Thu 2014

*

@ Indigo, 30 Oct 2014

*

*

*

Thu dưới phố

Thơ Mỗi Ngày

https://fbcdn-profile-a.akamaihd.net/hprofile-ak-xap1/v/t1.0-1/e2/c2.0.50.50/p50x50/1899927_10203170460252688_1683907067_n.jpg?oh=a0d36061f5a3f4b44e303d14ff4fd6a6&oe=54EA5378&__gda__=1423835052_d5c513dc6a67ca8a02a2f5f3aca21c26

Trương Văn shared his photo.

13 hrs ·

Hồi 2006, hình như lúc đó đang buồn hay thất tình gì gì đó thì được 1 bạn ở Phan Thiết nói buồn thì ra biển Phan Thiết chơi với bản. Chắc là bạn í mời lơi thôi nhưng mình làm thiệt, bắt xe ra PT ngay chiều hôm đó.
úc gặp mình, bạn đó đạp xe đạp, bận đồ học sinh ra đón (lúc đó bạn 15t và học lớp 10). Mình bảo để kiếm khách sạn nghỉ thì bạn bảo khỏi, có quen 1 trường học, có nhiều phòng trống có thể ngủ, đỡ tốn tiền. Thế là mình được dắt vào 1 phòng làm việc ở trường cấp 2, ngủ trên 1 cái ghế bố đặt giữa phòng. Lúc ngủ cứ nghe tiếng cọc, cọc, nhưng mình cho là tiếng thằn lằn tặc lưỡi, phần thì mệt quá nên ngủ ngon tới sáng.
Sáng ra khi qua dắt mình ra biển chơi, bạn ấy thì thầm vào tai mình: Giờ em nói cái này anh đừng sợ nha, phòng hôm qua anh ngủ là phòng làm việc của ba em hồi còn sống (ba của bạn là hiệu trưởng của trường đó và mới mất không lâu).
Lúc đó mình mới nhớ lại và xanh mặt, tiếng cọc cọc tối qua nếu hình dung lại thì giống tiếng gõ bàn phím làm việc.
Gần đây nghe tin bạn đã xuống tóc để làm ni sư khất sĩ, thoát khỏi bụi trần. Chúc bạn bình an
Ông ngoại của bạn chính là thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, 1 trong những người mình thích nhất vì sự ngang tàn, ngạo nghễ trong thơ và ngoài đời:

Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi
(NBS)

Nguyễn Thùy Song Thanh

Cánh Cửa: giữa Đi và Về

 đọc sách

 ■  Người đời sử dụng ngôn ngữ như dụng cụ để thông giao trong khi thi sĩ buộc lời nói còn ở dạng thô sơ (parole brute) này phải im tiếng để cho lời nói thiết yếu (parole essentielle) tức ngôn ngữ thi ca cất tiếng. Thi sĩ áp đặt niềm im lặng lên ngôn ngữ thông thường thô sơ để lắng nghe lời nói thiết yếu cất tiếng trong niềm im lặng.

Làm gì có sự phân biệt quái đản, như trên. Khi Prévert, đặt tên cho tập thơ của ông là "Paroles” thí dụ, thì nó là ngôn ngữ gì, brute, hay essentielle?
Những câu thơ của ông, là ngôn ngữ hàng ngày, đâu thấy “essentielle” ở chỗ nào?
Phán khủng quá, thì phải đưa ra 1 thí dụ, 1 hình ảnh... để cho người đọc mở mắt ra chiêm ngưỡng ch
ứ!
Đọc lời phán về thơ của Thầy Đạo, thì Gấu lại nhớ ra lần đầu được ngồi với thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn, ở Quán Chùa. Giữa cả đám Bắc Kít, ông nói giọng Bắc Kít, tức thứ ngôn ngữ “brute”, nhưng bất ngờ có 1 tay Trung Kít, ghé ngang bàn, chỉ để hỏi thăm, hay bắt tay thiên tài, là ông bèn trở ngay qua ngôn ngữ "tinh anh, thiết yếu…..", tức tiếng Huệ!
Cái từ “đọc sách” ở đây, nghe đúng là thứ tiếng “brute”, có lẽ nên thay bằng cụm từ "giới thiệu", hay "đọc" thơ - không phải sách - thơ của nữ thi sĩ NTST.
Đọc sách khác đọc thơ!

Thơ Nguyễn Thuỳ Song Thanh, cộng cả cuộc đời của bà, và cộng luôn cả thơ và cuộc đời của ông chồng của bà, tức Khoa Hữu, làm Gấu nhớ tới câu của Borges: Mỗi bài thơ, tới thì của nó, thì bèn biến thành 1 bi khúc, in time, every poem becomes an elegy. Và đây là cuộc thoại bắt đầu ngàn ngàn năm trước, và chẳng bao giờ chấm dứt, theo nghĩa, sách [thơ, ở đây] tái tạo quá khứ, books restored the past. Phải ngàn ngàn năm sau, tiếng thơ này mới lại được cất lên, và trở thành 1 bi khúc, tái tạo quá khứ 1 thời đại.

Câu chuyện thơ của NTST và ông chồng Khoa Hữu, làm Gấu nhớ đến trường hợp nhà thơ Osip Mandelstam, và bài ai điếu của Brodsky:

Bà đâu có muốn lớn lao, cao cả như vậy, ngay cả chuyện giản dị, là muốn ngang hàng với chế độ, cũng không. (1)

Đúng như thế, NTST cũng không muốn mấy chuyện nhơ bửn đó.
Như ông chồng của bà.



*

*

Louise Glück
b. 1943

Louise Glück is considered by many to be one of America’s most talented contemporary poets. The poet Robert Hass has called her “one of the purest and most accomplished lyric poets now writing,” and her poetry is noted for its technical precision, sensitivity, and insight into loneliness, family relationships, divorce, and death. Frequently described as “spare,” James K. Robinson in Contemporary Women Poets also noted that “Glück’s poetry is intimate, familial, and what Edwin Muir has called the fable, the archetypal.” Rosanna Warren has described Glück’s “classicizing gestures”—her frequent reworking of Greek and Roman myths such as Persephone and Demeter, for example—as necessary to her lyric project. According to Warren, Glück’s “power [is] to distance the lyric ‘I’ as subject and object of attention” and to “impose a discipline of detachment upon urgently subjective material.” Glück’s early books feature personae grappling with the aftermaths of failed love affairs, disastrous family encounters, and existential despair, and her later work continues to explore the agony of the self. In the New York Times, critic William Logan described her work as “the logical outcome of a certain strain of confessional verse—starved of adjectives, thinned to a nervous set of verbs, intense almost past bearing, her poems have been dark, damaged and difficult to avert your gaze from.”  (b)
****


AUGUST 15

Louise Gluck

For the lucky, born into a geography not visited by war or political terror, the events in life that leave the soul scoured and disoriented are death and divorce. Divorce is a kind of death. Even for people glad to get out of relationships, the props of a life have to be remade, families, habits, houses, even towns. And it can leave a life stripped bare.
    Not surprising that it is a subject for poetry, but it is surprising how little serious and sustained examination of the subject there has been in our poetry, given how common and how devastating the experience can be.
    For the last ten years Gluck, one of the purest and most accomplished lyric poets now writing, has turned from the form of her early books, traditional collection of poems written over a period of time, to a series of book-length sequences. They are written in her characteristically spare and elegant style. They are books of individual poems, but they make a narrative sequence, and so they are able to explore a subject in many moods and from many points of view in a way that is reminiscent of the old sonnet sequences that explored all the phases of a love affair. The first one, Ararat, dealt with a family of three women in the aftermath of the death of a husband and father. The second one, the Pulitzer Prize-winning The Wild Iris, was a meditation on the turning of the year in a northern New England garden. The third, Meadowlands, based on the story of Ulysses and Penelope and Telemachus, was about a marriage coming apart. The newest one, published this year, is Vita Nova (Ecco Press). Its subject is that life after divorce. It begins from something like the place Emily Dickinson described so accurately:

After great pain, a formal feeling comes-
The Nerves sit ceremonious, like Tombs-

Here are a couple of the poems:

The Garment

My soul dried up.
Like a soul cast into a fire, but not completely,
not to annihilation. Parched,
it continued. Brittle,
not from solitude but from mistrust,
the aftermath of violence. 

Spirit, invited to leave the body,
to stand exposed a moment,
trembling, as before
your presentation to the divine-
spirit lured out of solitude
by the promise of grace,
how will you ever again believe
the love of another being?
My soul withered and shrank.
The body became for it too large a garment.
And when hope was returned to me
it was another hope entirely.

Earthly Love

Conventions of the time
held them together.
It was a period
(very long) in which
the heart once given freely
was required, a formal gesture,
to forfeit liberty: a consecration
at once moving and hopelessly doomed.

As to ourselves:
fortunately we diverged
from these requirements,
as I reminded myself
when my life shattered.
So that what we had for so long
was, more or less,
voluntary, alive.
And only long afterward
did I begin to think otherwise.

We are all human-
we protect ourselves
as well as we can
even to the point of denying
clarity, the point
of self-deception. As in
the consecration to which I alluded.

And yet, within this deception
True happiness occurred.
So that I believe I would
repeat these errors exactly.
N or does it seem to me
crucial to know
whether or not such happiness
is built on illusion:
it has its own reality.
And in either case, it will end. 

Robert Hass: 1999/ Now & Then


*

Làm sao viết một câu văn

In the late summer of that year we lived in a house in a village that looked across the river and the plain to the mountains. In the bed of the river there were pebbles and boulders, dry and white in the sun, and the water was clear and swiftly moving and blue in the channels. Troops went by the house and down the road and the dust they raised powdered the leaves of the trees. The trunks of the trees too were dusty and the leaves fell early that year and we saw the troops marching along the road and the dust rising and leaves, stirred by the breeze, falling and the soldiers marching and afterward the road bare and white except for the leaves.

So goes the famous first paragraph of Ernest Hemingway's ''A Farewell to Arms," which I was moved to reread by the recent announcement that what was said to be Hemingway's last novel would be published posthumously next year. That paragraph, which was published in 1929, bears examination: four deceptively simple sentences, one hundred and twenty-six words, the arrangement of which remains as mysterious and thrilling to me now as it did when I first read them, at twelve or thirteen, and imagined that if I studied them closely enough and practiced hard enough I might one day arrange one hundred and twenty-six such words myself.
Joan Didion

Vào cuối mùa hè năm đó, chúng tôi sống trong một căn nhà trong một cái làng nhìn ra sông ra đồng tới tận vùng núi. Ở lòng con sông là đá cuội và đá mòn, khô và trắng trong ánh nắng, và nước sông, trong và chảy nhẹ nhàng, xanh ở trong những dòng rẽ. Những toán quân đi kế bên nhà xuống con lộ và bụi dấy lên phủ lên lá. Thân cây cũng bụi bặm, lá rụng sớm năm đó và chúng tôi nhìn thấy những toán quân đi bộ dọc theo con lộ, bụi dấy lên, và những lá cây, theo làn gió thổi rớt xuống, và những người lính đi bộ, và sau đó con lộ trần trụi, vắng hoe, và trắng toát, ngoại trừ những chiếc lá cây.

Đó là đọan văn trứ danh, hách xì xằng, mở ra Giã từ vũ khí, mà tôi, thật xúc động, khi đọc lại, nhân có tin cuốn tiểu thuyết chót của Hemingway sẽ được xb, sau khi ông mất, vào năm tới.
Đoạn văn trên, ấn bản 1929, nếu nhìn thật gần, thì nó như thế này: bốn câu đơn, 126 từ, sự sắp xếp thì là một niềm bí ẩn mà ngay cả bây giờ, đọc lại tôi vẫn cảm thấy như lần đầu đọc nó, vào lúc 12, 13 tuổi, và tưởng tượng, nếu nhìn thật gần, gẩn nữa, gần nữa, thì tôi có thể, nếu trần lực ra mà đánh vật với chúng, thì có một ngày, tôi sẽ sắp xếp được những từ đó, chính tôi! (1)

Mourir pour une virgule.

A la vérité pourtant, il y a bien chez Cioran une voie de surmonter cette contradiction entre la nécessité du scepticisme et celle, parallèle, de la foi; mais peut-être cette « solution" n'est-elle que nostalgique: en revenir à une espèce de monde cynique, et surrtout qui aurait fait du cynisme sa grandeur, comme le XVIIIe siècle français, a pu en donner l'image. Bref, c'est à une sorte de décadence somptueuse qu'en appelle Cioran, et c'est très exactement ce qu'il exprime dans le chapitre central d'Ecartèlement, « L'Amateur de mémoires, : l'homme qui, dans les Syllogismes de l'amertume, « rêve d'un monde où l'on mourrait pour une virgule ", voit dans le style une façon de concilier le doute avec la grandeur. « Restent cependant les apparences, écrivait-il déjà en 1949 dans le Précis de décomposition: pourquoi ne pas les hausser au niveau d'un style? C'est là définir toute époque intelligente. " La futilité serait ici la vraie profondeur. Le nihilisme se convertit en fin de compte en un rêve d'esthétisme. Du romantisme adolescent de la négation à une sorte de politique détachée et désabusée de l'Artifice, en passant par la lucidité et le cynisme: tel est l'itinéraire que nous convie à emprunter Cioran, et lui confère son extraordinaire actualité. Quand le « désert» croît, comme le disait Nietzsche, peut-être peut-on en arrêter l'expansion par les fêtes ininterrompues d'une Futilité vraie, érigée en mode de vie de philosophie. Ce nihilisme raisonné, doux, subtil, intelligent, porte de fait le beau nom de « Libertinage »•
*
Cái đám ngu đần, bằng cấp bằng kiếc, cái đám viết ào ào, hết tác phẩm này tới tác phẩm khác bằng giọng huênh hoang khoác lác, chúng có bao giờ viết nổi, chỉ một câu văn?

Như câu trên.

Hay như câu này:

Que serais-je, si je pouvais être. Que dirais-je, si j’avais une voix, qui parle ainsi, se disant moi?
Tôi là gì nếu tôi có thể là gì. Tôi nói gì nếu tôi có một tiếng nói. Ai nói thế, nhận là tôi?

Beckett: Textes pour rien.

Thằng chả trong "Những tam đoạn luận của sự cay đắng", mơ một thế giới mà ở đó người ta có thể chết vì 1 cái dấy phẩy, nhìn thấy trong văn phong một phương cách để hòa giải sự hồ nghi và…  đỉnh cao chói lọi.
Cuốn trên, mới tậu, tính lèm bèm về "làm thế nào để viết 1 câu văn", nhân đọc 1 câu của nữ thi sĩ, thấy “làm dáng” quá!

Hà, hà!


Thơ Dã Viên

From Russia With Love


Nobel 2014