; they took the Camino de las Tropas, and then a detour. The landscape was spreading out slowly under the night. They skirted a clump of dry reeds. Cristian threw away the cigarette he had lit and said casually, "Now, brother, to work. Later on, the buzzards will give us a hand. Today I killed her. Let her stay here with all her finery, and not do us any more harm."

They embraced, almost in tears. Now they shared an extra bond; the woman sorrowfully sacrificed and the obligation to forget her.


De vent et de Fumée

III

Ces pages sont traduites. D'une langue
Qui hante la mémoire que je suis.
Les phrases de cette langue sont incertaines
Comme les tout premiers de nos souvenirs.
J'ai restitue le texte mot après mot,
Mais le mien n'en sera qu'une ombre, c'est à croire
Que l'origine est une Troie qui brule,
La beaut é un regret, l' oeuvre ne prendre
À pleines mains qu'une eau qui se refuse. 

Yves Bonnefoy

III

These pages are translations. From a tongue
That haunts the memory I have become.
Its phrases falter, like what we recollect
From early childhood, long ago.
I built the text again, word for word:
But mine is only shadow. As though we know
All origin is a Troy that burns,
All beauty but regret, and all our work
Runs like water through our hands.

Translated by Hoyt Rogers

Của Gió và Khói

III

Những trang này đã được dịch
Từ một ngôn ngữ quần nát bấy hồi nhớ
Là thằng Gấu Cà Chớn vào lúc bi giờ
Những câu kệ thì chẳng ra làm sao cả
Như là những gì mà chúng ta nhặt nhạnh được, từ thời ấu thơ, thuở nảo thuở nào
Gấu cố gầy dựng lại bản văn, từng từ từng từ
Nhưng của Gấu thì chỉ là 1 bóng mờ
Mà nguyên bản thì là một thành phố Xề Gòn bị VC thiêu huỷ
[Bạn hẳn vưỡn còn nhớ cuộc phần thư năm đó?]
Cái đẹp ngày nào nếu còn chăng, thì là 1 niềm ân hận
Tác phẩm, cái gọi là văn học Miền Nam trước 1975, ư?
Như nước lọt qua kẽ tay của bạn.



THE POETRY OF VILLAGE IDIOTS

Làm thơ xuôi thì cũng giống như bắt 1 con ruồi trong căn phòng tối. Có thể làm đếch gì có con ruồi ở đó, nhưng chắc chắn, nó ở trong đầu của bạn; tuy nhiên, bạn vưỡn cố loay hoay, hì hục, đụng cái này, cái kia, trong cuộc truy đuổi nóng bỏng. Thơ xuôi như thế thì giống như 1 cú vỡ òa của ngôn ngữ, khi đụng 1 cái tủ to tổ bố.
    Nếu thế, tại sao cố? Có cái gì quyến rũ, lôi kéo, trong 1 việc làm khùng điên như thế?
    Trong trường hợp của riêng tôi, mỗi lần làm thơ xuôi là một lần cố rũ tôi, ra khỏi chính mình. Thoát khỏi sự tưởng tượng, bộ não, của chính mình, để lao vào 1 cuộc phiêu lưu với những hậu quả không làm sao biết trước được, tiếp tục là giấc mộng lớn của tôi.
    Những người khác cầu khẩn Thượng Đế. Tôi cầu khẩn cái cơ may của tôi, chỉ cho tôi cách thoát ra khỏi nhà tù, mà tôi gọi là chính tôi đó.
    Một cú ngoáy, nhanh, không suy tính và cái cửa phòng giam bèn mở ra. Tôi không hề có ý nghĩ, như thế nào, bằng cách nào, tôi hoàn tất điều mà tôi đã hoàn tất. Trong những lề luật viết lách có tính trực giác như thế. Mỗi người thì bèn tùy thuộc cái khôn khéo văn chương của riêng người đó để đi những bước đúng, và nhận ra, đúng rồi, cái trước mặt, cái cú ngoáy, quả đúng là 1 bài thơ. Với tôi, thơ xuôi đúng là sáng tạo thuần túy, thằng bé quỉ sứ của hai chiến thuật không thể xa lìa nhau, cái trữ tình, và cái tự sự. Một bên, có cái ao ước trữ tình làm thời gian ngừng trôi chung quanh 1 hình ảnh, và một bên, người đó muốn, kể 1 tí chuyện.
Cú nhắm mà những dòng chữ đang được viết ra để thành 1 bài thơ xuôi, là, làm dấy lên ở nơi người đọc, một ao ước không làm sao chinh phục được: đọc lại cái vừa mới đọc. Nói một cách khác, “nó” có thể giống như 1 bài thơ xuôi, nhưng “nó” hành động như một bài thơ. Cái lần thứ nhì, thứ ba, và thứ năm hẳn là khá hơn. Mi sẽ chẳng bao giờ làm ta mệt phờ râu, nó hứa hẹn. Nếu bạn không thích điều tôi nói, thì hãy thử đọc Illuminations của Rimbaud, hay những bài thơ bảnh nhất của Russel Edson. Chúng chẳng bao giờ cạn láng.
Thực nhảm, nếu đưa ra vài huấn thị cho cái gọi là sản phẩm của tự do tưởng tượng, nhưng tôi cố đưa ra điều sau đây:
Bí mật của một bài thơ xuôi nằm ở trong cái kinh tế -sự kiệm lời, thắt lưng buộc bụng, từ - và cái kinh ngạc của nó.

Borges made a profound impression on Spanish literary prose, as before him Ruben Dado had on poetry. The difference between them is that Dado imported and introduced from France a number of mannerisms and themes that he adapted to his own world and to his own idiosyncratic style. In some way all this expressed the feelings, and at times the snobbery, of a whole period and a certain social milieu. Which is why his devices could be used by so many without his followers losing their individual voices. The Borges revolution was personal. It represented him alone, and only in a vague, roundabout way was it connected with the setting in which he was formed and which in turn he helped crucially to form - that of the magazine Sur. Which is why in anyone else's hands Borges' style comes across as a caricature.

Vargas Llosa: The Fictions of Borges

Trong bài viết của Borges, trong cuốn tưởng niệm ông, của một số tác giả, Vargas Llosa cho rằng Borges tạo một ấn tượng sâu đậm vào văn xuôi Tây Ban Nha, như là trước đó, Rubén Darío, vào thơ. Cũng vẫn ông, cuộc cách mạng của Borges là cá nhân. Nó đại diện mình ông ta, và chỉ là một ngọn sóng…. bởi thế, văn phong của Borges đụng bất cứ 1  tên TBN, là để lại 1 vết sẹo!

Tuyệt!

TTT, sở dĩ đếch có truyền nhân, là cũng xêm xêm. Ngoài lý do, thơ của TTT, 1 thứ thơ trí tuệ không 1 tên Mít nào có được, còn có cái lý do Vargas Llosa vừa nói tới. Cái thứ thơ ngồi bên ly cà phê, nhớ bạn, thì cần chó gì đến trí tuệ. Chẳng tên nào muốn làm thơ mà lại dính vết sẹo ở trong lòng bàn tay.
Cần chó gì sư phụ.
Không có sư phụ, thì đếch có vết sẹo!

Cả 1 cõi thơ TTT, có thể nói, đầy ắp Hà Nội, nhất là trong Tôi không còn cô độc, Liên Đêm…

Con đường tình tự Ga Hàng Cỏ
Nụ hôn đầu ôm mái tóc lang thang
Đâu phải mưa ô buy vào thành phố
Nửa đêm Hà Nội
Anh sợ cái cột đèn đổ xuống....

Toàn những hình ảnh của Hà Nội

Chỉ đến khi đi tù - trở lại cố quận – thì người đàn bà Nam Kít, xuất hiện, như hình ảnh của một quê hương mới, chốn trở về sau khổ lụy.
Giả như tụi Tẫu không phát động cuộc chiến biên giới, thì cuộc hội ngộ sẽ xẩy ra ở trong tù, ở Cổng Trời, thí dụ.
Cái tên thi sĩ dởm NDT mới nhảm làm sao. Hắn đếch đọc được thơ TTT, bèn lên giọng dè bỉu. Một thái độ như thế mà sao không tởm cho được.
Cái lũ làm thơ bên ly cà phê hẳn cũng bực Gấu lắm

Nhưng, kệ cha chúng.

Vargas Llosa, trong bài viết trích dẫn, cho biết đám Tây Bán Nhà cũng rất ư là nực Borges, ở những dòng thơ đếch có tí mùi thịt chó, rau muống!

Một vị, ra đi từ miền Bắc , khi đọc bài thơ viết về Budapest, GCC đưa lên mục Tạp Ghi trên tờ Văn Học, phán, cứ tưởng của 1 ông mũi lõ nào!
Borges cũng bị những đồng hương của ông chê, mất chất… Mít!
Sách Báo

*

Tuyển tập essays “Table Talk” của tờ Ba Xu, Tin Văn đã từng giới thiệu.
Nhớ, lần đầu mua tờ báo này, là vì cái bài viết của 1 em, về 1 chuyến đi tham quan thư viện, chẳng nhớ gì, ngoài cái kỷ niệm, lúc vô thang máy với 1 thằng con trai cùng tuổi, thằng con trai bèn tụt quần cho đứa con gái ngắm khẩu súng của nó.
Thế là nhớ đời!
Nhớ & tưởng tượng ra liền, cảnh em Jackie, mới tuổi teen, bị 1 thằng Tẩy làm thịt tại, cũng 1 thang máy nào đó!

*

Tờ báo, khổ bự, làm nhớ tờ “Nghệ Thuật” ngày nào. Lần đầu mua, vì loạt bài viết về thư viện (1)

DURING MY senior year in college, the offices of my literature professor, with whom I met weekly for tutorial, were located deep in the stacks of Harvard's Widener library. I rarely saw anyone else among the aisles of medieval romances and Icelandic sagas, and when I did, they seemed to materialize from the darkness, like the spooky nun in Vertigo. I heard noises, I saw shadows, I imagined the grisly scenarios of horror films. My heart was always pounding by the time I got to my professor's door. In fact nothing unpleasant happened to me in Widener Library. That would have to wait until I reached the heartland and was teaching at the University of Iowa. A guy showed me his penis when we were alone in the library elevator. I recall him looking like a sumo wrestler, but that may not be true. I didn't think he was going to hurt me; he just wanted me to look. The door opened, I got off. He stayed on the elevator. But after that I got vaguely phobic about the library. I no longer enjoyed going there, and I began to avoid it until finally I asked my husband if he would accompany me into the stacks-on the off chance that Sumo Guy might reappear. My husband readily agreed; there were art books on the same floor as the literature section, and he is a painter....

Francine Prose

Note: "Sumo Guy" chắc súng phải khủng lắm!
Hà, hà!

Em có chồng, đi với chồng về nơi chốn cũ, "thiên đàng thư viện", vưỡn mong thằng nhỏ ngày xưa xuất hiện!

It works,
he says. But it will never be the same

Nó vưỡn OK. Nhưng chắc chắn sẽ chẳng vưỡn như ngày xưa!

Tuyển tập này, mới ra lò, 2015, bèn quơ liền. Đọc loáng thoáng bài viết “Bơi ở Việt Nam” thấy có nhắc tới Lê Thị Diễm Thuý, tác giả “Tên Găng Tơ mà tất cả chúng ta tìm” TV đã từng giới thiệu.


Viết Mỗi Ngày

[Milena letters to Max Brod]

[Bạn có thể tưởng tượng, đây là thư của "đảo xa", gửi cho MT, viết về TTT!]

Dear Herr Doktor:

[begìning of August 1920]

... Obviously, we are all capable of living, because at one time or another we have all taken refuge in a lie, in blindness, enthusiasm, optimism, a conviction, pessimism, or something else. But he has never fled to any refuge, not one. He [Kafka] is absolutely incapable of lying, just as he is incapable of getting drunk. He lacks even the smallest refuge; he has no shelter. That is why he is exposed to everything we are protected from. He is like a naked man among the dressed ... Everything he is, says, and lives cannot even be called truth; actually, it is predetermined being, being in and of itself, being with nothing added that might allow him to distort his picture of the world- whether into beauty or distress. And his asceticism is completely unheroic-hence all the greater and loftier. All "heroism" is lying and cowardice. This is not someone who chooses asceticism as a means to an end; here is a man who is forced to be ascetic because of his terrible clairvoyance, his purity and inability to compromise.
    There are very intelligent people who also refuse to make compromises. But they don magic glasses and see everything in a different light. That's why they don't need any compromises. That's why they are able to type quickly and have their women. He stands beside them and gazes at them in wonder, at everything, even this typewriter and these women. He will never understand.
    His books are amazing. He himself is far more amazing. Many thanks for everything. I wish you all the best. I'm allowed to visit you when I come to Prague, am I not? I send you my most heartfelt greetings.

Hiển nhiên tất cả chúng ta đều có thể sống, bởi là vì lúc này lúc khác, chúng ta đều có thể kiếm ra nơi ẩn náu, trong 1 lời dối trá, trong sự mù lòa, hưng phấn, lạc quan, tin tưởng, biếm thế, hay một điều gì khác. Nhưng anh ta [Kafka] không làm được như thế, anh ta chẳng bao giờ chạy tới bất cứ 1 nơi ẩn náu, không một nơi ẩn náu. Anh ta tuyệt đối không thể nói dối, như anh ta không thể say rượu. Anh ta không có lấy 1 chốn ẩn náu cho dù nhỏ bé nhất. Anh ta không có 1 nơi trú ẩn. Chính vì thế mà anh ta cứ thế phơi ra trước mọi thứ, mọi điều mà chúng ta được che chở, từ chúng. Anh ta như thể 1 kẻ trần truồng, giữa đám người ăn vận quần áo. Mọi thứ, mọi điều anh ta là, nói, và sống, không thể, ngay cả, được gọi là sự thực; sau cùng, đây là một sinh vật được tiền định, tính toán từ trước, một sinh vật ở trong nó, và của chính nó, có mà chẳng cần hư vô thêm vào, cái hư vô có thể cho phép anh vặn vẹo hình ảnh của anh ta về thế giới - trở thành cái đẹp, hay sự chán chường, kiệt quệ. Và chủ nghĩa khổ hạnh của anh ta thì hoàn toàn không-anh hùng - từ đó, tất cả lớn lao, cao vời vợi. Mọi “chủ nghĩa anh hùng” thì là dối trá, hèn nhát. Đây không phải là 1 kẻ chọn khổ hạnh, như là một phương tiện đưa tới cứu cánh; dây là 1 người đàn ông bắt buộc khổ hạnh bởi là vì cái tiên tri khủng khiếp của anh ta, sự trong trắng của anh ta, và cái không thể thoả hiệp của anh ta.

Thư Tình nơi Sofa
Letter in the Sofa
1957

Life finds a thousand ways to cheat lovers.
Đời kiếm đủ cách để gạt những kẻ yêu nhau


Lá thư tình nằm ở dưới cái sô pha

Viên thiếu tá công binh, trẻ, là người tìm thấy lá tình thư, khi anh ta xục xạo cái villa mà mà đơn vị của anh ta thừa hưởng từ người Đức.
Đám lính sợ tụi Đức gài mìn, gài bẫy, một việc làm vô ích, theo tôi, bởi là vì chúng tôi tới đảo, rất êm ru bà rù, chỉ để chứng kiến một đơn vị đồn trú, tất cả đều đói lả, rất ư là mừng đón tiếp chúng tôi.
Đám limh tráng Đức đúng là đang chết vì đói, cứ mỗi ngày là có 200 người chết đói, lính tráng và thường dân.
Nơi chốn, tôi muốn nói, hòn đảo, trông giống như 1 cái xác đang lảo đảo, kéo lê cái thân xác của nó, tới hố chết, thì cứ nói đại như thế.
Tôi vẫn còn giữ như in, trong đầu óc của mình, hình ảnh, những chiếc tiềm thủy đĩnh, bò lên bãi, mở ra những thùng bánh bít qui, dưới ánh đèn pin, rồi cứ thể thẩy vô những cánh rừng, là những cánh tay người đang vẫy vẫy.






Cảnh đẹp VN

Giới Thiệu Sách, CD

Hình Bóng Con Tàu
Mùa hè Còn Mãi

Art2all
Việt Nam Xưa
Talawas
Guardian
Intel Life
Huế Mậu Thân
Cali Tháng Tám 2011

30. 4. 2013

Thơ JHV

Trang đặc biệt Xử VC
Hình ảnh chiến tranh
Việt Nam của tờ Life


Vĩnh Biệt BHD

6 năm BHD ra đi


Trang NQT

art2all.net


&

Lô cốt trên đê làng
Thanh Trì, Sơn Tây

Tribute to NCT:
Vietnam's Solzhenitsyn

NQT vs DPQ