*

Nguyễn Quốc Trụ

Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê: Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975, công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định 1994, Canada


Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Trang Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và chuyển về những bài viết liên quan.
*
Một khi kiếm, không thấy trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang có đánh số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu trang Tin Văn.

Email

Nhìn lại những trang
Tin Văn cũ
  5

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free]






Lao Home, 2014 & 15 Trip

*

*

Bạch Yến, cô gái lớn, Gấu Cái có bầu đúng thời gian Mậu Thân, nhà ở khu Đài Truyển Hình, Đài Phát Thanh, VC cứ nhè khu đó pháo kích, Gấu Cái sợ quá, ảnh hưởng tới cái thai. Hồi nhỏ, đặt đâu nằm chỗ, chỉ đến khi bố đi làm về, mới nhoẻn miệng cười, đòi bế. Tưởng bị liệt. Lớn lên, lấy chồng, có con vẫn bị tật đái dầm, di truyền luôn tới mấy đứa nhỏ!
Ông con trai thứ. Gấu cũng đã kể về đấng này rồi.
Thằng lớn, đầu lòng, tới cô con gái, Bạch Yến, rồi tới nó. Cô Út, sinh đúng vào dịp 30 tháng Tư, 1975, vì vậy mà đành ở lại. GCC đã viết về nỗi đau thống nhất này trong Tự Truyện.
Sau 1975, có thời kỳ Gấu Cái bồng bế lũ con về Hưng Long, xây cái lều trên miếng đất của Bả, sau cùng sống không nổi lại trở lại Sài Gòn. Nhìn thấy Gấu thằng con trai tới tát cho bố vài phát, ra ý, tại làm sao mà bố lại làm khổ chúng con như thế?
Lần đó, có Nguyễn Tân Văn, bạn cùng học, chứng kiến. Anh cười, nói, thằng bé này trách ông bố ghiền.
Còn thằng lớn, đi học, bị 1 thằng cùng lớp, cũng dân trong xóm, do đánh lộn, chửi, bố mày là thằng ghiền. Thế là xông lại, do nhỏ con hơn, bị đánh gần như mù hẳn 1 con mắt, suốt đời.


Thơ Mỗi Ngày 

TTT 2006-2015

Borges Conversations

Nhưng chúng ta được biết là chúng ta không thể có được cú diễn giải trung thực về thời của chúng ta nếu không có sự giúp đỡ của Kafka.

Đúng, nhưng K quan trọng hơn thời của chúng ta. Thật thê lương, K phải sống sót thời kỳ này, và những giản lược của nó. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta chịu đựng cái thế kỷ này mà chẳng có lấy 1 tí tự hào, Với tí hoài nhớ thế kỷ 19, mà nó thì lại có tí hoài nhớ thế kỷ 18. Có lẽ Oswald Spengler có lý về cái sự thoái trào mà chúng ta hoài nhớ - hiển nhiên là chúng ta có thể nói về cái thời cũ kỹ [trước 1975] của chúng ta, và chúng ta có lý, hơn lũ VC, tất nhiên. Bất cứ cái chó gì dính dáng tới trước 1975, thì đều bảnh tỏng cả!
Có em Carmen Gándara đi 1 đường tiểu luận thú vị về Kafka, tôi mới đọc gần đây. Em phán 1 phát cực lạ về Kafka: Xuyên suốt đời mình, Kafka tìm kiếm một Thượng Đế “vắng mặt” của thời của chúng ta.
Borges: Tôi bị hỏi hoài về vụ này, mà thực sự không hiểu.
Ý của tôi là, mặc dù mọi chuyện, Kafka có thể là 1 tín hữu, hay có 1 tinh thần tôn giáo.
Borges: Đúng như thế, nhưng tinh thần tôn giáo thì không cần phải tin vào một ông trời cá nhân. Thí dụ tín hữu Phật Giáo đâu có tin vào một ông Phật có hình hài giống… chúng ta, đúng không, và chuyện đó đâu cần. Cái ý tưởng tin vào 1 ông trời cá nhân thì không phải là 1 yếu tố cần thiết trong tinh thần tôn giáo. Những kẻ phiếm thần, hay Spinoza – ông này thì thực là bí ẩn và ông phán, “Deus sive natura”, Trời hay Thiên nhiên. Hai thứ đó là một đối với ông ta.

Cái ý tưởng “Kafka, phần hồi ức con người”, của Borges, đúng là cái ý mà cô học trò của TTT, Quỳnh Giao, viết về ông, khi ông mất, tức là, khoanh vùng TTT vào biến cố 1954:
Thơ Thanh Tâm Tuyền phải được đặt trong vị trí “di cư” và “chiến tranh” của một thành phố mở ra thế giới bên ngoài là Sài Gòn. Không có hoàn cảnh hay khung cảnh ấy, người ta khó cảm hay yêu thơ của ông.

Lần tưởng niệm 5 năm ông ra đi, GCC lập lại ý trên, và đề nghị, đã đến lúc cởi bỏ cái nhận định đóng cứng TTT vào thời điểm 1954.

Borges cũng phán y chang, thế mới thú:

In Kafka's case, I think that he can be read beyond his historical circumstances. And there are two very important ones. Kafka writes a good part of his work during the 1914-18 war. One of the worst wars ever. He must have suffered it greatly. Also, he was a Jew at a time when anti-Semitism was growing. He lived in Austria, well, Bohemia which was then part of Austria. He died in Berlin, I think. All these circumstances-living in a besieged city, in a country that was winning but was then defeated-reverberates in his work. Yet if a reader did not know about this, he wouldn't notice it. Kafka transmuted all this.

Suy diễn từ những ý nghĩ, tư tưởng trên, áp dụng vô cas TTT, chúng ta có thể rút ra được cái tâm thái của ông, khi hỳ hục, loay hoay với vấn nạn, làm sao viết như thể không có gì xẩy ra, khi, đứng từ phía độc giả, thay vì tác giả:

Chúng ta có thể đọc TTT quá những hoàn cảnh lịch sử của ông.
Có hai hoàn cảnh lịch sử quan trọng: 1954 và 1975.
Với 1954, là Bếp Lửa, và thái độ, ông tự coi mình là đứa con tư sinh của một miển đất.
Với 1975, là "Thơ ở đâu xa", và Trại Tù mà ông viết được nhờ nó.


From Russia With Love

Dương Nghiễm Mậu     



LANDSCAPES OF THE MIND
Phong cảnh của tâm hồn

Robert Macfarlane on Nabokov’s “Lolita”

Đây có lẽ là 1 bài viết lạ thường nhất về cuốn tiểu thuyết, viết về 1 anh già mê 1 đứa con nít: Cái sáng ngời ghê tởm. A loathsome brilliance. Cuốn tiểu thuyết mở ra cánh cửa địa ngục, là cánh cửa 1 căn phòng ngủ của 1 nhà ngủ bên lộ, a motel: “Lolita” unfolds in motel America.
Hay, như chính Nabokov gọi, một căn phòng ngủ trọ như thế đó, 1 "phòng giam của thiên đàng", a "prison cell of paradise".

Quái làm sao, bài viết làm Gấu nhớ thời gian làm 1 tên chuyên viên kỹ thuật, và những chuyến đi về 1 thành phố địa phương, để sửa máy, và phải ngủ khách sạn.


*

Scammell đã phải bỏ ra 20 năm để viết nó, ngoài ra S. còn 'thủ đắc' cả một mớ tư liệu hiếm quí về Koestler.

Cuốn này, đúng là nó tìm GCC, không phải GCC tìm nó. Gặp ở tiệm sách cũ, trong khi không làm sao kiếm thấy, ở tiệm sách mới!
Mà tại làm sao mà lại có 1 tay mua nó, rồi đem bán nó? Còn mới tinh?
Thật ra cũng dễ hiểu, bây giờ đâu còn ai đọc Koestler nữa, trừ GCC.

Koestler, Arthur 

Cuốn sách nổi tiếng thế giới đầu tiên, liền sau Đệ Nhị Thế Chiến, đúng là cuốn tiểu thuyết ngắn Bóng Đêm Giữa Ban Ngày, dịch ra tiếng Tây dưới cái tít Số Không và Vô Tận.

Như thường ra, với vinh quang và danh vọng, chính cái chất mùi mẫn của đề tài làm mê mẩn, nói theo kiểu người Việt chúng ta, nó bắt trúng thị hiếu người đọc. Nên nhớ chủ nghĩa Cộng Sản, vào lúc đó, là rất ư thời thượng, những sự kiện lịch sử, ở vào thời điểm đó, dù muốn dù không, phải được hiểu như là cuộc chiến đấu của những sức mạnh của tiến bộ, chống lại chủ nghĩa Phát xít.
Một phía, là Hitler, Mussolini, Tướng Franco, phía kia, Tây Ban Nha dân chủ, Liên Bang Xô Viết, và liền sau đó, những chế độ dân chủ Tây Phương. Cuốn tiểu thuyết của Koestler làm khiếp đảm, làm đứng tim, làm nghẹt thở mọi người, bởi vì nó phạm thánh,  nó dám đập bể đền thờ, đá văng cu lơ điều cấm kỵ, nghĩa là, nó nói khác hẳn đi, như là vẫn được phép nói, về hệ thống xã hội chủ nghĩa. Những người Ba Lan đã trải qua nhà tù Xô Viết, trại tập trung, và sau đó, cố gắng một cách vô ích, tuyệt vọng, giải thích cho mọi người những gì đã xẩy ra, chắc chắn hiểu rõ điều này. Chủ nghĩa xã hội Nga Xô, được bảo vệ bởi một hiệp đồng mang tính đồng chí vô sản quốc tế, và, nếu có một ai dám nói ngược lại, như vậy là... phạm thánh! [Milosz: one committed un faux pas]. Hàng triệu binh sĩ Hồng Quân đã ngã xuống, và chiến thắng của Stalin, và bao nhiêu đảng Cộng Sản Tây Âu, tất cả đã hỗ trợ cho một thực tại mà không ai dám nói ngược lại. Chống Xô Viết có nghĩa là Phát xít.
Thế mà bi giờ lại có một cuốn sách viết về sự kinh hoàng, khủng khiếp của nhà cầm quyền Xô Viết, dựa trên những người thực việc thực, là những bí mật đằng sau những vụ án xẩy ra tại Moscow. Nỗi sợ hãi tức thì, sự tráo trở, bội phản, lửa địa ngục… bốc lên từ mỗi trang sách, làm sao không đắt hàng cho được.
Koestler sau đó còn viết nhiều, và những gì có tính tiểu sử sau đây, là từ những gì ông viết.

Ông thuộc thế hệ nhập vô đấu trường thế giới từ văn hoá Đức, từ quĩ đạo Vienna, vẫn còn hơi hám đế chế Habsburg. Như Kafka ở Prague, như những bạn bè của tôi, Hannah Bension, sinh tại Czech Liberec, và Arthur Mandel, tại Bielsk, như Georg Lukacs từ Budapest - tất cả đều viết bằng tiếng Đức.

Koestler sinh tại Budapest, nhưng học Vienna, và từ đó, ông đi khắp mọi nơi. Trước hết, là chủ nghĩa quốc gia Do Thái, đi Palestine, như là một halutz, xây dựng quốc gia Do Thái, sau đó mê khoa học, làm chủ bút phần khoa học cho một tờ báo lớn ở Berlin, và liền sau đó, nhập vô Weimar Đức, và mê chủ nghĩa Cộng Sản.

Từ 1933 tới 1939 ông, thành viên trung tâm Munzenberg, lo tuyên truyền quảng bá chủ nghĩa Cộng Sản tại Paris, phóng viên của Đảng, trong Cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha, ăn cơm tù Franco, và sau đó, nói không với Đảng. Những cuộc dấn thân vì tình cảm sau đó, có cả những hoạt động chống Cộng, như thành lập Hội nghị vì Tự do Văn hóa, tham gia trong chiến dịch đòi bãi bỏ án tử hình tại Anh, sau cùng trở lại với những quan tâm thời còn trẻ, như lịch sử khoa học, và cùng với nó, là những thú vui bên lề, thí dụ sự bí mật của cái đầu sáng tạo của con người, hay những cội rễ Khadar của Do Thái Đông Âu.

Tôi đọc Bóng Đêm Giữa Ban Ngày [bản tiếng Anh] vài năm trước khi gặp tác giả của nó. Đề tài, một cuộc thẩm vấn ở trong nhà tù Lubianka. Một ông Cộng Sản thứ thiệt, thuộc loại diều hâu, [cứng đầu, chữ của Milosz], được giao trách nhiệm hỏi cung một tay cựu trào Bolshevik là Rubashov. Phải làm sao cho tay này thú nhận những tội ác mà hắn ta không hề phạm, và để bù lại, Đảng sẽ thưởng cho hắn ta một bản án, là cái chết.

Nói một cách khác, cuốn tiểu thuyết là một toan tính nhằm trả lời một câu hỏi của rất nhiều người, vào thập niên 1930: Tại làm sao mà những tay cựu trào Bolshevik lại thú nhận những tội ác mà họ không hề phạm, thú nhận công khai trước nhân dân, chúng tôi là những ngưòi có tội, và xin được hưởng sự khoan hồng của Đảng, là được… làm thịt?

“Mặt trời chân lý chói qua tim”, một cách nào đó, là phải hiểu như vậy, và mặt trời ở đây là Đảng, và Đảng, là Stalin. Nói thế có nghĩa, họ bắt buộc phải có tội, và Stalin phải có lý, phải đúng, khi kết tội họ. Nếu không như thế, làm sao giải thích những vụ án như thế? Những lời thú tội như thế?

Trong cuốn tiểu thuyết, tay cựu trào “bèn” gật gù với lập luận của kẻ hỏi cung mình, là Gletkin: Là một tay Cộng Sản, anh bắt buộc phải đặt quyền lợi của Đảng lên trên tất cả mọi quyền lợi. Trên quyền lợi cá nhân anh. Trên ao ước cứu bạn bè anh. Đảng muốn anh phải công khai nhận tội, và buộc tội những bạn bè, bởi vì quyền lợi của Đảng vào giai đoạn này, đòi hỏi như vậy. Một biên bản bản án của anh sẽ được lưu giữ trong kho tài liệu của Đảng, và sau này, đến một giai đoạn cần thiết, là bèn lôi ra, để “minh oan” cho anh, “phục hồi” anh!

Đó là những dẫn giải mang tính ý thức hệ của những vụ án như trên. Nhưng, có người cho rằng, sự tình giản dị hơn nhiều, những kẻ đó nhận tội, là do tra tấn.

Tuy nhiên, nhà thơ Aleksander Wak, đã kể lại một cuộc trò chuyện giữa ông, và một tay cựu trào, ngay sau khi cái chết của con người đáng kính này ở trong nhà tù. Ông này giải thích, đám đó nhận tất cả mọi thứ tội lỗi ở trên đời, do Đảng phịa ra, chẳng phải vì lý do ý thức hệ, chẳng phải do bị tra tấn ghê gớm, khủng khiếp, mà đơn giản, do quá tởm chính họ. Tởm cái quá khứ tội lỗi của họ. Ông nào cũng tội ác ngập đầu, và nếu như vậy, thú tội thêm một vài lần để được cứu rỗi, thì có mất mát gì đâu? Tra tấn là không cần thiết, ở đây, là vậy.

Tất cả những giải thích như trên đều có phần sự thực của chúng. Với Koestler, còn những khúc mắc liên quan tới cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha. Những người tới đó chiến đấu là do yêu chuộng công lý, vì những mục tiêu hoàn toàn mang tính ý thức hệ, thật là trong sáng: chiến đấu vì lý tưởng tự do. Hầu hết đều bỏ thân nơi trận tiền, do những lệnh hành quyết, mà điệp viên của Stalin là những đao thủ phủ. Tây Ban Nha là trung tâm của chiến dịch tuyên truyền "chống Phát Xít", được thực thi trên bình diện quốc tế, bởi "văn phòng ở Paris". Và một trong những cộng tác viên thân cận nhất của nó, là... Koestler, đích thị chàng.

Trong chiến dịch chống Phát Xít trên, họ sử dụng những phần tử mà họ gọi là "những kẻ ngu có ích", trong nhiều xứ sở, tức những con người ngây thơ muốn làm điều tốt, điều thiện. Chẳng biết, tới mức độ nào, ông trùm văn phòng ở Paris lúc đó là Munzenberg, hiểu ra được trò chơi hai mặt này của Stalin. Tuy nhiên, tại Tây Ban Nha, có mấy người vỡ ra được, đó là Koestler, Dos Passos, và George Orwell.

Tôi gặp Koestler tại Paris cỡ năm 1951 thì phải. Thể lực của ông giải thích thật nhiều. Rất là cân đối, đẹp trai, nhưng nhỏ người, týp người lùn, còi, và điều này góp phần giải thích những tham vọng "Nã Phá Luân" của ông, cùng thói ham đánh lộn, gây khó khi làm việc trong bất cứ một nhóm. Nói cho cùng, ông là loại người với ý tưởng, ta sẽ làm việc với các ngươi, tức những nhóm người thuộc tầng lớp trí thức Đông Âu, để chữa trị cho các người khỏi cái độc hại của chủ nghĩa Marx. Và Hội nghị vì Tự do Văn hóa tại Berlin vào năm 1950 là một tác phẩm của ông. Rồi tiếp theo, Hội nghị về Tự do Văn hóa tại Paris, lần này là do bàn tay lông lá của Mẽo đạo diễn, và ông bị anh Mẽo nhẹ nhàng cho ra dìa, cho ngồi chơi xơi nước. Sau đó, sống ở Anh, ông hạn chế sự quan tâm của mình vào chủ nghĩa toàn trị ở Đông Âu dành thời giờ lo tạo dựng một quỹ cứu trợ những nhà văn di dân, và đóng góp một số tài sản cho quỹ này.

Liên hệ giữa ông với tôi có tính bài vở, trường lớp, và cũng thật làng nhàng, phiên phiến cho qua. Chưa bao giờ chúng tôi có được một lần trò chuyện nghiêm túc. Vào thập niên 1960, ông đi du lịch Mẽo, với cô bồ trẻ, hay là vợ. Cả hai có đến thăm tôi tại Berkeley. Như tất cả những lần gặp gỡ khác, tôi luôn bị du vào một tình cảnh khó xử, không thoải mái. Với ông, tôi chỉ là tác giả của một cuốn sách, đó là cuốn Cái Đầu Bị Cùm, hay Cầm Tưởng, The Captive Mind, mà ông đã đọc và nghĩ là "được". Tuy nhiên, với riêng tôi, thành thực mà nói, tôi bảnh hơn thế, hoặc khiêm nhường hơn, tôi khác thế, không hẳn chỉ có thế: Tôi là tác giả của những bài thơ mà ông ta chẳng biết một tí gì về chúng.

Nhưng thế hoá ra là tôi tính chơi trội, khi cố tình bẻ qua một lãnh vực khác mà ông không rành. Nói gần nói xa chẳng qua nói thật, bữa đó, tôi, tuy là chủ nhà, nhưng lại hơi quá chén, rồi đâm ra ngủ gà ngủ gật trước mặt khách. Thật xấu hổ quá.

Thành thực mà nói, Koestler, mặc dù dáng người nhỏ thó, mặc dù hơi tự cao tự đại về mình, ông ta xứng đáng hơn nhiều, so với ba bốn lời lẩm ca lẩm cẩm của tôi, như ở trên. 

Có vẻ như ông, trên hết, là một con người của chủ nghĩa thực chứng [positivism] của thế kỷ 20, ở cả hai mặt của chủ nghĩa này, quốc gia và xã hội, nói theo ngôn ngữ bi giờ, ông vừa là một nhà quốc gia vừa là một nhà xã hội chủ nghĩa, cả hai bên, ông đều mê, và đều bị lôi kéo, trong một thời gian. Những tình cảm đối với con người của ông thật là mạnh mẽ, vì vậy mà ông đã lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Anh bãi bỏ án tử hình, khi treo cổ tội nhân, sau đó, ông còn tranh đấu cho quyền được chết, đối với những người bịnh nặng, hết còn muốn kéo dài cuộc sống. Ông còn là một thành viên trong cái hội đòi hỏi quyền được chết không đau đớn khi không còn muốn sống. Người ta đã khám phá ra, ông và bà vợ trẻ cùng chết, khi đang ngồi bên nhau, trên hai chiếc ghế bành. 

Milosz’s ABC’s




Cảnh đẹp VN

Giới Thiệu Sách, CD

Art2all
Việt Nam Xưa
Talawas
Guardian
Intel Life
Huế Mậu Thân
Cali Tháng Tám 2011

30. 4. 2013

Thơ JHV

TMT

Trang đặc biệt

Tưởng nhớ Thảo Trường

Tưởng nhớ Nguyễn Tôn Nhan

TTT 2011
TTT 2012
7 năm TTT mất

Tribute to PCL & VHNT
Xử VC

Hình ảnh chiến tranh
Việt Nam của tờ Life


Vĩnh Biệt BHD

6 năm BHD ra đi
Blog TV


Trang NQT

art2all.net


&

Lô cốt trên đê làng
Thanh Trì, Sơn Tây

Tribute to NCT:
Vietnam's Solzhenitsyn

NQT vs DPQ