nqt
 
  I

1
2

 

Album | Thơ | Tưởng Niệm | Nội cỏ của thiên đường | Sáng tác | Chuyện văn| Dịch thuật | Dịch ngắn | Đọc sách | Độc giả sáng tác |
 Giới thiệu | Góc Sài gòn | Góc Hà nội | Góc Thảo Trường| Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Tạp ghi |
Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín |
Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn| Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn |
Tiểu thuyết
|
Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết| Chân Dung | Jennifer Video
 Thơ Mỗi Ngày|Viết mỗi ngày| Sách & Báo Mới/ Lướt TV/Memo
https://www.facebook.com/quoc.t.nguyen.1
Last Page 

Album

Quoc Tru Nguyen
29 mins ·

Majestic

Image may contain: outdoor
1 Comment
2Đệ Anh and Ngô Nhật Đăng
LikeShow more reactions
CommentShare
Comments
Ngô Nhật Đăng
Ngô Nhật Đăng Chắc lại nhớ vụ Văn Tiến Dũng.
1
Manage
Like
· Reply · 1m
Quoc Tru Nguyen
Quoc Tru Nguyen UPI office 19 Ngo Duc Ke ngay ke ben Majestic
1
Manage
Like
· Reply · 1m

http://www.tanvien.net/tg/tg07_ten_cua_cuoc_chien.html

Từ văn phòng hãng thông tấn UPI, 19 Ngô Đức Kế, nhảy mấy bước là tới khách sạn Majestic. Một bữa xuống sở, gặp nhiếp ảnh viên người Nhật, Sawada Kyoichi. Tôi bảo anh, tuần trước mới cưới vợ. Anh tròn xoe mắt, nói sao không cho biết. Đám cưới mãi tít Cai Lậy, "many VC there!" Anh bật cười, kéo tôi băng qua đường, lên terrace khách sạn, làm một....

Viet Nam War & Sawada

Image may contain: 1 person


No automatic alt text available.


Waiting for SN

*

   
    22.

SELF-PORTRAITS

I paint myself.

           -PABLO PICASSO

RAINER MARIA RILKE was thirty-one years old and living in Paris when he wrote his searching, off-balance sonnet "Self-Portrait in the Year 1906." My favorite translation, if that is the right word, is Robert Lowell's version in Imitations, a book that can be reread in Frank Bidart and David Gewanter's definitive edition of Lowell's Collected Poems.
    Lowell took his idea of "imitation" from Dryden, who in turn borrowed the term from Crowley. "I take imitation of an author ... to be an endeavor of a later poet to write like one who has written before him, on the same subject," Dryden declared in Ovid and the Art of Translation (1680); "that is, not to translate his words, or be confined to his sense, but only to set him as a pattern, and to write as he supposes the author would have done, had he lived in our age, and in our country."
    Lowell could be so free with his texts that they become virtually unrecognizable-"I have been reckless with literal meaning," he confessed-but I find his rhyming version of Rilke's self-portrait utterly convincing. Here, Rilke's seriousness finds a formal American idiom that also feels natural:

SELF-PORTRAIT

The bone-build of the eyebrows has a mule's
or Pole's noble and narrow steadfastness.
A scared blue child is peering through the eyes,
and there's a kind of weakness, not a fool's,
yet womanish-the gaze of one who serves.
The mouth is just a mouth ... untidy curves,
quite unpersuasive, yet it says its yes,
when forced to act. The forehead cannot frown
and likes the shade of dumbly looking down.

A still life, nature morte-hardly a whole!
It has done nothing worked through or alive,
in spite of pain, in spite of comforting ...
Out of this distant and disordered thing
something in earnest labors to unroll.

    Lowell captures Rilke's playful and anguished tone, the self-critical gaze of a young artist who feels unfinished, incomplete haunted by his own weakness. Rilke used the occasion not only to recognize but also to declare his own inner conviction, his deep sense artistic mission. He had already apprenticed himself to Rodin he wrote this poem, and he had taken from the master an unshakable sense of "the great work."
    Lowell's version of Rilke's sonnet stands behind Frank Bidart's poem "Self-Portrait, 1969," which appeared in his breakthrough first book, Golden State (1973). Bidart adds something more open and hesitant, something more radically self-questioning to the form. His complex, original mode of punctuation gives the sense of a man brooding, of consciousness at work. It nails down the way the poet hears phrases coming to him. He stares at himself in the mirror; he responds intensely to what he has just written. Bidart brings to the self-portrait a Yeatsian sense of lyric as a form of arguing with oneself.

SELF-PORTRAIT, 1969

He's still young-; thirty, but looks younger-
or does he? ... In the eyes and cheeks, tonight,
turning in the mirror, he saw his mother,-
puffy; angry; bewildered ... Many nights
now, when he stares there, he gets angry:-
something unfulfilled there, something dead
to what he once thought he surely could be-
Now, just the glamour of habits. . .     .
                                                Once, instead,
he thought insight would remake him, he'd reach
-what? The thrill, the exhilaration
unraveling disaster, that seemed to teach
necessary knowledge ... became just jargon.

Sick of being decent, he craves another
crash. What reaches him except disaster?

Edward Hirsch: Poet's Choice

Note: Đầu tháng, đi gặp bác sĩ gia đình, đo máu, lấy thuốc, ghé tiệm sách cũ, vớ được ba cuốn của Malcolm Lowry. Kể như quà của ông anh, từ bên kia nấm mồ.
Gấu đã lỡ order cuốn này rồi, cùng1 tập thơ của Lowry.

Image may contain: 5 people, indoor




Đảo Xa

Những buổi sáng dưới hỏa diệm sơn

3.10.1972

Nói đến thư trễ, anh nhớ anh vừa đọc xong trong tuần trước một quyển tiểu thuyết thật tuyệt, Under the volcano của Malcolm Lowry. Một truyện tình của một anh chàng say. Có những bức thư tình xếp xó không gửi, những bức thư gửi đến được cất ở quán rượu không được trả lời và một cái carte postale đến trễ cả hai năm trời, đến vào lúc hai người đã gặp nhau vào cái ngày của quyển tiểu thuyết. Thật tuyệt. Thật thơ. Lowry được so sánh với Joyce với Eliot. Em tìm trong các thư viện, đọc thử xem.

Re: Lowry

Oct 1, 2017

Những cuốn sách mất

http://nhilinhblog.blogspot.com/2017/10/nhung-cuon-sach-mat.html#more

Một "thiên đường" khác cũng biến mất, và cũng bị cháy: Malcolm Lowry cho in Under the Volcano năm 1947: Popocatepetl trong cuốn tiểu thuyết vĩ đại là hình ảnh của địa ngục. Lowry sẽ sống mười lăm năm trong rừng, ở nơi hẻo lánh, tại "British Colombia", chính xác hơn là Dollarton, từ 1940 đến 1954. Năm 1944, cái lán nơi Lowry sống bị cháy, và cháy luôn trong đó bản thảo cuốn tiểu thuyết đã viết đến cả nghìn trang, In Ballast to the White Sea, "thiên đường" mà Malcolm Lowry muốn tạo ra, theo "mẫu" Kịch Thần của Dante: ta thấy Montesquieu đã đúng như thế nào.

Kiều cũng hoàn toàn có thể coi là theo đúng mô hình của Kịch Thần. Điều này thậm chí còn quá mức đương nhiên.

Malcolm Lowry luôn luôn gặp vấn đề với các bản thảo: bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay Ultramarine bị mất cắp (khi nó được để trong một cái va li - lại thêm một cái va li nữa - và cái va li ấy để trên ghế chiếc xe mui trần của editor của Lowry) nhưng rất may người bạn đánh máy chữ bản thảo tìm lại được bản giấy than và khôi phục lại. Ngay bản thảo Under the Volcano lẽ ra cũng đã mất: Lowry để quên nó, may mà người vợ tìm thấy.

Nhưng, lại thêm một lần nữa, dường như các thiên đường không được phép tồn tại. Hoặc cũng có thể, những cuốn sách không có đủ chỗ để chứa thiên đường, chúng cũng không có chức năng nói đến thiên đường. Có lẽ không nên cố.

Câu chuyện còn lại trong cuốn sách của Giorgio Van Straten liên quan đến Bruno Schulz, tất nhiên (xem thêm ở kia và ở kia). Có cả một folklore xung quanh cuốn tiểu thuyết đã bị mất bản thảo của Schulz: nó mang nhan đề Messiah. Dường như đã quá rõ ràng, những cuốn sách bị mất như thể muốn nói rằng, đừng có quan tâm đến thiên đường, cũng đừng chú ý đến các "Messiah".

Kể cả trong trường hợp của Dante: địa ngục thì hấp dẫn vô song, nhưng phần thiên đường của Kịch Thần thì liên tục làm người ta ngáp ngủ.

Note: Chắc Gấu phải kiếm Lowry đọc!


No automatic alt text available.







24 mins ·

Ngày Khai Mạc Triển Lãm Tranh Sơn Dầu Họa Sĩ Nguyễn Đình Thuần

Chúc Mừng!

NQT/TT

Image may contain: 1 person, smiling, standing and indoor


Ung Thư

ru Nguyen
July 30, 2017 ·

Bùi Giáng vết về TTT & Huy Cận

Nhận xét của Borges, chỉ những nhà thơ hạng nhì thì mới làm toàn những câu thơ hay, áp dụng vào Bùi Giáng thật quá tuyệt. Nhưng Giàng Búi làm phê bình gia, thì sao?
Cũng tuyệt cú mèo.
Sau đây, là khúc ông viết về Huy Cận, trong Đười Ươi Chân Kinh

Huy Cận

A thân thể! một cái bình tội lỗi
Đất sơ sinh đã hoá lại bùn lầy.

Một ý tưởng chẳng có chi mới lạ. Nhưng câu thơ của Huy Cận lại tươi mát như bầu trời.

Và cổ đứng như mình cây vững chãi
Và vai ngang như mặt nước xuôi dài

Viết câu thơ lai rai như thế mới đích thực là thiên tài. (Còn như bài “Tràng Giang” của ông chính ông cũng lấy làm ưng ý lắm, thật ra còn vướng vướng, không có chi huyền ảo cả.)
Và cái câu:

Tôi đội tang đen và mũ trắng
Ra đi không hẹn ở trên đường

Ông viết hai câu kỳ tuyệt như thế, thì thử hỏi: còn chi đáng kể nữa? Ông thừa sức xô ùa Đường Thi chạy mất hút. Toàn khối thi ca Trung Quốc, toàn khối thi ca Tây Phương, hầu như bị nổ bung long lốc, vì trái lựu đạn đó của ông tung ra.

Và đôi mắt ấy biết nhìn xa
Khi ngoảnh gần bên biết đậm đà
Nhưng cũng biết gieo buồn khía cạnh
Lạnh đồng tê giá nét thu ba

Tại hạ mấy năm nay đọc cũng nhiều thi ca ngoại quốc, mà tuyệt nhiên chẳng thấy vần nào dám ngang nhiên đứng vững trước mấy vần thất ngôn của Việt Nam nọ.
Ấy là bởi vì? Bởi vì thơ Huy Cận vốn là sầu, nhưng đó là sầu thượng đẳng Như Lai, nên chi trong cái nỗi sầu có pha chất gay cấn chịu chơi. Thơ Homer, Sophocles, Shakespeare Nietzsche cũng thường có chất đó. Trái lại, thơ hoằng viễn như không của Nerval, Holderlin, Eluard, lại dường như không có (Ấy là vì họ chịu chơi theo lối từ bi khác).
Dù sao ta cũng có thể nói rằng thơ Huy Cận quả có như là cõi miền huyền bí nhất của tinh thể Đông Phương.

Note: Nhận xét, về chỉ hai câu thơ của Huy Cận, cái gì gì tang đen, mũ trắng quá tuyệt.
Làm Gấu nhớ đến 1 câu mà 1 vị bằng hữu nhận xét, về cái chuyện 'về nhà" (người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn), khi nhắc tới giai thoại, có người hỏi Hemingway về nhà để làm gì, ông trả lời, để treo cái mũ.

Về nỗi sầu của thơ Huy Cận cũng quá thần sầu. Làm nhớ hai câu:

Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tựa ngàn xưa thổi về

Câu phán của Borges, chỉ những nhà thơ hạng nhì thì mới làm toàn thơ hay, quá thần sầu, và áp dụng vào trường hợp Bùi Giáng, thì lại càng quá thần sầu, bởi là vì như thể, ông biết trước là lũ phê bình gia ngu ngốc của xứ Mít, sẽ nhận xét về thơ BG, đúng như thế.

Tuy nhiên, theo GCC, Borges tự khen ông qua câu đó. Ông cũng bị thiên hạ chê, làm thơ dở, và chính ông cũng nhận xét về ông như thế.

I do not set up to be a poet. Only an all-round literary man: a man who talks, not one who sings. . . . Excuse this little apology for my muse; but I don't like to come before people who have a note of song, and let it be supposed I do not know the difference.
The Works of Robert Louis Stevenson
Vailima Edition, XXII, 42 (London, 1923)

Image may contain: text


https://www.claremont.org/…/arti…/the-vietnam-war-revisited/

Image may contain: indoor

Không biết, PTH có đọc Levi-Strauss, nhưng vị này khái quát hơn nhiều, khi đặt tên tác phẩm nổi tiếng của ông là Nhiệt Đới Buồn Thiu, Tristes Tropiques

http://www.tanvien.net/tribute/levi_strauss.html

Ghi chú của người dịch [qua tieng Anh]

Kể từ khi cuốn sách được xb vào năm 1955, nó trở thành nổi tiếng trên thế giới dưới cái tít Tây, thành thử - và cũng theo lời yêu cầu của M. Lévi-Strauss – chúng tôi giữ nguyên tên của nó. Những “Sad Tropics”, “The Sadness of the Tropics”, “Tragic Tropics”… đều không chuyển được ý nghĩa, và hàm ngụ của “Nhiệt đới buồn thỉu buồn thiu”: “Tristes Tropiques”, vừa đọc lên là đã thấy tếu tếu và thơ thơ, ironical and poetic, bởi sự lập đi lập lại của âm đầu, bởi nhịp điệu căng thẳng (- U U – U), bởi giả dụ về một “Hỡi ơi, Nhiệt đới buồn”, “Alas for the Tropiques”.

Cuốn này đã được dịch ra tiếng Việt, “Nhiệt đới buồn”.

Đúng ra, nên dịch là Nhiệt đới buồn thiu, (1) hay buồn hiu, thì vẫn giữ được tính tếu tếu, lẫn chất thi ca, nhưng, có thể vì đã có cụm từ nổi tiếng của PTH, rồi, cho nên đành bỏ chữ "thiu" đi chăng?

Xin giới thiệu, để tham khảo, bài viết của DMT:

Dương vật buồn thiu

http://www.tanvien.net/Presentation/duong_vat_buon_thiu.html

Ngô Nhật Đăng
1 hr

Mình không đồng ý với bà Phạm Thị Hoài nhiều điểm, nhưng vẫn khâm phục vô cùng những định nghĩa về một vài khái niệm của bà. Ví dụ bà gọi cái đám "trí thức XHCN" ở Việt Nam là "những cái dương vật thiu".
Rất hình ảnh và chính xác.

1Như Quỳnh de Prelle

*
Ghi chú của người dịch.
Kể từ khi cuốn sách được xb vào năm 1955, nó trở thành nổi tiếng trên thế giới dưới cái tít Tây, thành thử - và cũng theo lời yêu cầu của M. Lévi-Strauss – chúng tôi giữ nguyên tên của nó. Những “Sad Tropics”, “The Sadness of the Tropics”, “Tragic Tropics”… đều không chuyển được ý nghĩa, và hàm ngụ của “Nhiệt đới buồn thỉu buồn thiu”: “Tristes Tropiques”, vừa đọc lên là đã thấy tếu tếu và thơ thơ, ironical and poetic, bởi sự lập đi lập lại của âm đầu, bởi nhịp điệu căng thẳng (- U U – U), bởi  giả dụ về một “Hỡi ơi, Nhiệt đới buồn”, “Alas for the Tropiques”.


Cuốn này đã được dịch ra tiếng Việt, “Nhiệt đới buồn”.
Đúng ra, nên dịch là Nhiệt đới buồn thiu, (1) hay buồn hiu, thì vẫn giữ được tính tếu tếu, lẫn chất thi ca, nhưng, có thể vì đã có cụm từ nổi tiếng của PTH, rồi, cho nên đành bỏ chữ "thiu" đi chăng?
Xin giới thiệu, để tham khảo, bài viết của DMT:
Dương vật buồn thiu

(1)
Cụm từ Nhiệt Đới Buồn Thiu, hay Buồn Hiu, đã được sử dụng để dịch cái tít cuốn của Lévi-Strauss từ trước 1975, tại Miền Nam.

*
Nguyên Ngọc giới thiệu Nhiệt Đới Buồn
nhân bản tiếng Việt ra mắt độc giả:

Khi một số lượng quá đông người phải sống trên một không gian quá hẹp,
thì xã hội tất yếu “tiết ra” sự nô lệ – ông [Lévi-Strauss] viết.

Và sự 'ăn cướp", Gấu viết thêm.


Other Voyages in the Shadow of Lévi-Strauss
LARRY ROHTER
Đi dưới bóng của me-xừ Lévi-Strauss
NY Times

Whiling away the time in the hamlet’s one general store, I remarked to the proprietor that his shelves seemed empty.
“Aqui so falta o que ñao tem,” he replied: “Here we lack only what we don’t have,”

a phrase that I had first run across in “Tristes Tropiques” just a few days earlier.
Ở đây chúng tớ thiếu cái mà chúng tớ đếch có!

*

The raw, the cooked and Claude Lévi-Strauss
If it weren't for the great anthropologist, who has died aged 100,
 I would never have learned a radical new way of looking at art history
[Dê vật]: Sống, Chín, Thiu, và Buồn Hiu!

Tin Claude Lévi-Strauss mất khi ông tròn 100 tuổi khiến hồi ức của tôi những ngày là sinh viên sống lại, cùng với chúng, là thời kỳ trấn ngự diễn đàn trí thức của nhà nhân chủng học vĩ đại người Pháp này.
Với đám trí thức trẻ thập niên 1980, những cuốn Tư tưởng hoang dại, Sống và Chín chẳng khác chi Thánh Kinh. Lévi-Strauss là vị pháp sư hộ pháp, nếu không muốn nói, vị giáo chủ của cơ cấu luận. Khởi từ những tư tuởng của nhà ngôn ngữ học Ferdinand Saussure, ông khẳng định, mọi huyền thoại, và từ đó, tất cả tư tưởng tiền khoa học, có thể hiểu được bằng những thuật ngữ nằm trong dạng đối nghịch – thí dụ như sống và chín.
Vinh quang, lạ lùng và gây phiền hà, của Lévi-Strauss, hệ tại ở điều, ông khăng khăng bám vào “đẳng thời, đồng bộ”, đếch tin vào “bất đồng bộ, phi đẳng thời”, nghĩa là, ông quan tâm tới những cấu trúc suy tưởng đường dài, [đường trường biết sức ngựa, thì cứ phán ẩu như vậy]. Ông có vẻ như đếch tin vào lịch sử, và thay đổi. Quái lạ là, những tư tưởng của ông, lại rất có ích, rất đáng quan tâm, đối với những sử gia

https://www.economist.com/…/on-tyranny-populism-and-how-bes…

Note: FB/GCC sẽ đi bài này:

Open Future: On tyranny, populism—and how best to respond today


Image may contain: one or more people, people standing and outdoor

Phát xít: Một cảnh báo

MADELEINE ALBRIGHT was America’s first female Secretary of State, from 1997 to 2001. Born in Prague, Czechoslovakia, the young “Marie Jana” was bundled off to Britain during the second world war to escape the Nazis. Soon after her return following the war, her family fled to America to escape the Communists.
Raised as a Catholic, Ms Albright only learned that her family was Jewish and that many relatives perished in Nazi concentration camps when she was 59, after an extensive background check.
Her personal narrative, which parallels the dark forces of 20th-century politics, makes her uniquely qualified to identify and call out the trends of illiberalism in the current political climate. We asked Ms Albright to answer five questions in light of her recent book “Fascism: A Warning”. Her replies are followed by an excerpt from the book.

* * *

The Economist: What is fascism?

Madeleine Albright: There is no consensus definition, which may explain why the term is so indiscriminately tossed about. In my book, fascism is not an ideology of left, right or center, but rather an approach to seizing and consolidating power by an individual or party that claims to be acting in the name of a nation or group.

To merit the label, the protagonists must be willing to use violence and any other means necessary to achieve their ends. Fascism is profoundly anti-democratic, even though a fascist government may attain power through a democratic process.

The Economist: Does the high 20th-century term really apply to today's illiberal politics? Perhaps our political crisis is compounded because we don't have a good term to describe what's happening? Or does “fascism” still work?

Ms Albright: Aside from North Korea, I do not accuse any current government of being fascist. I do, however, see disturbing parallels between contemporary trends and the conditions that gave rise to Mussolini, then Hitler. These include economic disparities, a declining faith in mainstream political parties, the corrosion of public discourse, the defamation of minority groups and a concerted effort by repressive leaders to undermine free expression, pervert logic and distort truth.

Perhaps it is alarmist to observe all this and speak of fascism’s possible return, but my book’s subtitle: “A Warning,” is seriously meant. Millions of people are absent from my generation because, in earlier times, similar signals were ignored.

The Economist: From your experience as a child witnessing tyranny, a student of oppressive regimes as an academic and as a diplomat interacting with odious leaders, how does one counter fascism—not just the politicians, but their mob of followers?

Ms Albright: At the risk of appearing sentimental, the best response to lies is truth and the best response to hate is the tougher sort of love. Amid the Velvet Revolution, Václav Havel told his country’s Communist authorities that they need not fear the democrats who were then protesting in the streets, “because we are not like you.”

Today, we will be lost if we abandon faith in the institutions and values that separate democracies, however imperfect, from tyranny. History is replete with bullies who seemed formidable for a time only to crash by attempting too much or by underestimating the quiet courage of honourable women and men. Scanning the globe at this moment, I see abundant cause for worry, none for despair.

The Economist: Are liberals and democrats too passive? Does a thuggish politics require a more muscular response on the part of those upholding liberal values and democratic traditions? Or does one lose one's soul by stooping to the level of one’s adversary?

Ms Albright: We must push back harder against the cynicism of both right and left. Fascism thrives when there are no social anchors, when the perception takes hold that the media always lies, the courts are corrupt, democracy is a sham, corporations are in thrall to the devil, and only a strong hand can protect against the evil “other”—whether Jew, Muslim, black, so-called redneck or so-called elite. Flawed though our institutions may be, they are the best that 4,000 years of civilization have produced and cannot be cast aside without opening the door to something far worse.

The right response to thuggish politics is not more thuggery; it is a coming together across the ideological spectrum of people who want to make democracies more effective. We should remember that the heroes we cherish—Lincoln, King, Gandhi, Mandela—spoke to the best within us.

The Economist: Many people argue that threats to democracy call for strong institutions to save the day. You have worked at the top of government and talk about institutions too. Yet you seem just as interested in the frailties of the human heart, and the responsibilities of individual citizens in troubled times. Why?

Ms Albright: The experiences that shaped our post-war institutions have grown so distant that many no longer have a clue why those bodies were established. This alone shouldn’t be alarming. We cannot prepare for the future by clinging to the past. Seventy-year-old institutions, like seventy-year-old people, need refurbishment and must occasionally be taught new tricks.

But institutions of any age inevitably reflect the character of those charged with managing them. I pray that we will not have to endure another second world war-scale trauma to recognise the urgency of civic responsibility, international friendships, respect for the rule of law and a little looking out for one another.

No institution, however well-constructed, can help us if we lose our sense of shared humanity and if people everywhere see themselves as victims with a licence to trample the rights of others in search of revenge. We have learned from history that the confident and wise build systematically with brick, while the frightened and self-absorbed build hastily with straw.

* * *

Excerpt from “Fascism: A Warning” (HarperCollins, 2018), by Madeleine Albright

Mussolini observed that in seeking to accumulate power, it is wise to do so in the manner of one plucking a chicken—feather by feather. His tactics live on in our no-longer-new century. When we awaken each morning, we see around the globe what appear to be Fascism’s early stirrings: the discrediting of mainstream politicians, the emergence of leaders who seek to divide rather than unite, the pursuit of political victory at all costs and the invocation of national greatness by people who seem to possess only a warped concept of what greatness means. Most often, the signposts that should alert us are disguised: the altered constitution that passes for reform, the attacks on a free press justified by security, the dehumanisation of others masked as a defense of virtue, or the hollowing out of a democratic political system so that all is erased but the label.

We know from experience that Fascism and the tendencies that lead to it are subject to imitation. Surveying the world today, we see apprentice autocrats copying repressive tactics that had their tryouts in Venezuela or Russia fifteen years ago. Undemocratic practices are on the rise in, among other places, Turkey, Hungary, Poland and the Philippines, each a treaty ally of the United States. Radical nationalist movements—some violent, some not—are achieving notoriety as they draw media attention, make parliamentary inroads and push the boundaries of public discussion toward bigotry and hate. America, the rock against which Fascism crashed in the last century, may have begun to slide.

As regularly as we use the term, few current heads of government fully embody the spirit of Fascism. Mussolini remains in his grave and Hitler never had one. But that is no grounds for relaxed vigilance. Every step in the direction of Fascism—every plucked feather—causes damage to individuals and to society; each makes the next step shorter. To hold the line, we must recognise that despots rarely reveal their intentions and that leaders who start out well frequently become more authoritarian the longer they hold power. We must acknowledge, as well, that anti-democratic measures will often be welcomed by some of the people, some of the time—especially when those measures are deemed to favour their own.

It is important to remember that actions taken today depend largely on expectations about the future. If a foreign country feels abandoned by the United States, or uncertain about its leadership, that nation may see a need to act more forcefully—and perhaps unwisely—on its own. At a minimum, the country may see no choice but to invest in what amounts to foreign-policy insurance by strengthening ties to others, leaving the United States on the outside looking in. There is also the chance that intemperate words and ill-conceived threats will ramp up tensions suddenly, induce panic on the part of some, and lead everyone over the cliff to war. There are certainly enough trouble spots—beginning with the Middle East and the Korean Peninsula—to merit anxiety. During the Cold War, we installed hotlines so the US president could allay any misunderstandings by talking directly to a foreign leader. I’m not sure how much faith we would invest in that option today.

Finally, and even more seriously, I fear a return to the international climate that prevailed in the 1920s and 30s, when the United States withdrew from the global stage and countries everywhere pursued what they perceived to be their own interests without regard to larger and more enduring goals. When arguing that every age has its own Fascism, the Italian writer and Holocaust survivor Primo Levi added that the critical point can be reached “not just through the terror of police intimidation, but by denying and distorting information, by undermining systems of justice, by paralysing the education system, and by spreading in a myriad subtle ways nostalgia for a world where order reigned.” If he is right (and I think he is), we have reason to be concerned by the gathering array of political and social currents buffeting us today—currents propelled by the dark underside of the technological revolution, the corroding effects of power, the American president’s disrespect for truth and the widening acceptance of dehumanising insults, Islamophobia and anti-Semitism as being within the bounds of normal public debate. We are not there yet, but these feel like signposts on the road back to an era when Fascism found nourishment and individual tragedies were multiplied millions-fold.

_____________

Excerpted from “Fascism: A Warning”. Copyright © 2018 by Madeleine Albright. Used with permission of HarperCollins, New York. All rights reserved.

_____________

Excerpted from “Fascism: A Warning”. Copyright © 2018 by Madeleine Albright. Used with permission of HarperCollins, New York. All rights reserved.

Image may contain: text































Longest lunar eclipse of this century begins
The total eclipse lasts an hour and 43 minutes, with the entire event lasting closer to four hours.
Appears red in some parts of the world

https://ca.yahoo.com/…/skywatchers-looking-forward-complete…

Image may contain: one or more people and night


Cu An @ Vientiane

Image may contain: 2 people, people standing

Waiting for SN

Mùa Hè Miền Nam

… ngay sau một kỳ Le Grand Meaulnes bản dịch Mặc Đỗ

Tks. Take Care.
NQT

Cái truyện ngắn này, khi viết nó, là Gấu rắp tâm chơi 1 cuốn truyện dài, và quả đúng như thế, nó quá bảnh để mở ra cuốn truyện. Sau đó, bỏ luôn.
Phải đến giờ này, thì Gấu mới nghĩ là, mình phải viết tiếp nó, sau khi vớ được cuốn Đi Tìm Một Nhân Vật của Graham Greene, đúng theo ý của Kafka, khi phán, đời sống có 1 cái ý nghĩa, là, nó ngưng!
The meaning of life is that it stops.

Image may contain: text



Image may contain: text



Image may contain: text



Image may contain: text



No automatic alt text available.


Waiting for SN


To: You, GCC
Czeslaw Milosz

FOR MY EIGHTY-EIGHTH BIRTHDAY

A city dense with covered passageways, narrow
little squares, arcades,
terraces descending to a bay.

And I, taken by youthful beauty,
bodily, not durable,
its dancing movement among ancient stones.

The colors of summer dresses,
the tap of a slipper's heel in centuries-old lanes
give the pleasure of a sense of eternal recurrence.

Long ago I left behind
the visiting of cathedrals and fortified towers.
I am like someone who just sees and doesn't pass away,
a lofty spirit despite his gray head and the afflictions of age.

Saved by his amazement, eternal and divine.

Genoa, 30 June 1999

Cho 88th Birthday của GCC

Thành phố đậm đặc với những l
ối đi có mái che dành cho khách bộ hành
Những quảng trường nhỏ hẹp, những vòm cung.
Những terraces dẫn xuống bãi biển

Và Gấu bị mê hoặc bởi cái vẻ đẹp của 1 thân thể trẻ trung, không thể kéo dài
Cái duyên dáng nhảy múa của nó giữa những viên đá cổ xưa

Màu áo dài mùa hè
Tiếng guốc rộn ràng giữa những hè phố hàng hàng thế kỷ của khu Phố Cổ
Chúng đem tới cái lạc thú của một cảm quan về 1 quy hồi vĩnh cửu

Đã lâu lắm rồi
Gấu không còn có cái thú thăm viếng thành quách, lâu đài, tháp cổ….
Gấu như 1 ai đó, chỉ nhìn, và đứng ỳ ra, đếch chịu đi xa, lên chuyến tàu suốt!
Một thứ tinh anh, cái gì gì “nhân hậu và cảm động”, như Seagull đã từng nhìn ra
Mặc dù chẳng còn cái răng nào, tóc bạc phếch, và cái đau tuổi già

Được cứu vớt nhờ cái sự ngỡ ngàng, hoài hoài, thiêng liêng, thần thánh

Hai bài sau đây, có thể gửi theo TTT.

AGAINST THE POETRY OF PHILIP LARKIN

I learned to live with my despair,
And suddenly Philip Larkin's there,
Explaining why all life is hateful.
I don't see why I should be grateful.
It's hard enough to draw a breath
Without his hectoring about nothingness.

My dear Larkin, I understand
That death will not miss anyone.
But this is not a decent theme
For either an elegy or an ode.

My dear Larkin
Chết chẳng tha 1 ai
Nhưng đâu phải đề tài sạch sẽ
Cho 1 bi khúc, hay 1 ode!


ON THE DEATH OF A POET

The gates of grammar closed behind him.
Search for him now in the groves and wild forests of the dictionary.

Cái cánh cổng văn phạm - rằng, sáng mai "khua" thức, hay, "khuya" thức, đưa em vào "quán trọ", hay, "quán rượu" - đã đóng lại sau lưng ông.
Kiếm ông ta bây giờ, là ở trong rừng thông Đà Lạt, hay, ở mùa này, gió biển thổi điên lên lục địa!



Thơ Milosz cực kỳ trí tuệ, lũ Mít không làm sao làm được, hiểu được, chấp nhận được – Võ Phiến chẳng đã có lần vặc ông em (?) của ông, là Thầy Kuốc, có thứ thơ nhảm nhí đó ư? – Ở nền thơ của ông là Ky Tô Giáo, cái này Mít, không phải thi sĩ, mà nhân dân, cũng ít có. Bắc Kít lại càng thù Ky Tô, khi buộc tội họ đem Bạch Quỉ tới xứ Mít.
TTT phải đến khi tù VC mới tới được cõi thiền, mới có cái gọi là "ẩn mật". Có thể nói nhà tù cứu TTT, cứu cả thơ Mít. Ta Về, Giải oan cuộc biển dâu này, nghĩa của nó là thế. 

 

Tứ tấu khúc

Mùa Hè Miền Nam


Re: “Ông em” Võ Phiến.

Kái này, là do chính Thầy Kuốc kể, lần đầu Người gặp Mai Thảo. Ông Trùm Sáng Tạo kười kuời phán, Hưng Cuốc đó ư, chẻ quá nhỉ!
Bị cái bóng của Mai Thảo chiếu tướng, chắc thế, nhà phê bình tuổi trẻ tài cao ấp úng, thưa Bác, Chú… MT gạt phắt, anh/em được rồi.

Sau đó, gặp Võ Phiến, NHQ, áp dụng anh/tui vào nhà tiên chỉ, Người bực ra mặt…

Vưỡn chuyện xưng hô. Trong đám Sáng Tạo, Gấu thưa anh, xưng em, với TTT, và Ngọc Dũng, vì coi, trong gia đình, không mắc mớ tới “vuông chiếu văn nghệ”. Những đấng khác, anh/tôi. Lần ngồi Quán Chùa, có ba tên, MT, Gấu và Nguyễn Đình Toàn. Hai đấng “mày tao” lia chia, Gấu kính cẩn ngồi nghe, không dám góp chuyện.
Nhớ, lần điểm cuốn “Mười khuôn mặt văn nghệ” của Tạ Tỵ, trên trang VHNT của tờ Tiền Tuyến. Chê.
Sau được nghe, Tạ Tỵ phán, tao chơi với ông anh của nó [Nguyễn Hoạt]; Nó “chửi” tao là nó chửi anh nó!

http://oriana-poetry.blogspot.com/…/milosz-at-gates-of-heav…

     Czeslaw Milosz, Krakow 2002. Photo: Judyta Papp


AN ALCOHOLIC ENTERS THE GATES OF HEAVEN


What kind of man I was to be you’ve known since the beginning,
since the beginning of every creature.

It must be horrible to be aware, simultaneously,
of what is, what was,
and what will be.

I began my life confident and happy,
certain that the Sun rose every day for me
and that flowers opened for me every morning.
I ran all day in an enchanted garden.

Not suspecting that you had picked me from the Book of Genes
for another experiment altogether.
As if there were not proof enough
that free will is useless against destiny.

Under your amused glance I suffered
like a caterpillar impaled on the spike of a blackthorn.
The terror of the world opened itself to me.

Could I have avoided escape into illusion?
Into a liquor which stopped the chattering of teeth
and melted the burning ball in my breast
and made me think I could live like others?

I realized I was wandering from hope to hope
and I asked you, All Knowing, why you torture me.
Is it a trial like Job’s, so that I call faith a phantom
and say: You are not, nor do your verdicts exist,
and the earth is ruled by accident?

Who can contemplate
simultaneous, a-billion-times-multiplied pain?

It seems to me that people who cannot believe in you
deserve our praise.

But perhaps because you were overwhelmed by pity,
you descended to the earth
to experience the condition of mortal creatures.

Bore the pain of crucifixion for a sin, but committed by whom?

I pray to you, for I do not know how not to pray.

Because my heart desires you,
though I do not believe you would cure me.

And so it must be, that those who suffer will continue to suffer,
praising your name.

~ Czeslaw Milosz, This, 2000.

Image may contain: one or more people and indoor

Thơ Mỗi Ngày

The Anger of Exile

By Colm Tóibín

The Hakawati
by Rabih Alameddine
Anchor, 513 pp., $16.00 (paper)
Cockroach
by Rawi Hage
Norton, 305 pp., $23.95

"Wherever I am, Germany is"
Thomas Mann

Gấu ở đâu Mít ở đó!

And I step ashore in a fine rain
To a city so changed
By five years of war
I scarcely recognize
The places I grew up in,
The faces that try to explain.

But the hills are still the same
Grey-blue above
Belfast.
Perhaps if I'd stayed behind
And lived it bomb by bomb
I might have grown up at last
And learnt what is meant by home.

Derek Mahon

Giận dữ lưu vong

Và tôi bước xuống bến tầu Xề Gòn
Dưới cơn mưa Xề Gòn thật mịn màng
Về với thành phố quá đỗi đổi thay
30 năm nội chiến từng ngày
Tôi không làm sao nhận ra
Những nơi chốn mà tôi đã từng lớn lên
Những khuôn mặt cố giải thích

Nhưng bến tầu thì vẫn bến tầu
Những ống khói tầu thì vẫn mệt lả
Nơi tôi ném mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông thì cũng vưỡn còn
Tôi ra đi nơi này vưỡn thế!

Có lẽ nếu tôi đừng đi, và cứ lì ở lại
Và sống với Xề Gòn từng trận hỏa tiễn VC réo ngang đầu
Từng trận B52 rải thảm quanh thành phố
Sau cùng tôi sẽ trưởng thành
Và biết ‘nhà’ nghĩa là cái quái gì


Among the Exiles

One met former cabinet ministers,
University professors, defrocked priests and officers,
Feeding pigeons from a park bench,
Squinting into foreign newspapers
And telling anyone who happened to ask
Not to bother their heads about the truth 

On the use of murder to improve the world
They had many vivid memories
As they huddled in their dim kitchens,
Clipping supermarket coupons,
Shifting the loose dentures in their mouths
While waiting for the teakettle to boil. 

They ate in restaurants with waiters older than themselves,
Musicians whose fingers bled
As they picked at their instruments
Making some tipsy widow burst into sobs
On hearing a tune her husband the general loved,
The one who sent thousands to their deaths. 

Giữa đám Lưu Vong

Người ta gặp những cựu bộ trưởng
Giáo sư đại học, tu sĩ mất áo tu, sĩ quan mất quân phục,
Cho bồ câu ăn ở băng ghế công viên,
Liếc tờ báo chợ
Và biểu người nào tính hỏi,
Này, đừng có bực mình, lúc lắc cái đầu, khi biết sự thực

Về cái việc sử dụng sát nhân để cải thiện thế giới
Họ có nhiều kỷ niệm sống động
Khi quay mòng mòng trong căn bếp tối thui
Cắt cắt mấy cái phiếu siêu thị
Xốc xốc bộ răng giả trong miệng
Trong khi chờ ấm nước pha trà sôi

Họ ăn trong những tiệm bồi bàn già hơn họ
Nhạc sĩ bấm đàn bằng những ngón tay rướm máu (1)
Làm một bà góa ngà ngà say, khóc nức nở
Khi chơi một điệu nhạc mà ông chồng đại tướng ngày nào của bà thích nghe
Ông tướng này đã từng ra lệnh làm thịt hàng ngàn người 

Charles Simic: Master of Disguises 

(1)
Charles Simic chắc là có đọc Kiều rồi, nên thuổng, như đám mũi lõ thuổng nhạc Trịnh, “nghi án” đang gây chấn động trong giới giang hồ Mít ở trong nước: "bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay" !!!
Ui chao, Gấu lại nhớ đến cảnh nàng Kiều họ Trịnh hầu đàn Sáu Dân, Hồ Tôn Hiến, những ngày sau 30 Tháng Tư 1975

PAINTINGS

FOR ZBYLUT GRZYWACZ

Countless paintings hung on the walls
of the apartment on Krakow Street. (Why
Krakow Street in Krakow? The city
didn't know how to get home?)

None of it matters now-
the names of streets, your patriotic passion
for Kazimierz, your loyal photos
of old houses, dilapidated gates.

Even that apartment is gone now.
On canvases: human faces, women's bodies,
gray and pink, the world's yellow stains.
Drawings and sketches of acts, studies of aging,

natures mortes, some dust-covered
and doubly dead, others fresh
as fruit at market stands, gleaming
in June's remembered light.

In summer light strikes objects
directly, while in winter it hides
lazily in wardrobes, sleeps on the stove,
like minerals on museum shelves.

A champion talker, a fan of Caravaggio
you vanished after a few months of illness
of suffering and strength in dying.
Paintings and friendship remain,

canvases, which don't understand
their loneliness, their dusk,
and friendship, which of course
lives on-but as a widow now.

Adam Zagajewski: Unseen Hand

Họa phẩm

Hằng hà trên tường trong căn phòng
Ở Phố Sài Gòn
[Tại sao Phố Sài Gòn trong Sài Gòn?
Thành phố quên mẹ nó tên, hay quên mẹ đường về nhà?]

Mà bây giờ để ý làm chó gì -
Những tên đường, lòng đam mê ái quốc của bạn dành cho
Kazimierz,
Những bức hình trung thành của bạn về những căn nhà cổ,
Những cái cổng xiêu vẹo.

Ngay cả căn phòng thì bây giờ cũng đâu còn
Trên những tấm vải bố: những mặt người, những cơ thể đàn bà,
Xám và hồng, những vết màu vàng của thế giới.
Những vạch, những phác của những hành động,
Những nghiên cứu về già lão,

Tĩnh vật, một số bụi phủ
Và chết hai lần, những bức khác tươi mát,
Như trái cây ở chợ, long lanh trong ánh sáng tưởng nhớ của Tháng Sáu.
Mùa hạ ánh sáng đập thẳng thừng lên những đồ vật,
Trong khi mùa đông, nó ẩn náu một cách lười biếng ở trong tủ áo,
Ngủ ở trong lò,
Như khoáng vật trên những giá ở viện bảo tàng 

Vua đấu láo, đệ tử của Caravaggio
Bạn biến mất sau vài tháng bịnh
Chiến đấu kiên cường trong khi chờ đi xa
Tranh và bạn bè thì còn ở lại

Những tấm vải bố, chúng không hiểu nỗi cô đơn của chúng,
Buổi chạng vạng của chúng
Và tình bạn, lẽ tất nhiên
Tiếp tục sống – nhưng như là một góa phụ.


Ung Thư

La Part d'Exil

Tác phẩm thứ nhì của tôi, Ung Thư (1970) có thể coi như tiếp nối Bếp Lửa. Ung Thư là chấp nhận giữa vô thường và chút hơi ấm của nỗi chết.
Cuốn sách chẳng bao giờ được in ra.

*



Note: Thấy mấy dòng này, trên Blog NL, tò mò gõ Bác Gúc, ra bài thơ thần sầu:

In the garden that yawns and fills with air,
A puzzle that we must solve before our death
So that we may nonchalantly resuscitate later on
When we have led women to excess;
Since there is also a heaven in hell,
Permit me to propose a few things:

I wish to make a noise with my feet
I want my soul to find its proper body.

http://voetica.com/voetica.php?collection=1&poet=45&poem=4037

Piano Solo
Nicanor Parra

Since man's life is nothing but a bit of action at a distance,
A bit of foam shining inside a glass;
Since trees are nothing but moving trees;
Nothing but chairs and tables in perpetual motion;
Since we ourselves are nothing but beings
(As the godhead itself is nothing but God);
Now that we do not speak solely to be heard
But so that others may speak
And the echo precede the voice that produces it;
Since we do not even have the consolation of a chaos
In the garden that yawns and fills with air,
A puzzle that we must solve before our death
So that we may nonchalantly resuscitate later on
When we have led woman to excess;
Since there is also a heaven in hell,
Permit me to propose a few things

I wish to make a noise with my feet
I want my soul to find its proper body.

Văn chương miền Nam: Thanh Tâm Tuyền (1)
Thanh Tâm Tuyền và Ung thư.

Tiểu thuyết Ung thư của Thanh Tâm Tuyền được đăng nhiều kỳ (feuilleton) trên tạp chí Văn, trên rất nhiều số của tạp chí Văn. Giờ là lúc (rất) nên đọc nó.



ON POETRY, UPON THE OCCASION
OF MANY TELEPHONE CALLS AFTER
ZBIGNIEW HERBERT'S DEATH


It should not exist,
considering conception,
gestation and delivery,
quick growth,
decay and death.
What is all that to it?

It cannot inhabit
the chambers of the heart,
the meanness of the liver,
the sententiousness of the kidneys,
or the brain, with its dependence on the grace of oxygen.

It cannot exist, and yet it exists.

He, who served it,
is changed into a thing,
delivered to decomposition
into salts and phosphates,
sinks
into the home of chaos.

In the morning telephones ring.
Straw hats, sleek nylon, linens
tried in front of mirrors
before a day at the beach.
Vanity and lust
as always,
self-centered.

Liberated from the phantoms of psychosis,
from the screams of perishing tissue
 
from the agony of the impaled one,

It wanders through the world,
Forever, clear.
Czeslaw Milosz: New and Selected Poems 1931-2001


DEDICATION

 
You whom I could not save
Listen to me.
Try to understand this simple speech as I would be ashamed of another.
I swear, there is in me no wizardry of words.
I speak to you with silence like a cloud or a tree.

What strengthened me, for you was lethal.
You mixed up farewell to an epoch with the beginning of a new one,
Inspiration of hatred with lyrical beauty,
Blind force with accomplished shape.

Here is a valley of shallow Polish rivers.
And an immense bridge Going into white fog.
Here is a broken city,
And the wind throws the screams of gulls on your grave
When I am talking with you. 

What is poetry which does not save
Nations or people?
A connivance with official lies,
A song of drunkards whose throats will be cut in a moment,
Readings for sophomore girls.

That I wanted good poetry without knowing it,
That I discovered, late, its salutary aim,
In this and only this I find salvation. 

They used to pour millet on graves or poppy seeds
To feed the dead who would come disguised as birds.
I put this book here for you, who once lived
So that you should visit us no more. 

Warsaw, 1945

Czeslaw Milosz: Selected Poems, 1931-2004

Dâng Tặng

Bạn người mà tôi không thể cứu
Hãy lắng nghe tôi
Hãy cố hiểu bài nói này, như tôi xấu hổ vì bài nói khác.
Tôi thề, trong tôi không có sự ma quỉ của những con chữ
Tôi nói với bạn với sự im lặng của đám mây, hay của cái cây.

Điều làm tôi mạnh mẽ, với bạn, chết người.
Bạn trộn lời giã biệt vào một thời đại, với sự khởi đầu của một thời đại khác,
Hứng khởi của hận thù với cái đẹp trữ tình
Sức mạnh mù lòa với hình dạng đã hoàn tất. 

Đây là một thung lũng của những con sông Ba Lan nông, cạn
Và một cây cầu bao la
Đưa tới một vùng sương mù trắng. Đây là một thành phố vỡ nát
Và gió thổi những tiếng la thét của chim hải âu lên mộ bạn
Khi tôi nói với bạn 

Thơ ca là gì nếu không thể cứu
Quốc gia hay dân tộc?
Một sự đồng lõa của những lời dối trá chính thức,
Một bài ca được hát bởi những tên say, cổ của họ sẽ bị cắt một lát sau đó
Đọc cho mấy cô gái đại học 

Tôi muốn 1 thứ thơ ca tốt, đẹp mà không biết điều này
Tôi muốn một thứ thơ ca thật muộn màng tôi mới ngộ ra cái mục đích đáng ca ngợi của nó
Trong đó, và chỉ trong đó, tôi tìm thấy sự cứu chuộc

Họ thường đổ hạt kê, hay hạt anh túc lên những ngôi mộ
Để người chết trở về, hóa trang như là những con chim
Tôi để cuốn sách của tôi ở đây cho bạn, người có lần đã từng sống
Để bạn đừng viếng thăm chúng tôi nữa.


Tưởng Niệm

RIP

*

@ Tài Bửu Café, Cali
Thuan Nguyen‎ to Quoc Tru Nguyen

Hello, anh Tru.

Nha tho PHAM VAN BINH mat 5:00PM tai Nam Calif. ngay 22/7/2018. Sinh quan Dong Ha, Quang Tri. Que noi: Truoi, Thua Thien. Trung uy TQLC su doan TQLC.

TKS

https://www.nybooks.com/articles/2018/07/19/soviet-nostalgia-dancing-in-chains/

Image may contain: 6 people, people smiling

Dancing in Chains
Orlando Figes   
July 19, 2018 Issue
Dancing Bears: True Stories of People Nostalgic for Life Under Tyranny   
by Witold Szabłowski, translated from the Polish by Antonia Lloyd-Jones
Penguin, 233 pp., $16.00 (paper)

Note: Bạn, đọc bài viết, và thật khó mà không nghĩ đến xứ Bắc Kít, suốt 4 ngàn năm văn hiến, không hề biết tự do dân chủ, dưới các thời phong kiến, nô lệ Tầu, Tây, và thê lương hơn, mấy thập niên - kể từ 1945 – nô lệ Vẹm.
Tin Văn sẽ post & dịch bài viết, và có thể sẽ lèm bèm lai rai về lòng hoài hương 1 thời tem phiếu, về những câu chuyện thực, của những con ngưòi nhớ hoài cuộc đời, dưới chế độ bạo chúa. (1)

Bài thơ sau đây, trong cùng số báo.
THE SKY FLASHES


Often when I'm in despair I turn to the back page
of The New Yorker and try to think up something
funny to say. The little drawings are so succinct
it can be hard to tell who's talking. Berryman's

Life, friends, is boring,
though recited by poets everywhere,
has probably been the winning caption
for no cartoon. Last summer I was so low

I ran out of magazines.
I got obsessed with entropy.
Is the world more closely allied with chaos
or with order? I asked everyone I love.

Chaos, my sister said, because she's a doctor.
Order, my mother said,
because she's an abstract expressionist.
I showed my father a cartoon
of a psychiatrist wearing a halo
and a man stretched out on the couch.
I'm afraid I can't help you with that one, he said,
and I was sure he'd win.

I told my sisters look, dad's okay, his mind still works,
he's still a funny man.
It took me all these months to realize
he was only answering me-

I'm afraid I can't help you with that one,
you, whoever you are.
I keep sending that caption in, every week,
hoping one day to win, one day soon,

before we lose him.
Truth is we ought to buy a book of jokes
and practice them over and over until we
perfect the hospice of it,

things are that bad.
My father's name is still funny,
one syllable, rhymes with pain.
Our friends used to call him Pain

and my mother Wacky, but I don't think
anyone could make me. laugh right now.
If you'd laugh, I'd feel less alone.
Do you know my favorite joke,

about the man condemned to be hanged?
When the priest asks if he has anything
to say before they spring the trap, the man
says yes, this thing doesn't look safe.

-Catherine Barnett

(1) Nhắc tới tem phiếu, thì lại nhớ ra vị này:
HOPE IN A THIN SHELL

“You were not who you were, but what you were rationed to be”:
Mi không phải là mi, mà là kẻ được cái chế độ tem phiếu đó nắn khuôn.

Image may contain: text



HAPPY BIRTHDAY!

Ngày Sinh Nhật

Sáng, mình hay soi gương
Xấu và quê một cục
Cũng có lúc dễ thương
Nếu đừng nhìn từng khúc
Nhớ đến người sinh mình
Cám ơn ngày sinh nhật

Mình tìm thấy một câu
Trên mạng internet
“Life isn’t tied with a bow
But it’s still a gift”

Quà mình tuy nhẹ tênh
Mà kết nơ thật đẹp

K

ps. HOPE IN A THIN SHELL . Shell này theo câu chuyện kể, K nghĩ  là vỏ trứng chứ có phải vỏ sò đâu. Sống trong thời tem phiếu, đói rã, chỉ hy vọng cô nhân viên ở cửa hàng thực phẩm ngoắc tay lại cho một bịch trứng vỡ, lòng đỏ lòng trắng lẫn với vỏ trứng để đem về đánh lên chiên làm chả như một bữa tiệc hiếm hoi . Anh thấy  K nói vậy có đúng không ? 

Tks. NQT 

Đúng là vỏ trứng, tôi đọc tới đâu dịch tới đó. Đọc khúc sau thì mới biết dịch sai. Nhưng lười quá, chưa sửa. Tính dịch tiếp thì sửa. Vả lại, tôi đang tính dịch bài phỏng vấn bà này, trên 1 tờ Asian Review cũ, tìm chưa thấy.

Tks again. NQT



Cuốn thơ sau đây, mới tậu, nhân [đang] đọc Milosz, New and Selected Poems 1931-2001, trong có 1 bài tặng Robert Lowell.

TO ROBERT LOWELL

I had no right to talk of you that way,
Robert. An emigre's envy
Must have prompted me to mock
Your long depressions, weeks of terror,
Presumed vacations in the safety of the wards.
It was not from pride in my normalcy.
Insanity, I knew, was insinuating itself
In a thin thread into my very being
And only waited for my permission
To carry me into its murky regions.
And I was watchful. Like a lame man,
I used to walk upright to hide my affliction.
You didn't have to. For you it was permitted.
Not for me, a refugee on this continent
Where so many newcomers vanished without a trace.
Forgive me my mistake. Your will was of no use
Against an illness that held you like a stigma.
And beneath my anger was the vanity,
unjustifiable, of the humiliated. A bit belated,
I write to you across what separates us:
Gestures, conventions, idioms, mores.

Image may contain: 1 person, text

Thủ Thiêm
Đảo Xa

Những buổi sáng dưới hỏa diệm sơn

3.10.1972

Nói đến thư trễ, anh nhớ anh vừa đọc xong trong tuần trước một quyển tiểu thuyết thật tuyệt, Under the volcano của Malcolm Lowry. Một truyện tình của một anh chàng say. Có những bức thư tình xếp xó không gửi, những bức thư gửi đến được cất ở quán rượu không được trả lời và một cái carte postale đến trễ cả hai năm trời, đến vào lúc hai người đã gặp nhau vào cái ngày của quyển tiểu thuyết. Thật tuyệt. Thật thơ. Lowry được so sánh với Joyce với Eliot. Em tìm trong các thư viện, đọc thử xem.

Re: Lowry

Oct 1, 2017

Những cuốn sách mất

http://nhilinhblog.blogspot.com/2017/10/nhung-cuon-sach-mat.html#more

Một "thiên đường" khác cũng biến mất, và cũng bị cháy: Malcolm Lowry cho in Under the Volcano năm 1947: Popocatepetl trong cuốn tiểu thuyết vĩ đại là hình ảnh của địa ngục. Lowry sẽ sống mười lăm năm trong rừng, ở nơi hẻo lánh, tại "British Colombia", chính xác hơn là Dollarton, từ 1940 đến 1954. Năm 1944, cái lán nơi Lowry sống bị cháy, và cháy luôn trong đó bản thảo cuốn tiểu thuyết đã viết đến cả nghìn trang, In Ballast to the White Sea, "thiên đường" mà Malcolm Lowry muốn tạo ra, theo "mẫu" Kịch Thần của Dante: ta thấy Montesquieu đã đúng như thế nào.

Kiều cũng hoàn toàn có thể coi là theo đúng mô hình của Kịch Thần. Điều này thậm chí còn quá mức đương nhiên.

Malcolm Lowry luôn luôn gặp vấn đề với các bản thảo: bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay Ultramarine bị mất cắp (khi nó được để trong một cái va li - lại thêm một cái va li nữa - và cái va li ấy để trên ghế chiếc xe mui trần của editor của Lowry) nhưng rất may người bạn đánh máy chữ bản thảo tìm lại được bản giấy than và khôi phục lại. Ngay bản thảo Under the Volcano lẽ ra cũng đã mất: Lowry để quên nó, may mà người vợ tìm thấy.

Nhưng, lại thêm một lần nữa, dường như các thiên đường không được phép tồn tại. Hoặc cũng có thể, những cuốn sách không có đủ chỗ để chứa thiên đường, chúng cũng không có chức năng nói đến thiên đường. Có lẽ không nên cố.

Câu chuyện còn lại trong cuốn sách của Giorgio Van Straten liên quan đến Bruno Schulz, tất nhiên (xem thêm ở kia và ở kia). Có cả một folklore xung quanh cuốn tiểu thuyết đã bị mất bản thảo của Schulz: nó mang nhan đề Messiah. Dường như đã quá rõ ràng, những cuốn sách bị mất như thể muốn nói rằng, đừng có quan tâm đến thiên đường, cũng đừng chú ý đến các "Messiah".

Kể cả trong trường hợp của Dante: địa ngục thì hấp dẫn vô song, nhưng phần thiên đường của Kịch Thần thì liên tục làm người ta ngáp ngủ.

Note: Chắc Gấu phải kiếm Lowry đọc!

Giuseppe Ungaretti : In memory of  ( Nguyễn Quốc Trụ )

 

BÀI NHỚ THI SĨ

 

 

 

The poet in a trench, on the Italian-Austro-Ungarian war front, ca. 1916, source
http://www.lagrandeguerra.info
http://www.lagrandeguerra.info/links.php

 


Nhân nhắc tới Mai Thảo. Do đọc Poet’s Choice, biết đến Già Ung, và ông bạn thân của Già Ung, thì Gấu nghi, TTT hẳn biết đến ông bạn này, bởi là vì Bài Nhớ Thi Sĩ, tặng Mai Thảo của TTT, đúng là cái tít bài thơ Già Ung tặng bạn, In Memory of.

Thú vị hơn nữa, là trong bài ai điếu MT của TTT, cũng nhắc tới sự kiện này:

Trong đất trời

Đầu năm 78, ở Lao Kay lần đầu tiên nhận được thơ nhà, biết tin anh đi xa. (Vợ tôi viết: “Bố nuôi của Thái về quê ngoại sống, không ở Sàigòn nữa”) tôi như người chợt tỉnh sau giấc hôn thuỵ. Bài Nhớ Thi  Sĩ viết vào lúc ấy đề tặng một thi sĩ đã mất và gửi Anh, một thi sĩ lưu lạc khi chúng tôi nghĩ chắc không còn ngày gặp lại. Trong những lời thơ vẳng trong tôi bấy giờ có cả lời thơ của anh.

Quá tuyệt vời.

Như vậy, là TTT tin rằng, mình sẽ chết trong tù VC, như ông bạn của Già Ung, đã chết ?

Bởi là vì, TTT nghĩ, bạn mình, là MT đã đi thoát, và mình, thì sẽ chết trong tù VC, và Bài Nhớ Thi Sĩ, là của Mai Thảo - trong những lời thơ vẳng trong tôi bấy giờ có thơ của anh - như bài thơ của Già Ung, nhớ bạn mình:

“Kể từ đó, Già Ung sợ rằng, chẳng còn ai nhớ đến bạn của mình, chẳng ai biết bạn mình là ai, và số phận của anh ra sao, anh đã trở thành cái chi chi. Và đúng như thế, Sceab đã trở thành bất tử nhờ bi khúc dịu dàng, tha thiết, mở ra tập thơ đầu tiên của Già Ung.”
Edward Hirsch: Poet’s Choice

Vậy mà lầm bạn mình, với 1 thằng thợ sắp chữ!

http://nhilinhblog.blogspot.com/…/van-chuong-mien-nam-thanh…

Ung thư của Thanh Tâm Tuyền - nếu không phải đối với tất cả (mà có bao giờ "đối với tất cả" được đâu) thì ít nhất cũng với một số người - cho thấy văn chương có thể là gì.

Văn chương có thể là gì? Văn chương nghĩa là giống như Ung thư của Thanh Tâm Tuyền. Thanh Tâm Tuyền viết Ung thư - điều này rất quan trọng - không phải để biểu lộ tư tưởng, không phải vì quẫn bách, bị giằng xé day dứt, "trăn trở" (nếu muốn dùng một idiom xấu xí điển hình của chúng ta), không nhằm phê phán, cũng không với mục đích phản ánh một cái gì. Thế cho nên, chính bởi sự từ chối ấy, một tác phẩm sẽ là tất tật những điều vừa kể trên, nhưng đồng thời còn hơn thế rất nhiều.

Một tác phẩm văn chương ở đó vì nơi này cần có nó. Một cuốn tiểu thuyết như Ung thư cho thấy mức độ vớ vẩn và kém cỏi của các sử gia, các nhà nghiên cứu chính quy (có thể xem, chẳng hạn, ởkia). Muốn biết về một điều gì đó, cần phải (ngoài những cái khác) nhìn vào những gì các nghệ sĩ lớn nói về cái điều ấy. Một nghệ sĩ lớn tức là một dạng tồn tại không để sót gì hết. Nhất lại là một nhân vật như Thanh Tâm Tuyền: tính cách hung bạo ở văn chương Thanh Tâm Tuyền là biểu hiện của một thứ, force (Jacques Derrida chính là người đặt ra mối nghi ngờ về khái niệm forme và chuyển trọng tâm về force, từ đó mà bản thân ở Derrida cũng sẽ đậm dấu ấn violence). Trong truyện, có chi tiết nhắc tới "Thủ hiến", như vậy bối cảnh câu chuyện sớm nhất là 1949 (về Thủ hiến Bắc Việt đầu tiên, xem ởkia). Và nhân vật của Thanh Tâm Tuyền đi xem hát (ở Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội). Vở kịch nào? Lôi vũ.

(một nhân vật của Thanh Tâm Tuyền cũng đi qua Hàng Kèn: tôi từng mất rất nhiều thời gian tìm hiểu xem Hàng Kèn có thể nằm ở chỗ nào hiện nay; mất rất nhiều thời gian vì các miêu tả - của nhiều người - chênh nhau khá nhiều; mãi về sau tôi mới đoán ra, Hàng Kèn (hay "Hàng Kèn Cây Thị") không tương ứng với đoạn nào chạy thẳng một mạch hiện nay, từ đó mà có cảm giác không dễ xác định vị trí của nó; chẳng hạn trong "Phở", Nguyễn Tuân đặc biệt nhấn mạnh vào Hàng Kèn)


Image may contain: text



RIP

*

*

PVB & DTL & NQT & NHP & GNV
@ Tai Buu Cafe

*

GNV & Phạm Văn Bình, cựu Đại Úy TQLC, tác giả bài hát Chuyện Tình Buồn

*

PVB & DTL & NDT
@ Tài Bửu Café

*

Thuan Nguyen‎ to Quoc Tru Nguyen
2 hrs ·

Hello.anh Tru.

nha tho PHAM VAN BINH mat 5:00PM tai Nam Calif. ngay 22/7/2018.sinh quan Dong Ha, Quang Tri. Que noi: Truoi, Thua Thien. Trung uy TLC su doan TQLC.

TKS

Ung Thư

Có mấy sự kiện về TTT, thu thú: Bách Khoa, sào huyệt của Võ Phiến – ông nghe nói, có 1 ngăn tủ riêng, chỉ để lưu giữ thư nữ độc giả - đăng Ung Thư. Trường Thiên chúa giáo, Nguyễn Bá Tòng mời ông dậy học - mỗi lần chào cờ & đọc kinh là vị thầy giáo vô thần vờ.

V/v: TTT không cho xb Ung Thư, dù đã hoàn tất, như chính ông xác nhận, trong 1 cuộc phỏng vấn, hay trong 1 bài tựa cho cuốn Bếp Lửa.
Gấu cũng có tí ý kiến  về vụ này, nhung để từ từ, khui dần...
NQT

No automatic alt text available.

No automatic alt text available.

Thạch, trước khi từ giã Hà Nội, vô Nam, đi tìm Liên, không gặp.
Trong đêm khuya, giữa con hẻm vắng, nhớ Liên quá, bất giác cất tiếng hú, như 1 con chó dại.
Tích, tên ma cô ghiền, là chồng Liên.

Trong Cõi Khác, của GCC, có 1 đoạn, mà, sau này, đọc lại, Gấu nghi, chắc là từ xen trên:

Cõi khác

Sau cùng phải cảm ơn cô bạn đã cho có đủ thời giờ kể hết mối tình. Con chó dại trong một phút cô đơn, tỉnh táo không còn sợ hãi cái bóng của chính nó. Những lần từ biệt cô trên đường trở về, thành phố những đêm run rẩy chờ đợi những đợt pháo kích bất thần giáng xuống. Những ngã tư đường chằng chịt những vòng kẽm gai. Có những khoảng đường phải xuống xe dẫn bộ. Đôi khi đi lầm vào một quãng đường cấm phải đi ngược trở lại. Trong bóng đêm nhợt nhạt của những ngọn đèn đường, nhìn thấy những mũi súng đen sâu thăm thẳm chứa đầy ngờ vực đe dọa. Nhìn thấy hết mọi nỗi bi thương, nếu chẳng may sinh ra mà không được gặp cô bạn, nếu chẳng may bị cô hất hủi, nói không, nói không thể yêu, không thể hiểu được tình yêu là gì. Nhiều lần tới nhà khi đã quá khuya, trong nhà đèn đã tắt, tất cả chắc đã yên ngủ từ lâu: Hoặc hết sức muốn gặp. Muốn nhìn thấy bóng dáng. Nghe tiếng chân di động. Tiếng lách cách mở cửa. Rồi tiếng nói, tiếng nói... Muốn liều lĩnh đập cửa ầm ầm. Bắt buộc cô hốt hoảng trở dậy, vội vã bật đèn, vội vã mở cửa. Bắt buộc cô phải nghe, phải nói, phải gật đầu ưng thuận, trong khi không có thì giờ để phân vân, cân nhắc...
Hoặc không hề có ý định gặp. Không hề trông mong cô sẽ giúp đỡ, thông cảm... Đứng yên lặng trước mái hiên hàng giờ, nghe tiếng chuột chạy trên đám lá khô, tiếng mèo kêu thảm thiết trên mái ngói, chờ cơn cuồng nộ vô ích tàn lụi dần rồi thất thểu rời con ngõ.

     
  • Nhị LinhMay 22, 2013, 5:48:00 PM

    đã hẹn sẽ nói riêng về Ung Thư mà vẫn chưa làm được; đề tài Bếp Lửa Mr Tin văn rành lắm đấy :)

  •      
    Đọc Bếp Lửa
      

          Note: Bài viết này, nhờ Thư Quán của thi sĩ THT mà có được.
          Lấy từ internet. Tks. NQT

          Lần đầu đăng trên Tập san Văn chương (1972).
          Sau Văn đăng lại khi ra số đặc biệt về TTT. Nhờ vậy mà còn.
          Bài đăng trên TSVC có tên là Bếp Lửa trong văn chương.
          Không có khúc viết về thơ TTT.
          Joseph Huỳnh Văn, tổng thư ký TSVC, thú bài này lắm.
          Mày viết bài này là vì tao là tổng thư ký TSVC. Nếu không, đếch viết có phải không?
          Đúng như thế. Lúc đó, Gấu mê Cô Ba quá, chán mọi chuyện, không chỉ văn chương.
          Nay đăng lại, để nhớ bạn hiền, thi sĩ Joseph Huỳnh Văn.
          Anh biểu, với một thằng đàn em, cũng nhà thơ: Tội thằng Trụ, nó nhiều tình cảm quá mà lụy một đời!
          *
          Bà Trẻ Gấu, người đã nuôi Gấu ăn học, đã cấm Gấu không được làm cái nghề đánh người, cũng nhận xét y chang về thằng cháu: Mày đi tu được đấy, nếu không quá lụy vì tình!

          Thì BHD cũng phán y chang, thứ tình yêu đầy những passion, [em xài tiếng Tây], của anh đó, em không có.
          Em "iêu" anh vì tội anh quá!

          Ui chao, sao có người ngu như thế, cô bạn "chửi": Vừa nghe đến tên tui, vậy mà đã mê rồi, đã yên chí, đây là "cô bạn" của mình rồi, thì đúng là cù lần!
          Chờ đợi hàng hàng kiếp kiếp, chỉ để gặp tui, nhìn thấy tui, vậy là bõ công chờ rùi, thì đúng là đại cù lần.

    Bản trên TSVC, nhờ 1 bạn văn ở trong nước, khác bản trên Văn, thêm đoạn viết về Thơ TTT mào đầu.
    Nhớ, lần ở Quán Chùa, ông anh phán, mi đưa cho “Văn” bài viết về ta trên TSVC, Gấu đề nghị, bài cũ, hay là để em viết bài khác, về thơ TTT, ông anh sững người, trố mắt nhìn thằng em, rồi bật cười, “Ừ, viết đi!”
    Ông không hề tin Gấu đọc nổi thơ, nói chi viết, về nó!

    http://www.art2all.net/tho/tho_nqt/doc_thanhtamtuyen.html

    (

    Bản trên tờ Văn, 1973

    *

    Bếp Lửa trong Văn chương

    [xuất hiện lần đầu trên TSVC, 1972]



    https://xanhi.com/hoa-si-nguyen-dinh-thuan-oil-painting-exhibition-at-viet-bao-westminster-ca-july-20-to-22-2018/

    Waiting for SN

    Chúc Mừng Triển Lãm Thành Công

    Image may contain: 1 person, sitting

    Milosz

    Vallejo

    RAINER MARIA RILKE
    1875-1926


    https://www.nybooks.com/articles/2018/07/19/soviet-nostalgia-dancing-in-chains/

    Image may contain: 6 people, people smiling

    Dancing in Chains
    Orlando Figes   
    July 19, 2018 Issue
    Dancing Bears: True Stories of People Nostalgic for Life Under Tyranny   
    by Witold Szabłowski, translated from the Polish by Antonia Lloyd-Jones
    Penguin, 233 pp., $16.00 (paper)

    Note: Bạn, đọc bài viết, và thật khó mà không nghĩ đến xứ Bắc Kít, suốt 4 ngàn năm văn hiến, không hề biết tự do dân chủ, dưới các thời phong kiến, nô lệ Tầu, Tây, và thê lương hơn, mấy thập niên - kể từ 1945 – nô lệ Vẹm.
    Tin Văn sẽ post & dịch bài viết, và có thể sẽ lèm bèm lai rai về lòng hoài hương 1 thời tem phiếu, về những câu chuyện thực, của những con ngưòi nhớ hoài cuộc đời, dưới chế độ bạo chúa

    Bài thơ sau đây, trong cùng số báo
    THE SKY FLASHES


    Often when I'm in despair I turn to the back page
    of The New Yorker and try to think up something
    funny to say. The little drawings are so succinct
    it can be hard to tell who's talking. Berryman's

    Life, friends, is boring,
    though recited by poets everywhere,
    has probably been the winning caption
    for no cartoon. Last summer I was so low

    I ran out of magazines.
    I got obsessed with entropy.
    Is the world more closely allied with chaos
    or with order? I asked everyone I love.

    Chaos, my sister said, because she's a doctor.
    Order, my mother said,
    because she's an abstract expressionist.
    I showed my father a cartoon
    of a psychiatrist wearing a halo
    and a man stretched out on the couch.
    I'm afraid I can't help you with that one, he said,
    and I was sure he'd win.

    I told my sisters look, dad's okay, his mind still works,
    he's still a funny man.
    It took me all these months to realize
    he was only answering me-

    I'm afraid I can't help you with that one,
    you, whoever you are.
    I keep sending that caption in, every week,
    hoping one day to win, one day soon,

    before we lose him.
    Truth is we ought to buy a book of jokes
    and practice them over and over until we
    perfect the hospice of it,

    things are that bad.
    My father's name is still funny,
    one syllable, rhymes with pain.
    Our friends used to call him Pain

    and my mother Wacky, but I don't think
    anyone could make me. laugh right now.
    If you'd laugh, I'd feel less alone.
    Do you know my favorite joke,

    about the man condemned to be hanged?
    When the priest asks if he has anything
    to say before they spring the trap, the man
    says yes, this thing doesn't look safe.

    -Catherine Barnett

    Cuốn thơ sau đây, mới tậu, nhân [đang] đọc Milosz, New and Selected Poems 1931-2001, trong có 1 bài tặng Robert Lowell.

    TO ROBERT LOWELL

    I had no right to talk of you that way,
    Robert. An emigre's envy
    Must have prompted me to mock
    Your long depressions, weeks of terror,
    Presumed vacations in the safety of the wards.
    It was not from pride in my normalcy.
    Insanity, I knew, was insinuating itself
    In a thin thread into my very being
    And only waited for my permission
    To carry me into its murky regions.
    And I was watchful. Like a lame man,
    I used to walk upright to hide my affliction.
    You didn't have to. For you it was permitted.
    Not for me, a refugee on this continent
    Where so many newcomers vanished without a trace.
    Forgive me my mistake. Your will was of no use
    Against an illness that held you like a stigma.
    And beneath my anger was the vanity,
    unjustifiable, of the humiliated. A bit belated,
    I write to you across what separates us:
    Gestures, conventions, idioms, mores.

    Image may contain: 1 person, text

    Thủ Thiêm

    Ham Pham
    Ham Pham Tru den Cali hay la dang con o Canada.
    Manage
    LikeShow more reactions
    · Reply · 16h
    Quoc Tru Nguyen
    Quoc Tru Nguyen O Canada. Muốn qua thăm bạn, nhưng chưa ready. Cho hỏi thăm tất cả. Bạn còn nhớ, tên anh bạn cùng học, ở Úc, bạn của Chu, làm ở Viện Kiểm Soát? Và tên ông nấu cơm tháng cho tụi mình ở Thủ Thiêm?
    Manage
    LikeShow more reactions
    · Reply · 15h
    Ham Pham
    Ham Pham anh ban o Uc la Tran Thien Tich. Nguoi nau com thang o Thu Thiem la ong Yen, sau nay minh doi sang an nha ba Cuu, em cua ong Yen.

    Tks
    NQT

    Ui chao. Gấu cố nhớ ra tên của bạn Trần Thiện Tích, nhưng thua, dù cách đây cũng khá lâu, bạn Lãng [NKL] có nhắc tới. Quen cả 1 đám, trước đó, đến năm học Chu Văn An, thì cùng học với bạn Chất. Anh cũng không nhớ ra tên, nhưng lại nhớ cái nick của bạn Tích, le sheriff. Tếu thế.
    Tích đã có lần ứng cử dân biểu, nhưng thua. Lần thằng em Gấu tử trận, anh tới tận Đài VTD thoại quốc tế, số 5 Phan Đình Phùng, gặp Gấu, để chia buồn, và là tên bạn độc nhất làm việc đó.

    Còn ông bạn quí từng cho Gấu cái áo sơ mi cụt tay, đã cũ, thì rất bực, biểu Gấu, sao thằng em của mi cẩu thả thế! Quên không buộc quai nón sắt.

    Thằng em Gấu, lần tử trận đó, đúng ra không thể tử trận. Không phải ca tuần tra của nó.
    Đang ngồi quán cà phê, hẳn thế, thấy toán tuần tiễu đi qua, nó chạy vội theo, nói, buồn quá.
    Bữa trước đó, thì bỏ quên khẩu súng ngắn ở quán. Đến kiếm, chủ quán vội trả lại.
    Nếu không, đã ở tù, vì làm mất súng!
    Tuy nhiên, khi thằng em vô thăm thằng cu lớn của Gấu, mới đẻ, ở viện bảo sanh, để trở lại đơn vị, là Gấu đã có cảm giác, không gặp lại.
    Gia đình Gấu bị trù ẻo, vì đã gánh tội cho 1 vùng bị Trời phạt.
    Chính vì thế bà Bà trẻ của Gấu mới cảnh cáo Gấu, khi nạp đơn xin làm biên tập viên Nha Cảnh Sát Gia Định, sau khi đậu Tú Tài II:
    Họ hàng nhà mi không có mả đánh người! (1)

    (1)
    Tự Truyện

    "Cái họa của gia đình mày là do trong dòng họ đã có một người được thờ làm Thành Hoàng sống", Bà Trẻ có lần nói. "Theo như kể lại, vùng đất khi đó xẩy ra bệnh dịch, người chết như rạ. Sau cùng phải hỏi nguồn cơn ở cõi âm. Cô Đồng cho biết phải nhờ một người có đủ đức độ, có chức sắc, võng lọng của nhà vua ban cho, cầu xin người đó làm Thành Hoàng sống, chấp nhận lễ bái phẩm vật, rồi nhờ cái đức của người đó trấn áp, quỷ ma mới không làm nguỵ." "Chẳng biết trận dịch có lui không...", Bà Trẻ buồn rầu nói tiếp, "nhưng hình như bao nhiêu tai họa của cả một vùng đất, của bao nhiêu con người, đều dồn vào dòng họ mày, con trai đều bất đắc kỳ tử. Ông Giáo Dương, bố mày chết lúc hăm mấy tuổi. Ngày xưa đúng ra là... Em mày, thằng Sĩ chết năm hai lăm, hai sáu tuổi gì đó phải không, hình như trước Mậu Thân một năm. Nếu có may mắn sống sót như mày thì cũng sống một cách khốn khổ khốn nạn... Nhiều lần lẩn thẩn suy nghĩ, tao vẫn tự hỏi hay đây cũng là số phận chung cho cả... "

    Lần Cuối Sài Gòn

    Em tôi nằm xuống với một viên đạn ở trong đầu. Mấy người lính kể lại, chuẩn uý không kịp đau đớn. Lời trối trăng nghe như gió thoảng lại: "Chắc tao chết mất..." Trung đội vi hành tuần tra vòng đai phi trường Sóc Trăng. Khi nghe tiếng súng, theo phản xạ, em tôi chúi đầu về phía trước. Chiếc nón sắt quên không buộc rớt xuống và một viên đạn trong tràng AK từ bên sông bắn hú họa xuống mặt sông, dội lên, xớt qua vai rồi hết đà nằm luôn trong ót. Viên bác sĩ quân y nói với tôi, ông đã không lấy viên đạn ra vì sợ làm nát khuôn mặt. "Chuẩn ý Sĩ không kịp ghi địa chỉ cấp báo. Chúng tôi phải nhờ Bưu Điện liên lạc với Sài-gòn. Ngoài mấy bức hình chụp lúc tẩm niệm, chuẩn uý không để lại gì cả. Quần áo, đồ dùng cá nhân, poncho... đều đi theo với chuẩn uý."
    Có, có , chuẩn uý Sĩ có để lại một bà mẹ đau khổ như bất cứ một bà mẹ nào có con trai tử trận, một người anh trai để mang xác em về nghĩa trang quân đội Gò Vấp mai táng, một đứa cháu còn nằm trong viện bảo sanh, người chú vô thăm lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, như để tìm dấu vết thân thương, ruột thịt, trước đi vĩnh viễn bỏ đi...
    Quoc Tru Nguyen shared a post.
    2 hrs ·

    Trước thế giới văn minh, Vẹm và những tên được nêu tên như trong bản án chỉ đích danh, đều là những tên tội phạm, như Vẹm là 1 chế độ tội phạm.
    Đó là bản án của thế giới văn minh dành cho chúng. Bao nhiêu đời sau, nhân loại sẽ gọi, đúng như thế, về Vẹm.
    NQT

    Nghia Bui
    2 hrs ·
    Twitter

    Berlin court says kidnapping was “political infighting”, ordered by party leader; sentences accomplice to 3 yrs 10 mos; requests return of #TrinhXuanThanh to Germany, declaring his forced repatriation to VN and trial a gross violation of international law.

    thoibao.de
    Tòa Thượng thẩm Berlin tuyên án Nguyễn Hải Long 3 năm 10 tháng tù vì tội hoat động gián điệp và tiếp tay cho mật vụ…

    Trớ trêu, là, nước Đức cũng lâm đúng trường hợp Vẹm, khi để xẩy ra vụ Lò Thiêu. Nhũng tên tuổi ghê gớm hơn nhiều, so với lũ ngu si, loài bò sát - từ này của Người Kinh Tế, để chỉ Trọng Lú và Đại Hội Đảng Vẹm của hắn - những Trọng Lú, Tô Lâm, như Himmler, Eichmann…  thí dụ, cũng bị lôi ra toà án tội phạm quốc tế La Haye. Bởi thế, ngay từ khi TXT bị Cớm Vẹm, - dùng giấy tờ dành cho những thượng khách của nước Đức để nhập Đức, và, chủ nhân vừa mới quay mặt đi 1 phát, là biến thành những tên tội phạm - là Gấu đã cảnh cáo, người Đức không tha thứ cho Vẹm đâu, vì đó là “cơ may độc nhất”, họ có được “một” cơ hội, thắp nén nhang đầu tiên, tưởng niệm 3 triệu người Do Thái nạn nhân Lò Thiêu: Đức bị chứng bịnh không thể tưởng niệm Do Thái, như Sebald chỉ ra, y chang Vẹm không thể nhỏ nước mắt cho lũ Ngụy, chẳng thế mà 1 vị bằng hữu Tin Văn, thương hại Gấu, sao mi “lãng mạn” như thế, cứ chờ 1 phép lạ từ lũ Bắc Kít tinh anh!
     
    Researchers in Italy have discovered a lake of liquid water on Mars. It is 20km across and buried 1.5km beneath the planet’s surface, close to its southern polar ice cap. The lake seems to be a Martian cousin of familiar Earthly features such as Lake Vostok, a subterranean lake in Antarctica. The biggest question now is whether there is life on the planet. If ever there was, it could have survived in this isolated pocket of water
     


    Đoạn mở đầu Ung thư của Thanh Tâm Tuyền đặc biệt làm tôi nghĩ tới một cuốn tiểu thuyết kiệt xuất: Quê hương của Nguyễn Tuân. Đây là một cuốn tiểu thuyết kiệt xuất, nhưng điều oái oăm, tôi cho rằng rất ít người đọc nó. (trong điều này - ít người đọc Quê hương - có một phần do một định kiến tồn tại rất dai dẳng, rằng Nguyễn Tuân là một người viết tùy bút, còn khi viết tiểu thuyết thì dở: không, Nguyễn Tuân mới là tiểu thuyết gia lớn; Thanh Tâm Tuyền cũng rơi đúng vào sự oái oăm của những cái nhìn quá mức hạn hẹp tương tự: không, Thanh Tâm Tuyền không chỉ là nhà thơ lớn, mà còn là tiểu thuyết gia vượt xa gần như mọi nhà tiểu thuyết vẫn hay được nhắc đến)

    Rất ít người đọc Quê hương của Nguyễn Tuân còn là do cuốn tiểu thuyết được in thành sách lần đầu tại nhà xuất bản Anh Hoa ở thời điểm gần quãng 45-46; ấn bản của nhà Anh Hoa lại là một ấn bản de luxe. Một ấn bản de luxe, ngoài chuyện nó de luxe, còn có đặc tính sau đây: rất ít người có.

    Nhà xuất bản Trường Sơn tại Sài Gòn từng tái bản Quê hương, nhưng nếu tôi không nhầm (chắc không nhầm) không hiểu tại sao ấn bản Trường Sơn lại không đủ.

    Về sau nữa, có thêm hai ấn bản. Tức là tổng cộng, từng có bốn ấn bản tác phẩm của Nguyễn Tuân, tôi sẽ còn quay trở lại với câu chuyện ấy, và sẽ đặc biệt nhấn mạnh vào hai ấn bản gần đây nhất: câu chuyện Quê hương bộc lộ rất mạnh mẽ phẩm chất không biết đọc của câu chuyện lớn hơn, của phê bình văn học Việt Nam.

    Cũng như Quê hương (và cũng đoạn đầu), đoạn đầu Ung thư sẽ ngay lập tức có hai địa danh: Thư viện Trung ương (nó còn có tên thư viện Pierre Pasquier: tức là giống tên cái trường ở phố Sinh Từ mà nhân vật Thạch trong Ung thư học hồi nhỏ), cùng ga Hàng Cỏ. Tôi chưa thấy ai miêu tả ga Hàng Cỏ rung động như Nguyễn Tuân và Thanh Tâm Tuyền. Miêu tả ấy cũng khiến tôi nhớ đến các miêu tả nhà ga của Blaise Cendrars.

    http://nhilinhblog.blogspot.com/…/van-chuong-mien-nam-thanh…

    No automatic alt text available.


    Ôm em trong tay mà đã nhớ em những ngày sắp tới

    Câu thơ thần sầu, đọc, thì lại vọng lên, ý của Simone Weil:

    Xa xôi cách trở là linh hồn của cái đẹp

    Note: Tiện thể, đi ba bài Thu
    Của Duy Thanh


    Những rừng gió kể chuyện bể khơi
    trời của mây của mùa thu
    những chuyến đi xa không hành lý
    hành trình tới Paris
    suốt đời người
    không muốn nhớ tiếng thì thào thăm hỏi
    móng tay níu chặt hơi sương khói
    ai thổi cơm chiều hay thiêu huỷ tâm tình

    hồn tôi đứng thành tượng
    mình trần
    không bắp thịt
    trận bão cơn điên xô ngã
    ấy mùa đông
    và một phiến đá xanh

    TTT

    Autumn Day
    Rainer Maria Rilke: Herbsttag

    Autumn Day

    Lord: it is time. The summer was immense.
    Lay your shadow on the sundials,
    and let loose the wind in the fields.

    Bid the last fruits to be full;
    give them another two more southerly days,
    press them to ripeness, and chase
    the last sweetness into the heavy wine.

    Whoever has no house now will not build one anymore.
    Whoever is alone now will remain so for a long time,
    will stay up, read, write long letters,
    and wander the avenues, up and down,
    restlessly, while the leaves are blowing.



    Ngày Thu

    Chúa ơi: Đúng là lúc này rồi. Hè mới bao la làm sao
    Hãy trải cái bóng của mi xuống sundials
    Và cho gió tung tăng trên cánh đồng.

    Hãy biểu những trái cây sau cùng, hãy chín mọng, cho kịp những chầu rượu;
    Cho chúng thêm hai ngày hè
    Để có được cái tuyệt hảo - như da thịt ngọt ngào của em - trộn hơi rượu nồng

    Kẻ nào đếch có nhà lúc này, thì đếch cần dựng nhà nữa
    Kẻ nào sống mình ên, thì xin cứ tiếp tục sống một mình
    Vươn vai đứng dậy, đọc, viết những lá thư dài, cho Hải Âu, thí dụ vậy
    Lang thang, lên xuống, những con phố
    Đếch thèm nghỉ ngơi cái con mẹ gì, giữa lá bay đầy trời, trong gió loạn.

    WAIT FOR AN AUTUMN DAY
    (FROM EKELOF)

     Wait for an autumn day, for a slightly

    weary sun, for dusty air,
    a pale day's weather. 

    Wait for the maple's rough, brown leaves,
    etched like an old man's hands,
    for chestnuts and acorns, 

    for an evening when you sit in the garden
    with a notebook and the bonfire's smoke contains
    the heady taste of ungettable wisdom. 

    Wait for afternoons shorter than an athlete's breath,
    for a truce among the clouds,
    for the silence of trees,

    for the moment when you reach absolute peace
    and accept the thought that what you've lost
    is gone for good. 

    Wait for the moment when you might not
    even miss those you loved
    who are no more. 

    Wait for a bright, high day,
    for an hour without doubt or pain.
    Wait for an autumn day. 

    Adam Zagajewski
    [From Eternal Enemies]

    Đợi một ngày thu
    [Từ Ekelof]

    Đợi một ngày thu, trời mền mệt, oai oải,
    không gian có tí bụi và tiết trời thì nhợt nhạt

    Đợi những chiếc lá phong mầu nâu, cộc cằn, khắc khổ,
    giống như những bàn tay của một người già,
    đợi hạt rẻ, hạt sồi, quả đấu

    ngóng một buổi chiều, bạn ngồi ngoài vuờn
    với một cuốn sổ tay và khói từ đống lửa bay lên
    chứa trong nó những lời thánh hiền bạn không thể nào với lại kịp.

    Đợi những buổi chiều cụt thun lủn,
    cụt hơn cả hơi thở của một gã điền kinh,
    đợi tí hưu chiến giữa những đám mây,
    sự im lặng của cây cối,

    đợi khoảnh khắc khi bạn đạt tới sự bình an tuyệt tối,
    và khi đó, bạn đành chấp nhận,
    điều bạn mất đi thì đã mất, một cách tốt đẹp.

    Đợi giây phút một khi mà bạn chẳng thèm nhớ nhung
    ngay cả những người thân yêu ,
    đã chẳng còn nữa.

    Đợi một ngày sáng, cao
    đợi một giờ đồng hồ chẳng hồ nghi, chẳng đau đớn.
    Đợi một ngày thu 




    *

    *

    GNV & Phạm Văn Bình, cựu Đại Úy TQLC, tác giả bài hát Chuyện Tình Buồn

    RIP
    Quoc Tru Nguyen shared a post.
    2 mins ·
    Thảo An Nguyễn Thị
    2 hrs

    TIN BUỒN

    Thi sĩ Trung uý Phạm Văn Bình

    Phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến

    Tác giả bài thơ Hành Khúc Thủy Quân Lục Chiến hay Mười Hai Tháng Anh Đi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc trước 1975 vừa mất tại Mỹ


    *

    PVB & DTL & NDT
    @ Tài Bửu Café

    A HISTORY OF SOLITUDE

     

    Birdsong diminishes.
    The moon sits for a photo.
    The wet cheeks of streets gleam.
    Wind brings the scent of ripe fields.
    High overhead, a small plane cavorts like a dolphin.

    Adam Zagajewski 

    Chuyện Tình Buồn

     Tiếng chim loãng dần.
    Mặt trăng ngồi vào một bức hình
    Má phố ướt, ánh lên ánh trăng.
    Gió mang mùi lúa đang độ chín
    Mãi tít phía bên trên, một cái máy bay
    quẵng 1 đường,

    như chú cá heo.

    Cái tít Chuyện Tình Buồn này, thay vì Một chuyện về nỗi cô đơn, là do Gấu nhớ đến cô bạn, và những ngày Ðỗ Hòa.
    Lần đầu tiên Gấu nghe Chuyện Tình Buồn, là ở Ðỗ Hòa, 1 buổi tối văn nghệ tổ, trong 1 lán nào đó, khi là Y Tế Ðội, và khi 1 anh tù hát lên bản này, một anh khác cầm hai cái muỗng đánh nhịp, Gấu bèn nhớ ra liền buổi tối mò đến thăm em, đứng tít mãi bên ngoài, trong bóng tối nhìn vô căn nhà cũ, em thì đã lấy chồng, có đến mấy nhóc:

    Anh một đời rong ruổi
    Em tay bế tay bồng

    Bèn lủi thủi ra về. Trưa hôm sau, bị tó ở bên Thủ Thiêm, đưa vô trường Phục Hồi Nhân Phẩm, Bình Triệu, vừa hết cữ vã, là xin đi lao động Ðỗ Hòa liền, hy vọng trốn Trại, kịp chuyến vượt biên đường Kampuchia.

    PVB còn 1 bài thơ viết về Thủy Quân Lục Chiến, cũng được Phạm Duy phổ nhạc, trước bài CTB, để tặng Lê Nguyên Khang, chỉ huy trưởng lực lượng này.

    Gấu ghé Tài Bửu là do có hẹn uống cà phe với chàng du tử, nhờ vậy gặp PVB. Ông bạn họa sĩ giới thiệu, và cho biết, ông mới bị cái bịnh đầu quẹo qua một bên, có thể là do kéo đàn vĩ cầm dạo Tiểu Sài Gòn lâu quá.

    PVB hỏi Gấu có tiền không, cho 10 đồng. 

    Gấu thật là cảm động, vì suốt 1 đời lụy Cô Ba, Gấu chưa từng ngửa tay xin tiền ai, trừ 1 lần, bạn tự động móc túi, là bạn C, em ông anh nhà thơ, tình cờ gặp khi vừa ra khỏi 1 con hẻm [hình như hẻm 76, ở Thị Nghè, phía bên kia cầu nếu đi từ Sài Gòn qua Gia Ðịnh]. Bạn cho biết vừa trải qua 1 cuộc giải phẫu, người còn xanh lét.
    Bạn vừa bye bye, dọt ga, là Gấu cũng trở lại con xóm, làm thêm 1 cú, cho thoả thuê, bõ những ngày đói dài người, ngáp vỡ cổ họng, nước mắt nước mũi ràn rụa vì thèm, thiếu thuốc.

    Còn 1 kỷ niệm, là cái áo sơ mi cộc tay sờn cũ, của ông bạn quí, và cuốn tiểu thuyết lừng danh Những Linh Hồn Chết, của Gogol. Cú này viết rồi, viết nữa, sợ bạn quí quê, vì lại lòi ra cái cú Gấu biếu bạn mấy ngàn đóng tiền cọc mua căn nhà ở làng báo chí Thủ Ðức.
    Cái áo, cuốn tiểu thuyết thì bạn nhớ, nhưng lại quên vụ tiền bạc bửn thỉu chẳng đáng nhớ.

    Cái vụ 10 đô này lại làm Gấu nhớ tới vụ ông bạn quí của Gấu, lặn lội từ Mẽo qua trại tị nạn Thái Lan, yêu cầu trưởng Trại Cấm Panat Nikhom cho gặp Gấu, chỉ để biếu 10 đô: Gấu cũng lặn lội từ Canada, đi hai chuyến bay, đến Tiểu Sài Gòn, gặp tác giả Chuyện Tình Buồn, để cám ơn ông, về lần nghe đầu tiên bài hát của ông, tại nông trường cải tạo Ðỗ Hòa, Cần Giờ, và bèn lập tức nhớ cô bạn, nhớ những ngày Mậu Thân, nỗi nhớ bám diết vào da thịt.

    Khủng khiếp nhất, kinh nghiệm lập lại, lần nghe Yanni đầu tiên ngay những ngày đầu tiên chân ướt chân tuyết ở Xứ Lạnh Canada, bài After The Sunrise, đĩa CD đầu tiên, phải đến khi đọc câu của Simone Weil (1) thì mới ngộ ra được, mi sẽ còn sống cuộc chiến đó nhiều lần, rất nhiều lần... và mi còn nợ cô bạn nữ thi sĩ VC, một câu trả lời, khi em hỏi, lần về lại Hà Nội.

    "Anh vẫn còn nghe Yanni…?"

    (1)

    “Xa xôi, cách trở là linh hồn của cái đẹp” [‘Distance is the soul of beauty’]. Simone Weil.

    Milosz mê câu này quá, chôm, đưa vô trong diễn văn Nobel văn chương, và thú nhận trước bàn thờ, tôi mắc nợ bà thật là nhiều...

    Khoảng cách là linh hồn của cái đẹp.
    Gấu cũng mê quá, và bèn áp dụng cho/vào khoảng cách của hai lần nghe 1 bản nhạc sến, trước 195, còn Miền Nam, còn Ngụy, và sau 1975, khi nghe cũng bản nhạc, ở trong tù VC
    “Xa xôi, cách trở là linh hồn của cái đẹp” [‘Distance is the soul of beauty’]. Simone Weil.

    I translated the selected works of Simone Weil into Polish 1958 not because I pretended to be a "Weilian." I wrote frankly in the preface that I consider myself a Caliban, too fleshy, heavy, to take on the feathers of an Ariel. Simone Weil was an Ariel. My aim was utilitarian, in accordance, I am sure, with I wishes as to the disposition of her works. A few years ago I spent many afternoons in her family's apartment overlooking the Luxembourg Gardens-at her table covered with ink stains from I pen-talking to her mother, a wonderful woman in her eighties. Albert Camus took refuge in that apartment the day he received the Nobel Prize and was hunted by photographers and journalists. My aim, as I say, was utilitarian. I resented the division Poland into two camps: the clerical and the anticlerical, nationalistic Catholic and Marxist- I exclude of course the apparatchiki, bureaucrats just catching every wind from Moscow. I suspect un-orthodox Marxists (I use that word for lack of a better one) and non-nationalistic Catholics have very much in common, at least common interests. Simone Weil attacked the type of religion that is only a social or national conformism. She also attacked shallowness of the so-called progressives. Perhaps my intention when preparing a Polish selection of her works, was malicious. But if a theological fight is going on- as it is in Poland, especially in high schools and universities-then every weapon is good to make adversaries goggle-eyed and to show that the choice between Christianity as represented by a national religion and the official Marxist ideology is not the only choice left to us today.
        In the present world torn asunder by a much more serious religious crisis than appearances would permit us to guess, Catholic writers are often rejected by people who are aware of their own misery as seekers and who have a reflex of defense when they meet proud possessors of the truth. The works of Simone Weil are read by Catholics and Protestants, atheists and agnostics. She has instilled a new leaven into the life of believers and unbelievers by proving that one should not be deluded by existing divergences of opinion and that many a Christian is a pagan, many a pagan a Christian in his heart. Perhaps she lived exactly for that. Her intelligence, the precision of her style were nothing but a very high degree of attention given to the sufferings of mankind. And, as she says, "Absolutely unmixed attention is prayer."
    CZLESLAW MILOSZ: THE IMPORTANCE OF SIMONE WEIL

    Tôi dịch 1 tuyển tập Simone Weil qua tiếng Ba Lan, vào năm 1958, không phải là để coi mình là 1 “Weilian”. Tôi viết rõ ra như thế ở trong bài tựa, rằng tôi tự coi mình là 1 Caliban, bằng xương bằng thịt, nặng 1 cục – cái túi thịt thối tha bằng da, như bên Phật nói – làm sao tôi nhẹ như lông hồng, như 1 Ariel? Simone Weil là 1 Ariel. Mục đích ở trên đời của tôi - thì như Thánh Cao phán, trời sinh ta, không phải để ta hư đi, hay nói rõ hơn, tôi muốn là 1 con người hữu dụng, my aim was utilitarian (cú nhắm của tôi có tính vị lợi), và nếu như thế, tôi nghĩ và làm, theo ước muốn của Bà, được đặt tôi, dưới sự sử dụng của Bà.
    Cách đây vài năm tôi trải qua rất nhiều những buổi xế trưa, trong 1 căn phòng của gia đình Ba, nhìn ra vườn Lục Xâm Bảo – ngồi ở cái bàn với những vết mực từ ngòi viết của Bà, nói chuyện với bà cụ thân mẫu của Bà, một người đàn bà tuyệt vời ở tuổi tám mươi. Albert Camus cũng dùng căn phòng này, để lẩn trốn đám ký giả, phóng viên khi ông được Nobel văn chương. Mục đích của tôi, như tôi đã nói, là làm 1 kẻ vị lợi – theo cái nghĩa có ích, có lợi cho đời. Tôi rất đau, rất cáu, về cái chuyện Ba Lam bị chia ra là hai phe: tăng lữ và chống tăng lữ, Ca-tô quốc gia (national Catholic) và Mác Xít – tôi gạt ra ngoài - lẽ dĩ nhiên – đám thư lại “apparatchiki” đón gió Moscow.Tôi nghi ngờ đám Mác xít không chính thống – tôi dùng từ này, vì không kiếm ra từ khá hơn, và đám Ca-tô-líc không quốc gia, có rất nhiều cái chung chạ, ít nhất, những lợi lộc. Simone Weil đả phá thứ tôn giáo chỉ như là 1 thứ đồng thuận xã hội hay quốc gia. Bà cũng đả phá tính nông cạn của đám tự coi chúng là tầng lớp tiến bộ.
    Có lẽ, ý định của tôi, khi tuyển chọn dịch những bái viết của Bà, để dịch qua tiếng Ba Lan, thì có mùi láu cá – malicious: ác ý, hiểm độc… Nhưng nếu một cuộc đánh đấm thần học vẫn tiếp tục, và như ở Ba Lan, đặc biệt, ở trung học và đại học, thì mọi khí giới thì đều tốt cả, để khiến những địch thủ bị lồi con mắt (goggle-eyed) và chỉ ra điều này, sự chọn lựa giữa Ky Tô Giáo như được đại diện bởi tôn giáo quốc gia, và ý thức hệ Mác Xít nhà nước thì không phải là chọn lựa độc nhất để lại cho chúng ta vào những ngày này.
    Czeslaw Milosz: Sự quan trọng của Simone Weil


    Waiting for SN

    https://www.newyorker.com/…/04/philip-roths-propulsive-force

    GCC hết credit, không đọc được, nhưng có mua số báo có bài này.
    Nhân sắp tới SN, dùng bài này làm mồi, để xeo phi.

    The meaning of life is that it stops. Kafka phán.

    Khi nào mi stop, GCC?

    Note: Cuốn dưới đây, “Tìm 1 nhân vật”, In search of a character, của GG, mới mua xon, hóa ra đúng là cuốn Gấu quá cần, để viết 1 cuốn tiểu thuyết, đầu tiên và cuối cùng, trước khi... stop.

    INTRODUCTION

    I HAVE set two of my novels in Africa, A Burnt-Out Case in the Belgian Congo and The Heart of the Matter in Sierra Leone. The circumstances were rather different: I went to the Belgian Congo in January 1959 with a novel already beginning to form in my head by way of a situation - a stranger who turns up in a remote leper-colony. I am not as a rule a note-taker, except in the case of travel books, hut on this occasion I was bound to take notes so as to establish an authentic medical background. Even making notes day by day in the form of a journal I made mistakes which had to be corrected at a later stage by my friend Dr. Lechat. As a journal had been forced on me I took advantage of the opportunity to talk aloud to myself, to record snaps of imaginary dialogue and incidents, some of which found their way into my novel, some of which were discarded. Anyway for better or worse this was how the novel started, though it was four months after my return from the Congo before I set to work. Never had a novel proved more recalcitrant or more depressing. The reader had only to endure the company of the character called in the journal X and in the novel Querry for a few hours' reading, but the author had to live with him and in him for eighteen months. As one grows older the writing of a novel does not become more  easy, and it seemed to me when I wrote the last words that I had reached an age when another full-length novel was probably beyond my powers.
        The second journal, kept during the voyage of a convoy to West Africa in 1941, was written for my own amusement at that period of the war when life and a future seemed uncertain for all of us. I had no book in mind, although during the voyage I remember reading a detective story of a fantastic kind by Michael Innes which set my mind moving in the direction of The Ministry of Fear, an entertainment which I wrote in what spare time from work I could allow myself in Freetown. It was my second visit to West Africa - the first had been in 1934 when I went up through Sierra Leone to the Liberian border and then walked across that strange country to the sea at Grand Bassa. My purpose now was work - government work of rather an ill-defined nature. During those months in Lagos and a year in Freetown I kept no journal for security reasons, and so I have no record of this bizarre period of my life, that included such episodes as a Police Commissioner driven out of his reason by well-meaning M.I.5 agents and my own quarrel with my superior officer two thousand miles away who ceased to send me any money to continue my work. God rest his soul! He is dead now and I was a sore trial to him.
        I did not realize at the time that a novel would emerge from those years, and when five years later I began to write The Heart of the Matter I regretted my lack of notes. So many small details of life in Freetown had sunk for ever into the unconscious. I had stayed too long, so that I took too much for granted, for I have very little visual imagination and only a short memory. In It's a Battlefield the Assistant-Commissioner's journey from Piccadilly to Wormwood Scrubs had to be followed street by street, and with age the memory becomes worse. I had to make four visits of three months each to Indo-China for The Quiet American, but events prevented that in writing A Burnt-Out Case.
    Neither of these journals was kept for publication, but they may have some interest as an indication of the kind of raw material a novelist accumulates. He goes through life discarding more than he retains, but the points he notes are what he considers of creative interest at the moment of occurrence.

    Image may contain: text








    VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 21, 2018 : THANH TÂM TUYỀN VÀ KY TÔ GIÁO/ A BURNT-OUT CASE


                 A Burnt-Out Case.

              Cuốn này, “Một trường hợp lụi tàn”, theo Phạm Việt Cường cho biết, đã có bản tiếng Việt. Gấu sở dĩ chọn nó, để toan tính mở ra cuốn truyện ngăn ngắn của mình, là vì, Gấu cũng đã từng bị VC tính thịt 1 cánh tay của mình, lần ăn mìn claymore ở nhà hang nổi Mỹ Cảnh nơi bờ sông Sài Gòn, mà còn là vì, hình như giống như nhân vật chính trong truyện, Chúa đã bắt kịp Gấu… 1 cách nào đó, sau khi cố tìm cách làm thịt chính Gấu.

    Còn nữa, cuốn A Burnt-Out Case, mắc mớ tới niềm tin Ky Tô, mà những người như TTT, và sau đó, lớp đàn em, trong có Gấu, không có.

    Trong “Lụi Tàn”, có 1 xen giống cái cảnh TTT tả, trong Bếp Lửa, anh chàng Tâm đối diện với Chúa, và bèn vặc, ông mà có đầu thai làm người, thì cũng vô phương cứu loài người, nhất là lũ Mít!

    Trên đường về Lao, GCC mang theo hai cuốn, 1 là cuốn mới mua, của Kadare. Và 1 là cuốn A Burnt-Out Case của Greene, tính mở ra 1 cú “tỉu thết”, chừng trăm trang. Bằng 1 câu thuổng, từ Greene.


    Cuốn đi tìm nhân vật, như GG cho biết, được viết, như là 1 cái "note", bên lề "Một trường hợp lụi tàn"
    Nhân vật chính, ở trong đó, đúng là Gấu, 1 lần toan tính tự làm thịt mìmh - và Chúa đuổi kịp, năn nỉ, đừng đừng…  - lần ở  Phước Lộc Thọ, thí dụ, -
    Cái “cánh tay ma”, của những ngưòi bị cùi, Gấu cũng…  có, lần bị mìn VC ở nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, ở bờ sông Sài Gòn.

    Cánh tay thật, thì đi theo hai ông bạn Phi Luật Tân, và đi theo BHD, khi em phán, mi đi chỗ khác chơi, ta hết lãng mạn rồi!

    Viết Mỗi Ngày

     

    Note: Do tạm thời không thể post trên Tin Văn từ nơi xa, Viết Mỗi Ngày của GNV  được đăng trên art2all.net, cho những độc giả không sử dụng FB.

     VIẾT MỖI NGÀY / MAY 09, 2018 : PHẦN MỘ THANH TÂM TUYỀN

    Quoc Tru Nguyen
    May 9, 2017 ·

     
    Phần mộ Thanh Tâm Tuyền tại Nghĩa Trang Roselawn, Roseville, Minnesota.


    Thanh Tâm Tuyền tên thật Dzư văn Tâm, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1936 tại Vinh (Nghệ An)
     mất trưa ngày 22 tháng 3 năm 2006 tại thành phố Saint Paul, Minnesota.

     


     

    (Ảnh: Dzư Trinh Thảo, qua DC. Blog NXT, Phố Văn] (1)


    Note: Một trong hai lá thư, [chưa từng in ấn, bản tiếng Tây], Nabokov gửi cho Véra, bà vợ, là từ SAINT PAUL, MINNESOTA.
     

    Đây là thành phố TTT tới ở, và mất ở đây.

    Nabokov chê thành phố quá cỡ thợ mộc. Chính vì quá chán nó, mà ông thèm viết bằng tiếng Nga, 1 cuốn tiểu thuyết!

    10 NOVEMBRE 1942, SAINT PAUL, MINNESOTA

    La ville de Saint Paul est grande, froide, avec une cathédrale dans le style de Saint-Pierre-de-Rome sur la colline, et une vue assez morne du Mississippi (derrière lequel se trouve l'autre ville jumelle - Minneapolis). Aujourd'hui j'ai passé toute la journée à l'université, à flâner, à parler et à déjeuner avec les autres professeurs. Je fus horrifié de découvrir que j'avais oublié le texte de ma conférence sur le roman que l'on avait requise pour 10h30 - mais je décidai de parler sans notes et tout cela se déroula de façon agréable et sans accroc. Hier après le voyage à la campagne je suis allé, en proie à un ennui terrible, au cinéma, et suis rentré à pied - je marchai plus d'une heure et me couchai vers 20 heures. En chemin je fus traversé net par un éclair d'inspiration indéfinie - un désir passionné d'écrire, et d'écrire en russe. Et pourtant je n'y arrive pas. Je ne pense pas que quelqu'un qui n'a jamais fait l'expérience de ce sentiment puisse vraiment comprendre son tourment, sa tragédie. L'anglais en ce sens est une illusion et un ersatz. Dans mon état habituel, pris par mes papillons, mes traductions, ou mes articles universitaires, je ne mesure pas moi-même tout le chagrin et l'amertume de ma situation.

    Thành phố Saint Paul thì lớn, lạnh, với 1 cái nhà thờ kiểu Saint-Pierre-de-Rome ở trên một ngọn đồi, và một cái nhìn khá rầu rĩ con sông Mississipi, (đằng sau nó là một thành phố chị em- Minneapolis). Bữa nay, tôi trải qua cả ngày ở Đại Học, đi lang thang, nói chuyện và ăn trưa với những vị giáo sư khác. Tôi giật mình khi khám phá ra bỏ quên bản văn dành cho cuộc nói chuyện , vào lúc 10 rưỡi, về cuốn tiểu thuyết, và tôi quyết định sẽ cương đại, và mọi chuyện đã diễn ra thoải mái, không một trục trặc. Hôm qua, sau chuyến đi về vùng quê, buồn quá, chán quá, tôi bèn chui vô 1 rạp xi nê, và cuốc bộ một tiếng rưỡi đồng hồ trở về nhà, bò lên giường lúc 8 giờ. Trong khi đi, trí tưởng của tôi bỗng vớ được 1 tia sáng sáng tạo thần kỳ, cái mà mấy đấng ken gọi là “yên sĩ phi lý thuần “, không làm sao giải thích được: một đam mê viết, và viết bằng tiếng Nga. Tuy nhiên, tôi thua, không làm sao làm được điều này. Và tôi nghĩ, một người nào chưa từng trải qua kinh nghiệm đó, thì không làm sao mà hiểu được nỗi bi thương của tôi.

    Tiếng Anh, theo nghĩa này, thì là một ảo tưởng, một thế phẩm, không có chó bắt mèo ăn kít, đại khái như thế, nếu không muốn nói, phế phẩm!

    Trong tình trạng hiện thời của tôi, mắc mớ với đủ thứ, nào mê bướm, nào dịch dọt, hay những bài viết dành cho đại học, tôi thấy mình không làm sao thấm thía tới tận đáy cái nỗi đau thương, chán chường về hoàn cảnh của mình.

    GCC đã từng kể về cái lần đọc cọp "Bếp Lửa" trên đường phố Sài Gòn, và “đùng” 1 cái, mặc khải ra cái đam mê khủng khiếp: viết văn!

    Về già, hiểu ra, đúng ra phải nói, đam mê viết, về cái xứ Bắc Kít của GCC!

    Bởi vì Bếp Lửa, là Hà Nội, là Bắc Kít.

    Khủng hơn nữa, tất cả những ‘sửa soạn’ như thế đó, là để trở nên sẵn sàng, ready, để gặp BHD, lần đầu. Chúng chỉ là những thấp thoáng nàng, nói theo Nabokov, khi nhìn lại tác phẩm của mình.

    Nhưng phải đến khi vô Chu Văn An, học chung lớp với ông em nhà thơ, và được anh dẫn về nhà, và nhìn thấy ông anh ngồi co cả hai cái chân lên cái ghế ở một góc nhà, thì Gấu mới hiểu ra, cái sự kiện đọc BL trước đó, chỉ là để đưa đến sự kiện này, hay nói theo kiểu “ẩn dụ”, [sự kiện này nối kết với sự kiện kia]: Cái hình ảnh đó, sẽ là hình ảnh của chính GCC, trong suốt cuộc đời còn lại: sẽ trở thành nhà văn, sẽ viết cuốn tiểu thuyết đầu tay nối liền hai thành phố…..

    Từ những kinh nghiệm riêng tư đó, GGC suy ra, cái gọi là ẩn dụ, liên tưởng, trùng lập, nói cho cùng, đều từ luật nhân quả của Nhà Phật mà ra: mi gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Để có được cái mặc khải, đời của mi sẽ là 1 hình ảnh lập lại hình ảnh kia, thì mi phải có được cái cơ may, khi ông Nguyễn Đình Vượng đẩy cuốn Bếp Lửa ra hè đường Sài Gòn, bán xon, vì đâu có ai thèm mua: Bán xon, đúng thế, nhưng còn là để đợi Anh Cu Gấu đi qua, cúi xuống, cầm lên cuốn sách mỏng dính, bìa màu vàng, và đọc cọp hết cả cuốn sách, vì tiền đâu mà mua!

    Về già, có lần Gấu nằm mơ, trở lại đúng hè phố đó, và cúi xuống, và nghe cuốn sách nói:
    Ta nằm đây, chỉ để chờ mi đi qua, nhặt ta lên. Mi nhặt ta lên rồi, là xong nhiệm vụ của ta!

    [Ui chao, Xạo tổ cha, Gấu lại nghe 1 vị độc giả, trả lời cái mail của Gấu, "How I can survive without your mail"?]

    Nhân quả, ẩn dụ, liên tưởng, trùng lập… bạn muốn gọi nó là cái gì cũng được.

    Thời gian GCC quen gia đình ông anh nhà thơ, thì gia đình nghèo lắm, Gấu thì đói lắm, và nhục lắm, vì ăn nhờ Bà Trẻ. Bà không nói, nhưng cô con gái của bà, tức con của bà chị ruột của bà, thì nói. Bà này khủng lắm, đúng thứ Bắc Kít tàn nhẫn độc địa, Gấu cũng đã kể sơ qua đôi lần, đâu đó.

    Nhưng phải đến chót đời thì GCC mới hiểu ra được, trong ‘ẩn dụ’, trong “liên tưởng” - lấy cái này, để chỉ cái kia; cái này làm nhớ tới cái kia - còn có cái gọi là ‘nhân quả” của Phật Giáo: cái này, là nhân, cái kia, là quả, hay, ngược lại.

    Gấu phát giác ra, cái gọi là lý thuyết nhân quả, trong ẩn dụ, trong liên tưởng, khi đi tù VC. Bỏ xứ Bắc Kít, lên tầu há mồm, ra Đệ Thất Hạm Đội, ở bên ngoài Vịnh Hạ Long, khi đang lênh đênh trên tầu há mồm, thằng cu Gấu nhà quê chưa từng đi biển, đã ói lên ói xuống, nhưng cũng cố nhìn lần chót kỳ quan Hạ Long Bay.

    Vô Nam, ở nhà ông anh vợ, không hề biết đến kinh nghiệm những ngày ở khu lều tạm cư Phú Thọ. Đi học. Ra trường, đi làm. Chưa từng 1 ngày bị đói. Quên dần ám ảnh đói, của xứ Bắc Kít.

    Nhưng thế thì cũng thường thôi, và hình như là số phận chung của cả 1 thế hệ Bắc Kít di cư.

    Phải đến khi đi tù VC, thì Gấu mới biết đến cái hạnh phúc thưởng thức đặc sản cao quý nhất của Miền Nam.


    Thịt chuột.

    Và để được thưởng thức nó, thì phải ăn cái món mầm đá đã!

    Hà, hà!

    Chắc bạn cũng biết câu chuyện Chúa Trịnh chờ xơi mầm đá, ninh hoài không chín, và trong khi chờ, đói mờ người, Trạng Quỳnh bèn dâng món ăn tạm, Chúa ăn ngon quá, khen nức nở, hỏi, món gì vậy. Thưa, Đại Phong.

    Đại Phong, là gió to. Gió to thì đổ đình, đổ chùa. Đổ chùa thì tượng lo. Tượng lo, là lọ tương.

    Để được ăn cái món thịt chuột đó, GCC cũng phải đợi, như Chúa Trịnh, có thể nói, từ lúc bò xuống Tầu Há Mồm, cho đến khi gặp lại đám bộ đội Bắc Kít vô giải phóng Sài Gòn, và đem trả lại cho Gấu cái ám ảnh đói ngày nào, rồi phải đợi đi tù VC....


    Milosz
    Vallejo

    RAINER MARIA RILKE
    1875-1926

    https://www.newyorker.com/…/19…/07/15/the-village-of-ben-suc

    Image may contain: 1 person, child and outdoor


    manhhai

    View of a street in Hanoi, circa 1880 - Rue des Pavillons Noirs - Phố Cờ Đen (nay là phố Mã Mây) khoảng 1880 (?)

    Người Pháp gọi phố Mã Mây là Phố Cờ Đen vì khi Pháp mới chiếm được Hà Nội, phố này từng là nơi trú ngụ của đám quan quân giặc Cờ Đen người Tàu. Khi đó triều đình Huế muốn nhờ đám giặc này chống lại quân Pháp nên đã rước chúng vào VN. Giặc Cờ Đen lợi dụng dip này đã cướp bóc dân lành ở HN và cả nhiều nơi khác.

    ... See More
    Image may contain: tree and outdoor

    manhhai
    TONKIN - Hanoi - Rue des Pavillons Noirs - Phố Cờ Đen, nay là Phố Mã Mây

    Image may contain: one or more people and outdoor


    Hãy yêu người bằng một thứ tình yêu cũ xì, cằn cỗi vì thương hại, cáu kỉnh và cô đơn.
    "Aimer les hommes d'un vieil amour usé par la pitié, la colère, et la solitude".
    C. Milosz: Hành Trình qua Tây Phương.
    Tuyệt cú!

    Note: Bản tiếng Anh, của Milosz, cùng trong bài viết:
    To love people with an old love worn by pity, anger, and loneliness

    READING THE JAPANESE POET ISSA
    (1762-1826)

    A good world-
    dew drops fall
    by ones, by twos


    A few strokes of ink and there it is.
    Great stillness of white fog,
    waking up in the mountains,
    geese calling,
    a well hoist creaking,
    and the droplets forming on the eaves.

    Or perhaps that other house.
    The invisible ocean,
    fog until noon
    dripping in a heavy rain from the boughs of the redwoods,
    sirens droning below on the bay.

    Poetry can do that much and no more.
    For we cannot really know the man who speaks,
    what his bones and sinews are like,
    the porosity of his skin,
    how he feels inside.
    And whether this is the village of Szlembark
    above which we used to find salamanders,
    garishly colored like the dresses of Teresa Roszkowska,
    or another continent and different names.
    Kotarbinski, Zawada, Erin, Melanie.
    No people in this poem. As if it subsisted
    by the very disappearance of places and people.

    A cuckoo call
    For me, for the mountain
    For me, for the mountain


    Sitting under his lean-to on a rocky ledge
    listening to a waterfall hum in the gorge,
    he had before him the folds of a wooded mountain
    and the setting sun which touched it
    and he thought: how is it that the voice of the cuckoo
    always turns either here or there?
    This could as well not be in the order of things.

    In this world
    we walk on the roof of Hell
    gazing at flowers


    To know and not to speak.
    In that way one forgets.
    What is pronounced strengthens itself.
    What is not pronounced tends to nonexistence.
    The tongue is sold out to the sense of touch.
    Our human kind persists by warmth and softness:
    my little rabbit, my little bear, my kitten.
    Anything but a shiver in the freezing dawn
    and fear of oncoming day
    and the overseer's whip.
    Anything but winter streets
    and nobody on the whole earth
    and the penalty of consciousness.
    Anything but.

    Berkeley, 1978

    Czeslaw Milosz: New and Selected Poems, 1931-2001

    31.
    CZESLAW MILOSZ

    I ask not out of sorrow, but in wonder.
    -"ENCOUNTER"

    The first movement is joy,
    But it is taken away.
    -"THE POOR POET"

    What is poetry which does not save
    Nations or people?
    -"DEDICATION"

    Human reason is beautiful and invincible.
    -"INCANTATION"

    The purpose of poetry is to remind us
    how difficult it is to remain Just one person ...
    -"ARS POETICA"

    And the heart does not die when one thinks it should ...
    -"ELEGY FOR N. N."

    What was accepted in bitterness and misery turned into praise ...
    -"FROM THE RISING OF THE SUN"

    There are nothing but gifts on this poor, poor earth.
    -"THE SEPARATE NOTEBOOKS"

    SOMETIMES AT NIGHT or in the early morning, the phrases-the lines-come back to me like talismans, like hard-won messages, metaphysical truths, prayers, offerings from the deep. I was in my early twenties when I first read Czeslaw Milosz's work, which has stayed with me ever since as a touchstone of modern poetry itself I first felt from his work the nobility and grandeur of poetry, yet also learned from him to distrust rhetoric, to question false words and sentiments.
    "Try to understand this simple speech as I would be ashamed of another," he avowed in "Dedication." "I swear, there is in me no wizardry of words." One felt from the beginning the purposefulness of Milosz's deceptive simplicity, his distrust of "pure poetry," his anguished irony, his humility before the perplexing plenitude of reality, the depth of his quest for clarity and truth.
        Milosz's poems circulate in the bloodstream not just of Polish but also of American poetry. He offered us at every stage of his development a model of poetic-of human-integrity and seriousness. One marvels at how much of the twentieth century he forced himself to confront and internalize, how much beauty he wrung from its blood-soaked precincts. So much of his work seems haunted by survivor’s guilt, the poignancy of living after what was, for so many, the world’s end. Poetry served him as an offering to the dead, a form of expiation, a hope for redemption. His first obsessive subject was the grim reality of human suffering. Yet his poems are also filled with a survivor's wonder, with a sense of astonishment that the world still exists at all, that we are here to partake of it with a profound gratitude and reverence. He was submerged, as he put it, "in everything that is common to us, the living." He looked to the earth-to being here-for salvation, and kept an eye on the eternal.
        Milosz's greatest poetry is written at the borders of what can be said. It makes a strong effort at expressing the unsayable. There was always in his work an element of catastrophism, a grave open-eyed lucidity about the twentieth century. His work was initiated by the apocalyptic fires of history. Milosz usefully employed the guilt so deeply ingrained in him to summon old stones, to remember those who came before him. He was weighed down by the past, fundamentally responsible to those he had outlasted, and thus bore the burden of long memory. He taught the American poet-and American poetry itself-to consider historical categories, not the idea of history vulgarized by Marxism but something deeper and more complex, more sustaining: the feeling that mankind is memory, historical memory, and that hope is in the historical." In both poetry and prose he gave us a series of Cassandra-like warnings about America's painful indifference to European experience, about the consequences of what happens when "nature becomes theater." In his splendid poetic argument with Robinson Jeffers, he countered Jeffers's praise of inhuman nature his native realm where nature exists on a human scale. Milosz modeled his own obsessive concern with our collective destiny; with he called "the riddle of Evil active in history." Like Alexsander Wat whose memory he devotedly kept alive, he was deeply aware of tragic fragmentation, but he didn't revel in that fragmentation so much as seek to transcend it. In our age of the most profound relativism, he offered an ongoing search for immutable values. He gave us a historical poetry inscribed under the sign of eternity.
        I love Milosz's poetry for its plenitudes and multilevel polyphonies. He taught us to love lyric poetry and also to question it. He insisted that his poems were dictated by a daimonion, and yet he also exemplified what it means to be a philosophical poet. His poetry was fueled by suffering but informed by moments of unexpected happiness. He understood the cruelty of nature and yet remembered that the earth merits our affection. He thought deeply about the rise and fall of civilizations, and he praised the simple marvels of the earth, the sky, and the sea. "There is so much death," he wrote in "Counsels," "and that is why affection / for pig-tails, bright-colored skirts in the wind, / for paper boats no more durable than we are." He wrote of the eternal moment and the holy word: Is. He reminded us how difficult it is to remain just one person. He insisted on our humanity. I love his poetry most of all for its radiant moments of wonder and being, because of its tenderness toward the human. It is a permanent gift.

    GIFT

    A day so happy.
    Fog lifted early, I worked in the garden.
    Hummingbirds were stopping over honeysuckle flowers.
     There was no thing on earth I wanted to possess.
    I knew no one worth my envying him.
    Whatever evil I had suffered, I forgot.
    To think that once I was the same man did not embarrass me.
    In my body I felt no pain.
    When straightening up, I saw the blue sea and sails.

    Quà tặng

    Một ngày thật hạnh phúc
    Sương tan sớm, tôi làm vườn
    Chim đậu trên cành
    Đếch có cái gì trên mặt đất mà tôi muốn sở hữu
    Đếch biết 1 ai xứng đáng cho tôi thèm
    Cái Ác, bất cứ gì gì, mà tôi đã từng đau khổ, tôi quên mẹ mất rồi.
    Nghĩ, có thời, tôi
    là cùng 1 người, cũng chẳng làm phiền tôi.
    Trong thân thể tôi, tôi không cảm thấy đau
    Khi ngẩng đầu lên, đứng thẳng dậy, tôi nhìn thấy biển xanh và những cánh buồm.

    Berkeley, 1971.

    Edward Hirsch: Poet’s Choice
       
    NOTES ON EXILE

    He did not find happiness, for there
    was no happiness in his country
    ADAM MICKIEWICZ

    USAGE
    Exile accepted as a destiny, in the way we accept an incurable illness, should help us see through our self-delusions.

    PARADIGM

    He was aware of his task and people were waiting for his words, but he was forbidden to speak. Now where he lives he is free to speak but nobody listens and, moreover, he forgot what he had to say.

    COMMENTARY ON THE ABOVE
    Censorship may be tolerant of various avant-garde antics, since they keep writers busy and make literature an innocent pastime for a very restricted elite. But as soon as a writer shows signs of being attentive to reality, censorship clamps down. If, as a result of banishment or his own decision, he finds himself in exile, he blurts out his dammed-up feelings of anger, his observations and reflections, considering this as his duty and mission. Yet that which in his country is regarded with seriousness as a matter of life or death is of nobody's concern abroad or provokes interest for incidental reasons. Thus a writer notices that he is unable to address those who care and is able to address only those who do not care. He himself gradually becomes used to the society in which he lives, and his knowledge of everyday life in the country of his origin changes from tangible to theoretical. If he continues to deal with the same problems as before, his work will lose the directness of captured experience. Therefore he must either condemn himself to sterility or undergo a total transformation.

    Czeslaw Milosz: To Begin Where I Am

    Ghi Chú Về Lưu Vong

    Anh ta không tìm thấy hạnh phúc, bởi vì làm gì có hạnh phúc ở xứ sở của anh ta.
    He did not find happiness, for there was no happiness in his country.

    Adam Mickiewicz.

    Lưu vong: Cách sử dụng

    Hãy coi lưu vong là số kiếp, theo nghĩa một thứ bịnh không sao chữa lành, chỉ có cách đó mới giúp chúng ta vứt bỏ vào thùng rác những hoang tưởng về mình.

    Lưu Vong: Khuôn Mẫu

    Anh ta biết nhiệm vụ của mình, và nhân dân đang chờ đợi những lời nói của anh, nhưng anh bị cấm nói.

    Bây giờ, ở nơi anh đang ở, anh tha hồ mà nói, nhưng chẳng ai thèm nghe, vả chăng, anh quên mẹ những gì anh phải nói.

    Lưu vong: Thích nghi

    Sau nhiều năm lưu vong, chúng mình bèn tưởng tượng đời mình như thế nào, nếu chẳng lưu vong.

    Lưu Vong: Chán Chường

    Cú đánh đầu tiên vào đầu một nhà văn lưu vong, đúng như Võ Phiến đã từng cảm nhận: Nhà văn lưu vong không đem theo được cùng với ông ta, độc giả thân thương của mình!

    Như thế có nghĩa, cùng với sự mất tích độc giả, nhìn vào những trang viết cũ cứ như nhìn vào hư vô.. là chán chưòng, tuyệt vọng, là sợ đếch ai còn biết đến tên ta [loss of name], sợ thất bại, và những dằn vặt về đạo đức [moral torment].

    Nhà văn lưu vong đau khổ bởi vì anh ta lúc nào cũng phải bám vào ý thức, thói quen tập thể. Có lẽ, anh ta, nhà văn như thế đó, chưa hề bao giờ học đứng bằng đôi chân của chính mình.

    Anh ta có thể thắng, nhưng chỉ khi nào, trước đó, anh ta bằng lòng thua.

    [He may win, but not before he agrees to lose]

    Lưu vong là lâm vào tình cảnh thật đáng ngờ, nếu nói về mặt đạo đức, bởi vì nó bẻ gãy kết nối của một con người với  đám đông, nói rõ hơn, nó tách một cá nhân ra khỏi một nhóm, và cá nhân này ngưng không còn chia sẻ kinh nghiệm của mình với những đồng nghiệp bị bỏ lại. Những dằn vặt về đạo đức phản ảnh sự vấn vương của anh ta với một hình ảnh hào hùng về chính mình, và anh ta phải, từng bước từng bước, đi tới một kết luận thật thê lương thật đau đớn, là:  thật khó mà làm được một việc có giá trị về mặt đạo đức, và càng thật khó, giữ cho được một hình ảnh không hề hoen ố về chính mình.
    ....

    I translated the selected works of Simone Weil into Polish 1958 not because I pretended to be a "Weilian." I wrote frankly in the preface that I consider myself a Caliban, too fleshy, heavy, to take on the feathers of an Ariel. Simone Weil was an Ariel. My aim was utilitarian, in accordance, I am sure, with I wishes as to the disposition of her works. A few years ago I spent many afternoons in her family's apartment overlooking the Luxembourg Gardens-at her table covered with ink stains from I pen-talking to her mother, a wonderful woman in her eighties. Albert Camus took refuge in that apartment the day he received the Nobel Prize and was hunted by photographers and journalists. My aim, as I say, was utilitarian. I resented the division Poland into two camps: the clerical and the anticlerical, nationalistic Catholic and Marxist- I exclude of course the apparatchiki, bureaucrats just catching every wind from Moscow. I suspect un-orthodox Marxists (I use that word for lack of a better one) and non-nationalistic Catholics have very much in common, at least common interests. Simone Weil attacked the type of religion that is only a social or national conformism. She also attacked shallowness of the so-called progressives. Perhaps my intention when preparing a Polish selection of her works, was malicious. But if a theological fight is going on- as it is in Poland, especially in high schools and universities-then every weapon is good to make adversaries goggle-eyed and to show that the choice between Christianity as represented by a national religion and the official Marxist ideology is not the only choice left to us today.
    In the present world torn asunder by a much more serious religious crisis than appearances would permit us to guess, Catholic writers are often rejected by people who are aware of their own misery as seekers and who have a reflex of defense when they meet proud possessors of the truth. The works of Simone Weil are read by Catholics and Protestants, atheists and agnostics. She has instilled a new leaven into the life of believers and unbelievers by proving that one should not be deluded by existing divergences of opinion and that many a Christian is a pagan, many a pagan a Christian in his heart. Perhaps she lived exactly for that. Her intelligence, the precision of her style were nothing but a very high degree of attention given to the sufferings of mankind. And, as she says, "Absolutely unmixed attention is prayer."

    CZLESLAW MILOSZ: THE IMPORTANCE OF SIMONE WEIL

    She has instilled a new leaven into the life of believers and unbelievers by proving that one should not be deluded by existing divergences of opinion and that many a Christian is a pagan, many a pagan a Christian in his heart.

    Câu này, Miloz viết, có vẻ là cho riêng GCC, hoặc TTT:…  Rằng rất nhiều 1 KyTô hữu, 1 kẻ vô thần và rất nhiều 1 kẻ vô thần, 1 tên Ky Tô, ở trong tim của hắn!


    Vallejo

    RAINER MARIA RILKE
    1875-1926

    This poem by Rilke narrates the increasing solitude of a person who feels separated from other human beings by her illness. She tries hard not to be left behind, but already her movements show that she is out of step with others. Yet at the same time a transformation is occurring, as if, through her growing blindness, she has moved into another realm.
    Czeslaw Milosz

    GOING BLIND

    She sat at tea just like the others. First
    I merely had a notion that this guest
    Held up her cup not quite like all the rest.
    And once she gave a smile. It almost hurt.

    When they arose at last, with talk and laughter,
    And ambled slowly and as chance dictated
    Through many rooms, their voices animated,
    I saw her seek the noise and follow after,

    Held in like one who in a little bit
    Would have to sing where many people listened;
    Her lighted eyes, which spoke of gladness, glistened
    With outward luster, as a pond is lit.

    She followed slowly, and it took much trying,
    As though some obstacle still barred her stride;
    And yet as if she on the farther side
    Might not be walking any more, but flying.

    Translated from the German by Walter Amdt

    TV sẽ tiếp tục giới thiệu tuyển tập thơ thế giới do Czeslaw Milosz chọn và viết lời bình: A Book of Luminous Things. An International Anthology of Poetry.
    Gồm những chương: Epiphany, Nature, The secret of a thing, Travel, Places, The Moment, People among People, Situations, Nonattachment, History.
    Bài thơ của Rilke, Milosz xếp vào chương “People among people”, "người giữa người".

    Bài thơ của Rilke kể sự cô đơn tăng dần của một người đàn bà cảm thấy mình bị tách ra khỏi đồng loại, vì bịnh. Nàng nhọc nhằn, để đừng bị bỏ lại, nhưng rõ ràng những vận chuyển của nàng cho thấy, nàng luôn hụt hẫng so với những người khác. Tuy nhiên, cùng lúc, một chuyển biến khác xẩy ra, như thể, qua sự kiện đang trở nên mù lòa, nàng bay qua một cõi khác.

    Trở thành mù lòa

    Nàng ngồi uống trà như những người khác.
    Thoạt đầu tôi cảm thấy
    Vị khách cầm cái ly không hoàn toàn giống như những người kia
    Và, thế rồi, một lần, nàng mỉm cười
    Ôi nụ cười mới làm đau làm sao.

    Sau cùng, cả đám đứng lên, chuyện trò râm ran, cười cượt
    Thong thả rời xa, và như sự tình cho thấy
    Qua nhiều căn phòng, tiếng nói của họ rộn ràng, vang vang
    Và tôi nhìn thấy nàng lần theo tiếng nói, đi theo họ
    Kìm nén, như một người, trong một thoáng
    Sẽ hát, và nhiều người sẽ lắng nghe
    Mắt nàng sáng nói điều mừng vui, như mặt ao lóng lánh

    Nàng chầm chậm đi theo, cố gắng thật nhiều,
    Như có cái gì đó cản trở bước đi của nàng
    Tuy nhiên, nàng như ở một phía xa hơn
    Và ở đó, nàng không đi, nhưng mà bay bổng.

    Robert Hass

    SEPTEMBER 19

    Rainer Maria Rilke: Herbsttag

    Rainer Maria Rilke is one of the great poets of the twentieth century. He's also one of the most popular. He's been translated again and again, as if some ideal English version of his German poems haunted so many minds that writers have had to keep trying to find it. Here, for the time of year, are some translations of a poem about the fall. He wrote it in Paris on September 21, 1902.

    Autumn Day

    Rilke là 1 trong những nhà thơ lớn của thế kỷ 20. Ông cũng là 1 nhà thơ phổ thông. Ông được dịch đi dịch lại, như thể, những bài thơ tiếng Đức của ông ám ảnh rất nhiều cái đầu, và những nhà văn phải cố tìm cho thấy nó. Đây là bài thơ cho mùa thu năm nay, với cả 1 lố bản dịch.

    Robert Hass

    SEPTEMBER 19

    Rainer Maria Rilke: Herbsttag

    Rainer Maria Rilke is one of the great poets of the twentieth century.

    He's also one of the most popular. He's been translated again and again, as if some ideal English version of his German poems haunted so many minds that writers have had to keep trying to find it. Here, for the time of year, are some translations of a poem about the fall. He wrote it in Paris on September 21, 1902.

    Autumn Day

    Lord: it is time. The summer was immense.
    Lay your shadow on the sundials,
    and let loose the wind in the fields.

    Bid the last fruits to be full;
    give them another two more southerly days,
    press them to ripeness, and chase
    the last sweetness into the heavy wine.

    Whoever has no house now will not build one anymore.
    Whoever is alone now will remain so for a long time,
    will stay up, read, write long letters,
    and wander the avenues, up and down,
    restlessly, while the leaves are blowing.

    -Galway Kinnell and Hannah Liebmann, The Essential Rilke

    (Ecco Press)

    Lord, it is time. The summer was too long.
    Lay your shadow on the sundials now,
    and through the meadows let the winds throng.

    Ask the last fruits to ripen on the vine;
    give them further two more summer days
    to bring about perfection and to raise
    the final sweetness in the heavy wine.

    Whoever has no house now will establish none,
    whoever lives alone now will live on long alone,
    will waken, read, and write long letters,
    wander up and down the barren paths
    the parks expose when the leaves are blown.

    -William H. Gass, Reading Rilke: Reflections on the Problem of Translation (Knopf)

    Lord: it is time. The huge summer has gone by.
    Now overlap the sundials with your shadows,
    and on the meadows let the wind go free.

    Command the fruits to swell on tree and vine;
    grant them a few more warm transparent days,
    urge them on to fulfillment then, and press
    the final sweetness into the heavy wine.

    Whoever has no house now, will never have one.
    Whoever is alone will stay alone,
    will sit, read, write long letters through the evening,
    and wander the boulevards, up and down,
    restlessly, while the dry leaves are blowing.

    -Stephen Mitchell, The Selected Poetry of Rainer Maria Rilke (Random House)

    Lord, it is time now,
    for the summer has gone on
    and gone on.
    Lay your shadow along the sun-
    dial, and in the field
    let the great wind blow free.

    Command the last fruit
    be ripe:
    let it bow down the vine-
    with perhaps two sun-warm days
    more to force the last
    sweetness in the heavy wine.

    He who has no home
    will not build one now.
    He who is alone
    will stay long
    alone, will wake up,
    read, write long letters,

    and walk in the streets,
    walk by in the
    streets when the leaves blow.

    -John Logan, from "Homage to Rainer Maria Rilke,"
    John Logan: The Collected Poems (BOA Editions)

    Here is the German text [….]

    And here, adapted from Stanley Burnshaw's immensely useful book The Poem Itself, is a literal translation:

    Lord, it is time. The summer was (has been) very great.
    Lay Thy shadow upon the sun dials
    and on the (open) fields (meadows) let loose (unleash) the winds.

    Command the last fruits to be (become) full (ripe);
    give them another two southerly days,
    urge them on toward perfection (fulfillment), and drive (chase)
    the last (final) sweetness into the heavy wine.

    Who now has no house, builds himself none any more.
    Who now is alone, will long remain so,
    will wake, read, write long letters
    and will restlessly wander up and down the tree-lined avenues
    when the leaves are swirling.

    Robert Hass: Now & Then [1999]

    Note: Nhớ, là đã có bài tiếng Mít!

    No automatic alt text available.

    Bản tiêng Mít, bạn DV đã cung cấp. Tls. Take Care. NQT

    http://www.tanvien.net/Al/Thu_2014.html
    Autumn Day

    Robert Hass

    SEPTEMBER 19

    Rainer Maria Rilke: Herbsttag

    Rainer Maria Rilke is one of the great poets of the twentieth century. He's also one of the most popular. He's been translated again and again, as if some ideal English version of his German poems haunted so many minds that writers have had to keep trying to find it. Here, for the time of year, are some translations of a poem about the fall. He wrote it in Paris on September 21, 1902.

    Rilke là 1 trong những nhà thơ lớn của thế kỷ 20. Ông cũng là 1 nhà thơ phổ thông. Ông được dịch đi dịch lại, như thể, những bài thơ tiếng Đức của ông ám ảnh rất nhiều cái đầu, và những nhà văn phải cố tìm cho thấy nó. Đây là bài thơ cho mùa thu năm nay, với cả 1 lố bản dịch.

    Ngày Thu

    Chúa ơi: Đúng là lúc này rồi. Hè mới bao la làm sao
    Hãy trải cái bóng của mi xuống sundials
    Và cho gió tung tăng trên cánh đồng.

    Hãy biểu những trái cây sau cùng, hãy chín mọng, cho kịp những chầu rượu;
    Cho chúng thêm hai ngày hè
    Để có được cái tuyệt hảo - như da thịt ngọt ngào của em - trộn hơi rượu nồng

    Kẻ nào đếch có nhà lúc này, thì đếch cần dựng nhà nữa
    Kẻ nào sống mình ên, thì xin cứ tiếp tục sống một mình
    Vươn vai đứng dậy, đọc, viết những lá thư dài, cho Hải Âu, thí dụ vậy
    Lang thang, lên xuống, những con phố
    Đếch thèm nghỉ ngơi cái con mẹ gì, giữa lá bay đầy trời, trong gió loạn.

    THE FIRST ELEGY

    Who, if I cried out, would hear me among the Angels?
    Orders? and even if one of them pressed me
    suddenly to his heart: I'd be consumed
    in his more potent being. For beauty is nothing
    but the beginning of terror, which we can still barely endure,
    and while we stand in wonder it coolly disdains
    to destroy us. Every Angel is terrifying.

    Ai, nếu tôi kêu lớn, sẽ nghe, giữa những Thiên Thần?
    Những Thiên Sứ? và ngay cả nếu một vị trong họ ôm chặt tôi vào tận tim:
    Tôi sẽ bị đốt cháy trong hiện hữu dữ dằn của Người.
    Bởi là vì, cái đẹp chẳng là gì, mà chỉ là khởi đầu của ghê rợn,
    chúng ta vẫn có thể chịu đựng, và trong khi chúng ta đứng ngẩn ngơ,
    thì nó bèn khinh khi hủy diệt chúng ta.
    Mọi Thiên Thần thì đều đáng sợ.

    Với tôi người sở hữu hạnh phúc, cuốn sách thanh nhã, mỏng manh, mua từ lâu, “Bi Khúc” tượng trưng cho một khởi đầu của con đường dài đưa tới một quen biết tốt đẹp hơn, với toàn bộ tác phẩm của Rilke. “Bi Khúc thứ nhất” - một lần nữa ở đây: “Ai, nếu tôi la lớn - trở thành một chứng cớ hiển nhiên, sống động, thơ ca chẳng hề mất quyền uy khủng khiếp của nó. Vào lúc đó, tôi chưa biết thơ của Czeslaw Milosz, bị “VC Ba Lan”, thành công trong việc tuyệt cấm, ở trường học, nhà sách, thư viện, - và tất nhiên, tuyệt cấm với tôi. Một trong những nhà thơ cùng thời đầu tiên mà tôi đọc và cố hiểu, là Tadeusz Rozewicz, cùng sống trong thành phố mà tôi sinh trưởng, (Gliwice), và, có thể chứng kiến, thì cứ giả dụ như vậy, cái giây phút thần tiên liền theo sau, khi tôi mua được Duino Elegies, bản dịch của Jastrun - chứng kiến hình ảnh một đứa bé đứng chết sững trên hè đường, nơi con phố trung tâm thành phố, vào giờ cư dân của nó thường đi dạo chơi, khi mặt trời xuống thấp, và cái thành phố kỹ nghệ xám trở thành 1 bông hồng rực đỏ trong chừng 15 phút, cỡ đó – ui chao cũng chẳng khác gì giây phút thần tiên Gấu đọc cọp cuốn “Bếp Lửa”, khi nó được nhà xb đem ra bán xon trên lề đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn – Thơ của Rozewicz như sinh ra từ tro than của một cuộc chiến khác, Đệ Nhị Chiến, và chính chúng, những bài thơ, thì như là một thành phố của tro than. Rozewicz tránh sử dụng ẩn dụ trong thơ của mình, coi bất cứ thặng dư của tưởng tượng là 1 sỉ nhục hồi ức những nạn nhân của cuộc chiến sau chót, một đe dọa tính xác thực về mặt đạo đức của thơ ông: Chúng được coi như là những bản báo cáo, kéo, dứt, giựt ra từ cơn kinh hoàng, tai họa lớn. Những bài thơ đầu của ông, viết trước khi Adorno phang ra đòn chí tử, “thật là ghê tởm, man rợ khi còn làm thơ sau Lò Thiêu”, thì đã hàm ngụ trong chúng, câu của Adorno rồi.
    Adam Zagajewski


    Note: Có 1 sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng thật ly kỳ thú vị, không chỉ về cái cảnh Gấu chết sững trong nắng Sài Gòn, khi đọc cọp – khám phá ra - Bếp Lửa, khi cuốn sách được nhà xb Nguyễn Đình Vượng cho đem bán xon trên hè đường Phạm Ngũ Lão, nhưng còn ở điều này: Cuốn sách Bếp Lửa đã sống lại, từ tro than, bụi đường Xề Gòn.

    Gấu đã viết như thế, về Bếp Lửa, từ năm 1972
    Giả như nó không được đem bán xon, liệu có tái sinh?
    Quá tí nữa, giả như không có cuộc phần thư 1975, liệu văn học Miền Nam vưỡn còn, và được cả nước nâng niu, trân trọng như bây giờ?

    Một nền văn học bảnh tỏng như thế, mà có thằng ngu gọi nó là... bất hạnh!


    Do the hills wheeze like old men

    Những ngọn đồi vưỡn khò khè như những ông già

    Đọc, bật ra câu thơ của TTT:
    Những rừng gió kể chuyện bể khơi
    Của Duy Thanh


    Những rừng gió kể chuyện bể khơi
    trời của mây của mùa thu
    những chuyến đi xa không hành lý
    hành trình tới Paris
    suốt đời người
    không muốn nhớ tiếng thì thào thăm hỏi
    móng tay níu chặt hơi sương khói
    ai thổi cơm chiều hay thiêu huỷ tâm tình

    hồn tôi đứng thành tượng
    mình trần
    không bắp thịt
    trận bão cơn điên xô ngã
    ấy mùa đông
    và một phiến đá xanh
    TTT





    http://www.tanvien.net/Viet/nostalgie.html

    Re: MT
    Trang này, 1 trong Top 10, của tháng này, July, 2018

    1. Nhị LinhMay 22, 2013, 4:41:00 PM

      đúng, BNL có truyện ngắn "Ba con cáo" thực sự xuất sắc

      đoạn này tôi viết về Mai Thảo và "Đêm giã từ Hà Nội":

      Tôi từng viết về văn chương (ngôn ngữ) Mai Thảo như thế này: "Ở Mai Thảo, cái đặc trưng lồ lộ là những rút gọn từ ngữ: sẽ không là "một niềm cay đắng" mà "một cay đắng", sẽ không là "một nỗi kinh ngạc" mà "một kinh ngạc", sẽ không là "một sự rã rời" mà "một rã rời"."

      Kể từ đó, không nhận ra gì thêm.

      Cho đến lúc tận tay cầm vào "Đêm giã từ Hà Nội", tác phẩm đầu tay của Mai Thảo (ảnh ở đây là trang đầu).

      Ấn tượng mà Mai Thảo cảm nhận về Hà Nội là ba điều: "vực thẳm", "tảng bóng tối" và "Hà Nội đổi màu". Những gì Mai Thảo, hay nói rộng hơn là lứa nhà văn hồi ấy, giã từ, bỏ lại sau lưng là như vậy.

      Sách giấy có phần thiêng của nó là bởi thế, giống như những vị quý tộc khinh bỉ thói chập cheng của ebook; sờ vào quyển sách giấy, một tiếp xúc trực tiếp cũng khiến ta nhận ra những gì không thể hình dung nếu chỉ đọc ebook.

      Tôi hiểu, những rút gọn từ ngữ của Mai Thảo là vì: Mai Thảo đã bỏ lại rất nhiều thứ sau lưng, đã giã từ, đã coi quá khứ là vực thẳm. Câu văn của Mai Thảo cứ rút ngắn lại, vì một phần đã thả xuống vực thẳm, cho trôi về Hà Nội. Ở những thiên tuyệt bút của Mai Thảo, văn chương giống như là vực thẳm (Đêm giã từ Hà Nội, Căn nhà vùng nước mặn, Tùy bút, Ta thấy hình ta những miếu đền).

      Mai Thảo viết "Đêm giã từ Hà Nội" chừng 100 ngày sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Năm 1956, Mai Thảo coi như vượt qua được một vực thẳm để viết "Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam", mở ra một trang sử mới cho văn chương Việt Nam, cũng là mở ra lịch sử tạp chí Sáng Tạo.

      Delete
    2. Lâm VũMay 22, 2013, 5:38:00 PM

      Chưa từng thấy ai viết về "văn chương" Mai Thảo như bác NL cả! Veritablement sensationel! (Tôi đã từng nói nhiều về MT, nhưng chỉ nói với bạn bè, chưa bao giơ viết ra, và có lẽ không bao giờ sẽ viết! Không hiểu tại sao, có thể tôi nhìn MT chỉ thấy những nỗi buồn "vực thẳm" và tôi kính trọng nó vô cùng. Bề ngoài của văn chương MT có cái vẻ "phù phiếm", nhưng tôi có cảm tưởng anh cố tình che dấu ỡ dưới một điều gì anh tôn thờ, chưa chắc đó là Hà Nội hay một mối tình... mà có thể cả bầu trời tuổi trẻ... Trừ bạn bè của anh, người ta chỉ có thể nhìn thấy phần nào thế giới nội tâm của MT qua tâp thơ "... Miếu đền...").

      Tóm lại, văn chương về Hà Nội của những kẻ bỏ đi năm 54, phải nói đến TTT và chỉ TTT cũng đủ! TTT có hai tác phẩm "chuyện trị" Hà Nội là Bếp Lửa và Ung Thư. Nhưng chỉ có Bếp Lửa đã xuất bản (đến bốn lần trước 75), được Tam Ích xem là truyện hay nhất miền Nam thời đó, nhưng với tôi Bếp Lửa mới chỉ là một tùy bút hay roman-essay, "Ung Thư" mới là tiểu thuyết. Đề tài của Ung Thư giống hệt Bếp Lửa, nhưng bao la sâu thẳm hơn nhiều... Tiếc là Ung Thư chưa bao giờ thấy ánh sáng mặt trời với trọn vẹn hình dạng của nó.

      Có lần tôi viết đâu đó hay chỉ nói: nếu ông Thần của 1001 Đêm, cho tôi một điều ước duy nhất, đó là là điều tôi muốn thấy xẩy ra.

      Delete
    3. Nhị LinhMay 22, 2013, 5:48:00 PM

      đã hẹn sẽ nói riêng về Ung Thư mà vẫn chưa làm được; đề tài Bếp Lửa Mr Tin văn rành lắm đấy :)



    https://www.newyorker.com/…/04/philip-roths-propulsive-force

    GCC hết credit, không đọc được, nhưng có mua số báo có bài này.
    Nhân sắp tới SN, dùng bài này làm mồi, để xeo phi.

    The meaning of life is that it stops. Kafka phán.

    Khi nào mi stop, GCC?

    POSTSCRIPT

    PHILIP ROTH

       
    The meaning of life is that it stops. Especially in his later years, Philip Roth often quoted this remark attributed to Kafka, and it was hard not to think of it when the news came that his heart had given out. He lived to be eighty-five, but he had little expectation of making it much past seventy. Over the years, there had been stretches of depression, surgeries on his back and spine, a quintuple bypass, and sixteen cardiac stents, which must be some kind of American League record. By the time Roth was in his seventies, he would open his eyes in the morning and experience a moment of ecstatic surprise: he had pulled it off again, stolen another taste of being alive, a self, conscious of the beautiful and chaotic world.
    Roth's vitality never dwindled, particularly on the page; the propulsive force that first announced itself in the late fifties, with "Defender of the Faith," "Eli, the Fanatic," and "Goodbye, Columbus," persisted for more than half a century, to the last elegiac description of a javelin thrower in "Nemesis," his career-closing novella. In interviews and public appearances, Roth could be slightly grand, ending an observation with an Anglo-ish "Do you know?" Talking about "the indigenous American berserk," he tamped down his more antic side, as if to stand apart from the madness. But, released from obligation, he could easily flip a switch and be once more the wiseacre of Weequahic. He was in competition with the best in American fiction-with Melville, James, Wharton, Hemingway, Faulkner, Cather, Ellison, Bellow, Morrison-but he was funnier, more spontaneous, than any of them. Recently, when I asked him what he thought of Bob Dylan's Nobel Prize, he said, "It's O.K., but next year I hope Peter, Paul and Mary get it."
    Most creative careers follow a familiar arc: the apprentice work; the burst of originality; the self-imitation; and, finally, the tailing off. Had Roth's creative career reached its pinnacle at the typical point, his achievements would still have included "Goodbye, Columbus,""Portnoy's Complaint,""The Ghost Writer," and "The Counterlife." But then Roth, having faced the crises of a failed marriage and a barrage of illnesses, redoubled his sense of discipline and set himself free. He became a monk of fiction. Living alone in the woods, he spent his days and many of his nights trained on the sentence, the page, the "problem of the novel at hand." Month after month, at a standing desk, he went about exploring American history ("American Pastoral," "I Married a Communist," "The Human Stain," "The Plot Against America") and, always, the miracles, the hypocrisies, the mistakes, the strangenesses of being alive while facing the inevitable "massacre" of aging.
    "I work, I'm on call," he told me in the midst of this creative ferment. "I'm like a doctor and it's an emergency room.
    And I'm the emergency." Roth's concentration on the task was absolute. When a friend left him with a kitten, he couldn't endure the distraction of having to provide food and attention.
    "I had to ask my friend to take it back," he recalled. I once asked him if he took a week off or a vacation. "I went to the Met and saw a big show they had," he told me. "It was wonderful. I went back the next day. Great. But what was I supposed to do next, go a third time? So I started writing again." Roth kept a little yellow note near his desk. It read "No Optional Striving." No panels, no speeches, no all-expenses-paid trips to the festival in Sydney or Cartagena. The work was murder and the work was the reward. Roth said he was never happier, never felt more liberated, than when he was working on his favorite of his novels, "Sabbath's Theater."
    Then, in 2010, at the age of seventy seven, Roth did something utterly unexpected. He retired. He adored Saul Bellow-adored the work and the man-but he thought that Bellow had made a mistake by continuing to write and publish even as his mental acuity waned. Roth read his own work, the whole of it, and determined that he was done. Quoting Joe Louis, he said, "I did the best I could with what I had." And, in the last eight years of his life, Roth, living mostly in his apartment, near the Hayden Planetarium, gave himself the rest he had earned. He spent more time with friends, he read volumes of American and European history, he went to chamber-music concerts, he watched baseball and old movies. He appointed a biographer, Blake Bailey, and gave him what he needed "to do the job.” With his competitiveness long faded, he became a reader, and a booster, of younger writers- Teju Cole, Nicole Krauss, Zadie Smith, Lisa Halliday. And he waited. He had had his portion, and then some. As he put it in "The Dying Animal,"
    "You tasted it. Isn't that enough?" 

    -David Remnick

    Image may contain: 1 person, closeup




    Last Page  

    Viet Nam War & Sawada

    Note: Nhờ bức hình này, trên tờ Vietnam War, GCC mới biết, Sawada bị Khờ Me Đỏ hành quyết. Trước, cứ nghĩ anh bị sát hại vì chiếc xe gắn máy, hoặc chiếc máy ảnh, bởi 1 tên cướp cạn!

    Image may contain: 1 person

    Nick Ut & Napalm Girl

    Image may contain: 3 people


    hẳn. có lúc lãng. quên

    đi qua. con phố. cũ
    lục. lại trong trí. nhớ
    người đàn ông. mù. ngồi. trên
    bậc. tam cấp                      
    tôi gọi ông. tiếng gậy. khua cùng
    lần mò. đứng. dậy
    mắt. ông đục. vô hồn
    hướng về. tôi
    gọi tên. bằng một giọng. rất cũ
    khàn. đục. và đầy. nhựa
    bàn tay. run rẩy ôm. lấy vai. tôi
    ông joe. người tướng già. tôi quen
    trong. cuộc chiến
    ngày. cũ
    những tấm hình. ông cho. xem
    ngày trẻ. trong quân. phục
    thật. lộng lẫy
    không còn. ngồi ở bậc. tam cấp
    những. tiếng động báo. cơn
    dông. sắp đến
    con phố. quá xa. Lạ

    Đài Sử

    Thời gian đọc Simenon, là 1 trong những quãng đời đẹp nhất của GCC. Vừa ra trường Bưu Điện, vừa mới kiếm ra tiền bằng sức lao động của mình, một chuyên viên kỹ thuật Bưu Điện – 1 AT (agent technique, chỉ số lương 350, thua 1 kỹ sư, tất nhiên, hay 1 tên tốt nghiệp sư phạm 3 năm – nhưng thừa sức để mướn đọc những tiểu thuyết tiếng Tây, ở 1 kiosque nào đó, ở đường Nguyễn Huệ, hoặc Lê Lợi.. - sở làm, Ty Trung Ương Cơ Xưởng VTD, số 11 Phan Đình Phùng, phòng Réception, chuyên sửa máy nhận tin, récepteur, tức cái radio theo ngôn ngữ thông thường, lâu lâu được phái đi công tác, tới 1 đài VTD địa phương, để sửa máy tại chỗ. Và những lần đi xa như thế, trong túi đồ nghề, không thể thiếu 1 cuốn Simenon, vừa đọc, vừa học tiếng Tây.
    Gấu đã viết những chuyến du lịch vặt này, trong 1 bài viết, về hai lần tới Sóc Trăng, 1 để sửa máy, và 1, để mang xác đứa em trai, tử trận, về an táng tại nghĩa trang Gò Vấp.

    Mộ Tuyết

    Ba Xuyên, lần viếng thăm hồi bắt đầu đi làm, những năm tập sự của cuộc đời gã chuyên viên kỹ thuật, ngày hai buổi, tại Ty Trung Ương, Cơ Xuởng Vô Tuyến Điện, số 11 đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn; chuyên lo việc sửa chữa, tu bổ máy móc, đồ dùng kỹ thuật từ các nơi gửi về; lâu lâu, do nhu cầu công vụ, được biệt phái tới những đài địa phương, để giúp đỡ người trưởng đài, thường chỉ là những hiệu thính viên, biết sử dụng máy móc, nhưng không biết, và cũng không có phận sự sửa chữa khi trục trặc, cần làm gấp tại chỗ, đại loại như máy nhận bỗng yếu, rè, nhiều tạp âm, khi nghe được, khi không; máy phát đột nhiên ngưng, không chịu phát tín hiệu, không biết vì lý do gì, hoặc bị cháy, nổ, cần gấp một máy khác thay thế cùng chuyên viên lắp đặt... Tất cả những công việc như thế thường chỉ mất một hai ngày làm, do đó thời gian trù tính cho mỗi chuyến đi thường trên dưới mười ngày, nhiều lắm nửa tháng. Trừ những ngày mới tới, bắt tay ngay vô việc, cặm cụi lo tìm kiếm, sửa chữa, những ngày còn lại, là để viếng thăm, làm quen thành phố.
    Một thành phố không có gì đáng nhớ (khi cố gắng muốn nhớ lại), có một người trưởng đài người loắt choắt nhưng tính tình thật niềm nở, đã lập gia đình, sau bữa ăn, hoặc khi rảnh rỗi, người chồng (người trưởng đài) ưa kể cho khách nghe, về quãng đời đã qua của mình (thời còn trẻ, những năm tháng giang hồ, những năm phục vụ trong quân đội Pháp, lý do giải ngũ, trường hợp lập gia đình...), hỏi khách tốt nghiệp đã lâu chưa, hồi còn ở Bắc quê vùng nào, khi đã tới giờ ngồi vào bàn làm việc, thường là với đài chính (Sài Gòn), hoặc khi đã hết câu chuyện để kể, hay để nói, như sực nhớ tới hiện tại, ông khuyên khách đừng đi quá xa vượt phạm vi châu thành, cười cười, khi người vợ ít nói cùng mấy đứa nhỏ đã lui vào nhà trong, nói, ở đây chỉ có những cô Mai Liên, khách phải nghĩ một hồi lâu mới hiểu chủ nhà định nói tới những cô gái nước da ngăm đen ở vùng này (1).
    Hết hai năm tập sự, đổi qua làm việc tại một đài chuyên duy trì những đường dây liên lạc quốc tế, về viễn ký, viễn ảnh, điện thoại đường dài [điện thoại viễn liên], giữa Sài Gòn và một số thủ đô trên thế giới, không còn dịp ra khỏi thành phố, quên dần những chuyến đi, những cuộc phiêu lưu vặt, lâu lâu mơ hồ nhơ nhớ về một thành phố một hai lần ghé qua, một vài ngày ở lại, những chi tiết vụn vặt không liên quan, không ăn nhập vào đâu cả, nhưng không thể rũ bỏ, (hình như) kiến trúc phảng phất nhau, khu trung tâm gồm Toà Hành Chánh, một chợ nhỏ vây quanh bởi một vài khách sạn chệt, một vài quán nước, tiệm cà phê, hủ tíu, quán bi da, banh bàn; những sáng thứ hai toàn thành phố phải đứng nghiêm chào cờ theo lệnh một chiếc loa công cộng [thời còn ông Diệm], (thành phố lúc đó có một bộ mặt trang nghiêm thật tức cười, những thực khách đang dùng điểm tâm vội vã đứng dậy, miệng còn mẩu bánh chưa kịp nuốt, dáng lúng túng của mấy bà già nghễnh ngãng chưa kịp hiểu chuyện gì đang xẩy ra), tiếng hát vọng cổ khoảng chập tối, hay trong khi chập chờn ngủ, được chiếc tây ban cầm họa theo, từ đám thanh niên tụ tập trong quán cà phê phía trước khách sạn, theo gió lọt vào căn phòng, nghe như tiếng thở than, hoặc tình tự, của linh hồn tỉnh nhỏ, thay cho lời từ biệt chẳng hề nói của cô gái lúc nãy, vội vàng rời căn phòng, chân đi đất không gây một tiếng động, như khi lén lút tới, phả hơi nóng thành phố vào tận sâu trong cơ thể người khách lạ còn trẻ tuổi, rồi sau đó lén lút rời căn phòng, thay vào đó, là một con mèo đen, không biết tới nằm trên thành cửa sổ từ lúc nào, mắt xanh biếc trong bóng tối, tiếng nước nhỏ giọt từ buồng tắm phòng kế bên, một người khách lơ đễnh không vặn chặt vòi nước, tiếng còi những chiếc xe hàng đánh thức giấc ngủ khoảng ban mai, đánh thức luôn mùi ẩm mốc hình như toát ra từ những bức tường loang lổ, từ chiếc nệm giường mục nát, vẻ tiều tụy của căn phòng thường làm dậy một nỗi trắc ẩn vô duyên cớ, một cảm giác bực bội, buồn bã không đâu...
    Trở lại Ba Xuyên khi được tin đứa em trai chết.
    Tử trận….

    http://www.tanvien.net/sangtac/st_mo_tuyet.html

    Un terrain vague, un crime crapuleux. Plus sordide encore, cette proche banlieue où triomphent l'ennui et la méchanceté banale des petites gens. Et l'étrange Monsieur Hire, avec ses manies solitaires et sa sauvagerie, présente tous les signes exterieurs du coupable ideal.
    Quel est le secret de cet homme sans défense qui ne parle à personne et que chacun évite ? Est-ce Alice, la serveuse du crémier, qu'il épie depuis sa chambre dans le noir?
    Un soir la jeune fille lui fait signe, on dirait qu' elle sait quelque chose ...
    Un roman cruel, intense et mystetieux, qui contient tout l'art de Simenon et vient d'inspirer un superbe film à Patrice Leconte: “Monsieur Hire" avec Michel Blanc et Sandrine Bonnaire.

    Image may contain: 1 person, text






    John Ashbery: Mới tha về từ tiệm sách cũ, mới ghé. Tay này, khó đọc, đọc là dội. Gấu có mấy cuốn của xừ luý rồi, nhưng, đứng ở tiệm lật lật, thì có cảm giác, lần này chắc là khá hơn đấy, vì đọc được quá!

    Post 2 bài, để chào hàng.
    Sẽ có bản tiếng Mít ASAP - as soon as possible-


    A MOOD OF QUIET BEAUTY 

    The evening light was like honey in the trees
    When you left me and walked to the end of the street
    Where the sunset abruptly ended.
    The wedding-cake drawbridge lowered itself
    To the fragile forget-me-not flower.
    You climbed aboard. 

    Burnt horizons suddenly paved with golden stones,
    Dreams I had, including suicide,
    Puff out the hot-air balloon now.
    It is bursting, it is about to burst
    With something invisible
    Just during the days.
    We hear, and sometimes learn,
    Pressing so close 

    And fetch the blood down, and things like that.
    Museums then became generous, they live in our breath. 

    Một điệu đẹp trầm

    Ánh sáng buổi chiều thì ngọt như mật ong ở đám cây cối
    Khi nàng rời bỏ Gấu, và lững thững đi tới cuối con phố
    Nơi buổi hoàng hôn bất ngờ tắt ngúm 1 phát
    Cái cầu treo hình bánh cưới bèn tự nó hạ xuống
    Ngang tầm bông hoa “đừng quên Gấu nhe”, mảnh khảnh
    Thế là em bèn trèo lên bông hoa!

    Những chân trời cháy bỏng bất thình lình được lát bằng những phiến đá bằng vàng
    Những giấc mơ Gấu có - có cả giấc mơ Gấu thèm tự làm thịt mình trong đó-
    Thổi phồng trái cầu bay không khí nóng, lúc này,
    Nó nổ đánh đùng 1 phát
    Với 1 cái gì vô hình
    Đúng trong những ngày như thế này
    Chúng ta nghe, và đôi khi, chúng ta học,
    Cấp bách thật gần
    Máu chậm trở lại, và những gì tương tự như thế

    Những viện bảo tàng trở nên rộng lượng
    Chúng sống trong hơi thở của chúng ta

    OFFSHORE BREEZE


    Perhaps I have merely forgotten,
    Perhaps it really was like you say.
    How can I know?
    While life grows increasingly mysterious and dangerous
    With nobody else really visible,
    And I am alone and quiet
    Like the grass this dayof no wind
    And sizzling knowledge.
    The leaves fall, fall off and burn. 

    At least one can nap until the Day of Judgment-
    Or can one? Be careful what you say, the perturbed
    Flock shifts and retreats
    In a colorful equation of long standing.
    No one knew what microorganisms
    Were metamorphosing. I like you
    Because it's all I can do. 

    What happens is you get the unreconstructed story,
    An offshore breeze pushing one gently away,
    Not far away. And the leggings of those meeting to
    See about it are a sunset,
    Brilliant and disordered, and sharp
    As a word held in the mouth too long.
    And he spat out the pit. 


    Nhân chuyện nâng điểm:

    http://nhilinhblog.blogspot.ca/2016/12/su-ky.html#more

    Cái dở của việc đọc sách hồi nhỏ là cứ đọc đi đọc lại rồi lại đọc đi đọc lại, thậm chí đến nỗi thuộc lòng rất nhiều đoạn. Sao hồi bé chúng ta ngu thế nhỉ?
    NL

    Note: Cái chết của nền giáo dục Bắc Kít, là do dạy con nít hận thù - trồng người  100 năm - tức là 1 nền giáo dục hận thù, đúng như Borges chỉ ra, khi viết về Nazi.
    Bởi thế mà Naipaul, theo Gấu, không đọc được Borges, khi chê ông suốt đời mê mải với cái vĩnh cửu.
    Nhưng chính cái “bài luận mẫu”, cũng giết giáo dục Bắc Kít.

    GCC, "đau đáu" với cái đau, tại sao lũ tinh anh Mít Miền Nam, nhất là lũ học Triết, rồi tới lũ bỏ chạy cuộc chiến... không tên nào viết được cái gì cho ra hồn, và sau cùng ngộ ra, chính cái chính sách “hoãn dịch vì lý do học vấn’ làm hại chúng!
    Những đấng như Thầy Đạo, Thầy Quân, Thầy Thục... không tên nào viết cho ra hồn, vì cứ ngồi xuồng bàn viết 1 phát, là cours của Thầy lại hiện ra ở trong đầu của họ, rõ mồn một rồi.
    Nói rõ hơn, chúng học thuộc cours của Thầy, đến không làm sao quên được nữa!
    Gấu đã kể về cái lần thi lấy chứng chỉ Triết Tây Phương, có thể nói, trúng tủ, vì gặp đúng đề tài, đã từng đọc trong cours Sorbonne, mua ở Lê Phan, đếch thèm học cours của Thầy NVT - vì lúc đó đi  làm Bưu Điện rồi, ghi danh học theo kiểu hàm thụ -, và bị đánh rớt- mày không học thuộc cours của tao, Gấu cứ như nghe Thầy NVT phán – thế là bèn bye bye Văn Khoa Saigon, sau khi lấy được cái Triết Dự Bị.

    Thầy khốn nạn, đẻ ra học trò khốn nạn.
    Gấu nhớ là, đọc cái đề thi, mừng quá, nghĩ thầm, xong rồi!

    Mấy Thầy Đạo, Thầy Thục, do học thuộc cours quá, thế là “thoát chết, sống sót”, nhưng không sao viết được nữa!
    Steiner cũng đã kể về lần gặp 1 ông Thầy Mẽo, khi vô học Đại Học, và bị Thầy chửi, mi học theo kiểu Tây, học thuộc lòng, “hư mẹ mi” mất rồi!

    Note: Bài trả lời phỏng vấn The Paris Review này, cực kỳ quan trọng, vì có rất nhiều vấn đề liên quan đến Mít chúng ta, thí dụ Cái Ác Nazi. Steiner, thoát chết Lò Thiêu, nhưng không làm sao quên nổi tro than của nó. Nhờ những người như ông, hay như Levi, mà có thể nói, Âu Châu đã được cứu thoát, bởi cái họa Nazi, và sau đó, cái họa Đỏ.
    Hai cái họa này, kể như "còn nguyên" với xứ Mít.

    Nhịp thời gian

    Hãy yêu người bằng một thứ tình yêu cũ xì, cằn cỗi vì thương hại, cáu kỉnh và cô đơn.
    "Aimer les hommes d'un vieil amour usé par la pitié, la colère, et la solitude".
    C. Milosz: Hành Trình qua Tây Phương.
    Tuyệt cú!

    Note: Bản tiếng Anh, của Milosz, cùng trong bài viết:
    To love people with an old love worn by pity, anger, and loneliness


    READING THE JAPANESE POET ISSA

    (1762-1826)

    A good world-
    dew drops fall
    by ones, by twos


    A few strokes of ink and there it is.
    Great stillness of white fog,
    waking up in the mountains,
    geese calling,
    a well hoist creaking,
    and the droplets forming on the eaves.

    Or perhaps that other house.
    The invisible ocean,
    fog until noon
    dripping in a heavy rain from the boughs of the redwoods,
    sirens droning below on the bay.

    Poetry can do that much and no more.
    For we cannot really know the man who speaks,
    what his bones and sinews are like,
    the porosity of his skin,
    how he feels inside.
    And whether this is the village of Szlembark
    above which we used to find salamanders,
    garishly colored like the dresses of Teresa Roszkowska,
    or another continent and different names.
    Kotarbinski, Zawada, Erin, Melanie.
    No people in this poem. As if it subsisted
    by the very disappearance of places and people.

    A cuckoo call
    For me, for the mountain
    For me, for the mountain


    Sitting under his lean-to on a rocky ledge
    listening to a waterfall hum in the gorge,
    he had before him the folds of a wooded mountain
    and the setting sun which touched it
    and he thought: how is it that the voice of the cuckoo
    always turns either here or there?
    This could as well not be in the order of things.

    In this world
    we walk on the roof of Hell
    gazing at flowers


    To know and not to speak.
    In that way one forgets.
    What is pronounced strengthens itself.
    What is not pronounced tends to nonexistence.
    The tongue is sold out to the sense of touch.
    Our human kind persists by warmth and softness:
    my little rabbit, my little bear, my kitten.
    Anything but a shiver in the freezing dawn
    and fear of oncoming day
    and the overseer's whip.
    Anything but winter streets
    and nobody on the whole earth
    and the penalty of consciousness.
    Anything but.

    Berkeley, 1978

    Czeslaw Milosz: New and Selected Poems, 1931-2001

    31.
    CZESLAW MILOSZ

    I ask not out of sorrow, but in wonder.
    -"ENCOUNTER"

    The first movement is joy,
    But it is taken away.
    -"THE POOR POET"

    What is poetry which does not save
    Nations or people?
    -"DEDICATION"

    Human reason is beautiful and invincible.
    -"INCANTATION"

    The purpose of poetry is to remind us
    how difficult it is to remain Just one person ...
    -"ARS POETICA"

    And the heart does not die when one thinks it should ...
    -"ELEGY FOR N. N."

    What was accepted in bitterness and misery turned into praise ...
    -"FROM THE RISING OF THE SUN"

    There are nothing but gifts on this poor, poor earth.
    -"THE SEPARATE NOTEBOOKS"

    SOMETIMES AT NIGHT or in the early morning, the phrases-the lines-come back to me like talismans, like hard-won messages, metaphysical truths, prayers, offerings from the deep. I was in my early twenties when I first read Czeslaw Milosz's work, which has stayed with me ever since as a touchstone of modern poetry itself I first felt from his work the nobility and grandeur of poetry, yet also learned from him to distrust rhetoric, to question false words and sentiments.
    "Try to understand this simple speech as I would be ashamed of another," he avowed in "Dedication." "I swear, there is in me no wizardry of words." One felt from the beginning the purposefulness of Milosz's deceptive simplicity, his distrust of "pure poetry," his anguished irony, his humility before the perplexing plenitude of reality, the depth of his quest for clarity and truth.
        Milosz's poems circulate in the bloodstream not just of Polish but also of American poetry. He offered us at every stage of his development a model of poetic-of human-integrity and seriousness. One marvels at how much of the twentieth century he forced himself to confront and internalize, how much beauty he wrung from its blood-soaked precincts. So much of his work seems haunted by survivor’s guilt, the poignancy of living after what was, for so many, the world’s end. Poetry served him as an offering to the dead, a form of expiation, a hope for redemption. His first obsessive subject was the grim reality of human suffering. Yet his poems are also filled with a survivor's wonder, with a sense of astonishment that the world still exists at all, that we are here to partake of it with a profound gratitude and reverence. He was submerged, as he put it, "in everything that is common to us, the living." He looked to the earth-to being here-for salvation, and kept an eye on the eternal.
        Milosz's greatest poetry is written at the borders of what can be said. It makes a strong effort at expressing the unsayable. There was always in his work an element of catastrophism, a grave open-eyed lucidity about the twentieth century. His work was initiated by the apocalyptic fires of history. Milosz usefully employed the guilt so deeply ingrained in him to summon old stones, to remember those who came before him. He was weighed down by the past, fundamentally responsible to those he had outlasted, and thus bore the burden of long memory. He taught the American poet-and American poetry itself-to consider historical categories, not the idea of history vulgarized by Marxism but something deeper and more complex, more sustaining: the feeling that mankind is memory, historical memory, and that hope is in the historical." In both poetry and prose he gave us a series of Cassandra-like warnings about America's painful indifference to European experience, about the consequences of what happens when "nature becomes theater." In his splendid poetic argument with Robinson Jeffers, he countered Jeffers's praise of inhuman nature his native realm where nature exists on a human scale. Milosz modeled his own obsessive concern with our collective destiny; with he called "the riddle of Evil active in history." Like Alexsander Wat whose memory he devotedly kept alive, he was deeply aware of tragic fragmentation, but he didn't revel in that fragmentation so much as seek to transcend it. In our age of the most profound relativism, he offered an ongoing search for immutable values. He gave us a historical poetry inscribed under the sign of eternity.
        I love Milosz's poetry for its plenitudes and multilevel polyphonies. He taught us to love lyric poetry and also to question it. He insisted that his poems were dictated by a daimonion, and yet he also exemplified what it means to be a philosophical poet. His poetry was fueled by suffering but informed by moments of unexpected happiness. He understood the cruelty of nature and yet remembered that the earth merits our affection. He thought deeply about the rise and fall of civilizations, and he praised the simple marvels of the earth, the sky, and the sea. "There is so much death," he wrote in "Counsels," "and that is why affection / for pig-tails, bright-colored skirts in the wind, / for paper boats no more durable than we are." He wrote of the eternal moment and the holy word: Is. He reminded us how difficult it is to remain just one person. He insisted on our humanity. I love his poetry most of all for its radiant moments of wonder and being, because of its tenderness toward the human. It is a permanent gift.

    GIFT

    A day so happy.
    Fog lifted early, I worked in the garden.
    Hummingbirds were stopping over honeysuckle flowers.
     There was no thing on earth I wanted to possess.
    I knew no one worth my envying him.
    Whatever evil I had suffered, I forgot.
    To think that once I was the same man did not embarrass me.
    In my body I felt no pain.
    When straightening up, I saw the blue sea and sails.

    Quà tặng

    Một ngày thật hạnh phúc
    Sương tan sớm, tôi làm vườn
    Chim đậu trên cành
    Đếch có cái gì trên mặt đất mà tôi muốn sở hữu
    Đếch biết 1 ai xứng đáng cho tôi thèm
    Cái Ác, bất cứ gì gì, mà tôi đã từng đau khổ, tôi quên mẹ mất rồi.
    Nghĩ, có thời, tôi
    là cùng 1 người, cũng chẳng làm phiền tôi.
    Trong thân thể tôi, tôi không cảm thấy đau
    Khi ngẩng đầu lên, đứng thẳng dậy, tôi nhìn thấy biển xanh và những cánh buồm.

    Berkeley, 1971.

    Edward Hirsch: Poet’s Choice

    Vallejo

    Vallejo mất ngày 15 Tháng Tư 1938. Trong 15 năm cuối đời, ông không viết thêm được bài thơ nào đáng kể thêm vào thành tựu trước đó. Một năm sau khi ông mất, bà vợ góa cho xb Poemas humanos (Human Poems), gộp chung trong đó những bài thơ trữ tình, và thơ xuôi không đề ngày tháng, được viết giữa 1923 và 1936, cùng những bài có ghi ngày tháng, từ 1936 tới 1938. Những nhà học giả mới đây đề xuất, ba tập thơ tách rời cố ý, intended three separate collections, Payroll of Bones, Sermon on Barbarism, và the Spanish Civil War Verses. Tình cảm, ý nghĩ về con người, human feeling là đề tài chấn động của ba cuốn thơ tận thế này, the convulsive subject of these apocalyptic books. Những bài thơ nói về sự khó khăn gìn giữ bộ mặt người trong 1 thế giới kỹ nghệ, bị tha hóa, nơi con người lang thang, lạc lõng giữa những sự vật như những kẻ lạ và ngôn ngữ thì không còn đại diện, represent, thực tại. Tất cả được chụp, all are shot, với nỗi buồn, như thể, Vallejo đếch thích thú gì, và đếch còn nơi nào để bám trụ, cắm dùi, disaffected and dislocated, bèn chiến đấu để nói lên, rõ ràng, minh bạch được tới đâu thì OK tới đó, as clearly as possible. Những bài thơ bị ám ảnh bởi sự tiên cảm của cái chết của chính tác giả (Tớ sẽ chết ở Paris/vào 1 ngày mưa 1 ngày nào đó/tớ có thể đã nhớ), bởi cảm quan của ông về sự dằn vặt, day dứt của những người khác (Tớ biết có 1 người nào đó/kiếm tớ ngày và đêm trong tay của nàng/và trèo lên tớ, coming upon me/ từng khoảnh khắc trong gót giầy của nàng/each moment in her shoes), bởi nỗi thống khổ của ông về số mệnh Tây Ban Nha và định mệnh của Âu Châu. Sau cùng Vallejo xuất hiện, như 1 nhà tiên tri kêu nài công lý, như 1 ca sĩ kiểu Whitman bị đau khổ dằn vặt, di chuyển trong 1 vũ trụ tàn nhẫn:
     
    Đừng làm ta bực mình khi kể cho ta nghe bất cứ điều gì
    Rằng con người giết người thật là tài, thật là hoàn hảo
    Bởi là vì con người
    mực đổ mồ hôi
    làm cái điều hắn có thể
    đừng làm ta bực mình kể cho ta nghe…



    hẳn. có lúc lãng. quên

    đi qua. con phố. cũ
    lục. lại trong trí. nhớ
    người đàn ông. mù. ngồi. trên
    bậc. tam cấp                      
    tôi gọi ông. tiếng gậy. khua cùng
    lần mò. đứng. dậy
    mắt. ông đục. vô hồn
    hướng về. tôi
    gọi tên. bằng một giọng. rất cũ
    khàn. đục. và đầy. nhựa
    bàn tay. run rẩy ôm. lấy vai. tôi
    ông joe. người tướng già. tôi quen
    trong. cuộc chiến
    ngày. cũ
    những tấm hình. ông cho. xem
    ngày trẻ. trong quân. phục
    thật. lộng lẫy
    không còn. ngồi ở bậc. tam cấp
    những. tiếng động báo. cơn
    dông. sắp đến
    con phố. quá xa. Lạ

    Đài Sử

    John Ashbery: Mới tha về từ tiệm sách cũ, mới ghé. Tay này, khó đọc, đọc là dội. Gấu có mấy cuốn của xừ luý rồi, nhưng, đứng ở tiệm lật lật, thì có cảm giác, lần này chắc là khá hơn đấy, vì đọc được quá!

    Post 2 bài, để chào hàng.
    Sẽ có bản tiếng Mít ASAP - as soon as possible-


    A MOOD OF QUIET BEAUTY 

    The evening light was like honey in the trees
    When you left me and walked to the end of the street
    Where the sunset abruptly ended.
    The wedding-cake drawbridge lowered itself
    To the fragile forget-me-not flower.
    You climbed aboard. 

    Burnt horizons suddenly paved with golden stones,
    Dreams I had, including suicide,
    Puff out the hot-air balloon now.
    It is bursting, it is about to burst
    With something invisible
    Just during the days.
    We hear, and sometimes learn,
    Pressing so close 

    And fetch the blood down, and things like that.
    Museums then became generous, they live in our breath. 


    OFFSHORE BREEZE


    Perhaps I have merely forgotten,
    Perhaps it really was like you say.
    How can I know?
    While life grows increasingly mysterious and dangerous
    With nobody else really visible,
    And I am alone and quiet
    Like the grass this dayof no wind
    And sizzling knowledge.
    The leaves fall, fall off and burn. 

    At least one can nap until the Day of Judgment-
    Or can one? Be careful what you say, the perturbed
    Flock shifts and retreats
    In a colorful equation of long standing.
    No one knew what microorganisms
    Were metamorphosing. I like you
    Because it's all I can do. 

    What happens is you get the unreconstructed story,
    An offshore breeze pushing one gently away,
    Not far away. And the leggings of those meeting to
    See about it are a sunset,
    Brilliant and disordered, and sharp
    As a word held in the mouth too long.
    And he spat out the pit.

    Image may contain: text




    READING THE JAPANESE POET ISSA

    (1762-1826)

    A good world-
    dew drops fall
    by ones, by twos


    A few strokes of ink and there it is.
    Great stillness of white fog,
    waking up in the mountains,
    geese calling,
    a well hoist creaking,
    and the droplets forming on the eaves.

    Or perhaps that other house.
    The invisible ocean,
    fog until noon
    dripping in a heavy rain from the boughs of the redwoods,
    sirens droning below on the bay.

    Poetry can do that much and no more.
    For we cannot really know the man who speaks,
    what his bones and sinews are like,
    the porosity of his skin,
    how he feels inside.
    And whether this is the village of Szlembark
    above which we used to find salamanders,
    garishly colored like the dresses of Teresa Roszkowska,
    or another continent and different names.
    Kotarbinski, Zawada, Erin, Melanie.
    No people in this poem. As if it subsisted
    by the very disappearance of places and people.

    A cuckoo call
    For me, for the mountain
    For me, for the mountain


    Sitting under his lean-to on a rocky ledge
    listening to a waterfall hum in the gorge,
    he had before him the folds of a wooded mountain
    and the setting sun which touched it
    and he thought: how is it that the voice of the cuckoo
    always turns either here or there?
    This could as well not be in the order of things.

    In this world
    we walk on the roof of Hell
    gazing at flowers


    To know and not to speak.
    In that way one forgets.
    What is pronounced strengthens itself.
    What is not pronounced tends to nonexistence.
    The tongue is sold out to the sense of touch.
    Our human kind persists by warmth and softness:
    my little rabbit, my little bear, my kitten.
    Anything but a shiver in the freezing dawn
    and fear of oncoming day
    and the overseer's whip.
    Anything but winter streets
    and nobody on the whole earth
    and the penalty of consciousness.
    Anything but.

    Berkeley, 1978

    Czeslaw Milosz: New and Selected Poems, 1931-2001
    Nguyễn Hưng Quốc is with Tuan Nguyen.
    13 hrs ·

    VIẾT HAY

    Tôi đọc câu này lâu đến độ không còn nhớ ai là tác giả: “Nhiệm vụ đầu tiên của nhà văn là phải viết cho hay.” (The primary task of a writer is to write well). Mà, thật ra, cũng chả cần nhớ. Và cũng chả cần vào Google tra cứu. Câu ấy bây giờ quen thuộc đến độ không có nhà văn nghiêm túc nào lại không biết và không đồng tình, dù trên thực tế, khi viết, không hiếm người, do cẩu thả hay do mải mê theo đuổi một “thông điệp” nào đó, quên bẵng cái nhiệm vụ tiên khởi ấy.

    Note: Câu trên, GCC nghi là Thầy Kuốc đọc, trên… Tin Văn.

    Của Brodsky. Toàn câu, toàn ý, như sau:

    If a poet has any obligation toward society, it is to write well. Being in the minority, he has no other choice. Failing this duty, he sinks into oblivion. Society, on the other hand, has no obligation toward the poet. A majority by definition, society thinks of itself as having other options than reading verses, no matter how well written. Its failure to do so results in its sinking to that level of locution at which society falls easy prey to a demagogue or a tyrant. This is society's own equivalent of oblivion; a tyrant, of course, may try to save his subjects from it by some spectacular bloodbath.

    Nếu một thi sĩ có trách nhiệm gì với xã hội, thì đó là làm thơ hay. Là 1 thiểu số, hắn không có lựa chọn nào khác. Thất bại bổn phận này, hắn chìm vào quên lãng. Xã hội, về mặt khác, đếch có trách nhiệm gì với nhà thơ. Đa số, theo định nghĩa, xã hội nghĩ về chính nó, ta có có nhiều chuyện để mà làm, có khi đếch cần đọc thơ, dù thơ hay hay thơ dở. Cái thất bại của nó – thì không giản dị chìm vào quên lãng, như nhà thơ – mà là, nó chìm xuống đáy sâu, tới mức độ, tầng lớp của “locution”- thành ngữ, theo nghĩa, “nói như vẹm/vẹt”, như GCC hiểu -  và tới mức độ này, thì xã hội dễ dàng trở thành mồi cho 1 tên vô học, ưa ný nuận, 1 kẻ mị dân, hay 1 tên độc tài, bạo chúa…

    Joseph Brodsky: To Please a Shadow

    Đây là bài viết Brodsky vinh danh sư phụ của ông, là Auden.
    Cực hách, cực bảnh, (1) Gấu đang hăm he dịch toàn bài, bởi là vì có 1 "cảm thông" thú vị giữa Brodsky và Gấu. Brodsky bị đầy đi cải tạo, và trong 1 lúc được nghỉ đào xới cứt đái - chữ của ông - đọc Auden, qua 1 tuyển tập thơ 1 người bạn ở Moscow gửi cho, ông khám phá ra…  thơ của ông!

    Gấu cũng chẳng thua: Vô Trại Tù VC, khám phá ra nhạc sến, và chỉ đến khi đọc Milosz, đọc 1 câu ông trích dẫn Weil, trong bài Diễn Văn Nobel, thì khám phá ra 1 thứ ky tô giáo liên quan tới cái đẹp và cái thơ, và tới nhạc sến: "Khoảng cách là linh hồn của cái đẹp."
    Khoảng cách, ở đây, với Gấu, và cùng với Gấu, là lũ Ngụy, là giữa 1 bản nhạc sến, nghe, trước 1975, và sau 1975, ở trong tù VC.

    Viết hay, vẫn theo Brodsky, không mắc mớ gì tới thông điệp mà là đạo hạnh. Mỹ là Mẹ của Đạo Hạnh. Ông phán, [cũng] trong bài Diễn Văn Nobel.

    Mà, thật ra, cũng chả cần nhớ. Và cũng chả cần vào Google tra cứu!
    NHQ

    Vào Tin Văn cho chắc ăn! (2)
    NQT

    (1) Cực bảnh, cực hách. Brodsky mở ra bài viết:

    To Please a Shadow

    When a writer resorts to a language other than his mother tongue, he does so either out of necessity, like Conrad, or because of burning ambition, like Nabokov, or for the sake of greater estrangement, like Beckett. Belonging to a different league, in the summer of 1977, in New York, after living in this country for five years, I purchased in a small typewriter shop on Sixth Avenue a portable "Letter a 22" and set out to write (essays, translations, occasionally a poem) in English for a reason that had very little to do with the above. My sole purpose then, as it is now, was to find myself in closer proximity to the man whom I considered the greatest mind of the twentieth century: Wystan Hugh Auden.

    Khi 1 nhà văn phải dùng tiếng nước ngoài, thay vì tiếng mẹ đẻ, hắn làm như thế, hoặc là do cần thiết, như Conrad, hay là do tham vọng nóng bỏng, như Nabokov, hay là thèm ghẻ lạnh hơn cả ghẻ lạnh như Beckett. Tớ đếch thuộc trường phái này. Tớ bắt đầu viết tiếng Anh bằng 1 cái máy đánh chữ thổ tả mua ở Chợ Cũ, là để được gần gũi với sư phụ của tớ là Auden.

    (2)

    CON ĐƯỜNG DÀI VÀ ĐẪM MÁU NHẤT

    Chế độ cộng sản tại Việt Nam hiện nay là một chế độ phong kiến nhưng không có áo mão. Vậy thôi. Nếu ở Tây phương, sau khi chủ nghĩa cộng sản cáo chung ở Đông Âu, người ta nhận định: “Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất và đẫm máu nhất từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa tư bản” thì ở Việt Nam, nơi người ta, nhân danh cách mạng, kết liễu một triều đại có thật nhiều lăng để xây dựng một triều đại mới trên nền tảng một cái lăng thật đồ sộ và thật uy nghi, như một thánh đường, ngay giữa trung tâm thủ đô, chúng ta cũng có thể nói: Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất và đẫm máu nhất từ chế độ phong kiến đến… chế độ phong kiến.
    NHQ

    Câu nói trên, cái gì gì “đẫm máu nhất”… là của Todorov, Tin Văn trích dẫn trong bài viết về ông, cũng lâu rồi, trên mục tạp ghi do Gấu phụ trách, của tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác, sau post trên Tin Văn, Kẻ Bán Xới

    http://www.tanvien.net/tg/tg20_ke_ban_xoi.html

    Cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa CS, đây là lúc "thanh toán quá khứ". Khi mà người ta còn thấy trước mặt, một sức mạnh không làm sao tránh né, khi đó, sự đau khổ vẫn còn có ý nghĩa. Ngày mà chúng ta chấp nhận ý nghĩ bi thảm, khi tuyên bố, chủ nghĩa CS là con đường nhức nhối (tortueuse) dẫn từ "chủ nghĩa tư bản" đến "chủ nghĩa tư bản", khi đó, những người dân tại những nước cựu-toàn trị chẳng thể nào nhìn ra, ý nghĩa cuộc đời này (Todorov, p.69, sđd).

    Note: Trên Tin Văn, những câu phán, của Brodsky, của Todorov, hay của bất cứ 1 tác giả, đều ghi rõ tên tác giả. Dịch dọt, đều để kèm nguyên tác, để độc giả theo dõi, so sánh, và nếu cần, đưa ra những sửa đổi, hiệu đính, chất chính...
    Không hề có chuyện, "nếu ở Tây Phương", hay, “khỏi cần nhớ, khỏi cần gõ Google…” 
    Câu của Todorov, mà không khủng khiếp sao? Đã chôm, xóa mẹ tên tác giả, rồi còn phịa ra, “Ở Tây Phương” cái con mẹ gì nữa..
    Viết lách, tâm địa, như thế mà đòi “viết hay” ư?
    NQT
    Quoc Tru Nguyen shared a post.
    1 hr ·

    Bạn Khờ viết như thế này, thì chỉ được có 1 nửa sự thực. Thằng em trai đã tử trận Gấu, cũng y chang nhân vật trong truyện này. Nó đi thi, mà bạn bè ở ngoài, trong số đó, có Dương Phục, sĩ quan VNCH, làm bài, rồi đi vô phòng thi, đưa cho, và cứ thế chép vô. Một ông giám thị nói, thôi kệ, chúng nó cần có 1 cái bằng để chết.
    Nhưng đó là lúc sắp mất Miền Nam. Thời có bằng để chết. Trước đó, là thời có bằng để khỏi chết. Trước nữa, thời của Gấu, còn Diệm, đậu 1 cái bằng khủng khiếp, không đơn giản đâu. Một trong những người mà Gấu biết, làm trưởng đài phát tín Bưu Điện, đậu cái bằng Tú Tài I, rồi thi vô trường kỹ thuật Phú Thọ, ra trường làm Cán Sự Kỹ Thuật Bưu Điện - thời gian chưa có Trường Quốc Gia Bưu Điện – và tiếp tục học lấy bằng trở lại, mất 7 năm mới có được bằng Tú Tài II. NKL, bạn của Gấu, bạn Khờ biết, cũng trầy trật với Tú Tài 2, ban Toán, tức ban B, sau phải qua ban C, dành cho những người giỏi sinh ngữ, mới qua được. Nó dành cho đám trốn lính, qua chính sách hoãn dịch vì lý do học vấn. Ban B phải giỏi Toán mới học được.

    See More
    Khiem Do
    4 hrs

    Chuyện thi cử thời trước:
    1 bạn trạc lứa với mình đi thi Tú Tài được quân xa đưa đến. Vào lớp thi, bạn ấy không dùng phao mà có người đi theo lên bảng giải đề bằng phấn cho cả phòng cùng hưởng.
    Các thày, giám thị trường thi nín như thóc, người nào gan dạ lắm thì ngoảnh mặt đi và hát khe khẽ Phạm Đình Chương "Tôi từ chinh chiến đã ra đi, chiều xanh không thấy bóng phao thi"(Đôi mắt người Sơn Tây).
    Bạn này gọi nhà thơ Quang Dũng là bác ruột, và gọi thiếu tướng (VNCH) Bùi Đình Đạm là bố đẻ.
    Chuyện thi cử tại miền Nam thời chiến không phải chuyện đùa, "Rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con". Các bạn có khả năng và chuyên môn, sau thời gian quân trường thì được biệt phái về các bộ và làm công việc hành chánh. Đây là trường hợp của tất cả các thày và giám thị trường thi trong lứa tuổi động viên và tướng Đạm là TGĐ Tổng nha nhân lực của bộ quốc phòng!
    Giờ, có ai muốn lấy ánh mắt hỏa châu làm hoa đăng ngày cưới và chiến trường anh bước đi vào mùa trăng vu quy thì cứ việc lên tiếng, cho nên bạn này của mình đỗ tú tài chứ sao nữa.


    Bùi Đình Đạm, là Giám Đốc Nha Động Viên, tức là Ông Trùm quyết định phần số của thanh niên Miền Nam, nói cương ra thì là như vậy: Ông đẩy chúng vào chỗ chết, như đám Quân Cảnh vậy. Chính vì thế, mà khi 1 đứa con nít, con ông Đạm, vô tình mở cái cặp của ông, thấy khẩu súng, bèn chĩa vào thằng anh, đùng 1 phát, dân gian tin rằng, đây là cái “nghiệp” của ông ta phải trả. Chẳng thế mà khi Gấu đậu Tú Tài, nhà đói quá, thấy Sở Cảnh Sát Gia Định tuyển nhân viên, bèn chìa cái bằng Tú Tài ra, tay phụ trách gật đầu liền, về khoe với Bà Trẻ, người nuôi Gấu ăn học, Bà trợn mắt, đến lấy cái đơn xin việc, xé ngay cho ta. Nhà mi không có mả đánh người!

    Chuyện thi cử của Miền Nam vào lúc tầu sắp đắm, thê lương lắm. Nhưng chắc chắn sẽ không thê lương, như khi tầu Vẹm chìm: Cái Ác Bắc Kít sẽ gây họa cực kỳ khủng khiếp trước khi trở lại những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Mít.
    Sắp tới, chắc sẽ là, Trận Đánh Cuối Cùng của xứ Mít!

    Chỉ có Tận Thế mới cứu được xứ Mít, nghĩa của nó là thế!


    Cũng đồ lạc xoon. Joseph Conrad. Thầy của Graham Greene. The Secret Agent: Tên Điệp Viên

    Image may contain: 3 people, text

    No automatic alt text available.
    Tay này, thì lại là đệ tử của Graham Greene. Viết essays thần sầu, Gấu cực mê, và, quái làm sao, mỗi lần đọc là lại nghĩ đến bạn Khờ, bạn của Gấu. Bạn Khờ là tác giả Mít đầu tiên, Gấu đọc, khi ra được hải ngoại, và Gấu đã viết ra điều này rồi, trong bài viết Một Người Anh (TTT), trong đó, Gấu nhắc tới cuốn đầu tiên Gấu đọc, của bạn Khờ, Cây Gậy Làm Mưa. Một cách nào đó, Gấu nghĩ, bạn Khờ, với khả năng tiếng của lũ mũi lõ, thừa sức viết những bài như của Pico Iyer.
    Sự tình không được xuông xẻ như thế. Buồn thế.


    *


    CESAR VALLEJO

    I was born on a day
    that God was sick.


    CESAR VALLEJO'S POEMS have an anguished power, a rebellious lexical energy, and a wild, freewheeling emotionalism. Sympathy for the suffering of others is a current that runs through all of his work. At times, one feels as if he has descended into the welter of the unconscious and returned bearing messages from this other world. Yet his own voice comes through as that of the most vulnerable, agonized, and compassionate of speakers-a witness urgently testifying to the experience of human pain.

    Tớ sinh ra vào một ngày,
    Lão Tặc Thiên bịnh


    Thơ của César Vallejo có một quyền năng nhức nhối, u uất, thống khổ, một nhiên liệu từ vựng nổi loạn, và một thứ vãi linh hồn - một chủ nghĩa cảm tính, “ê mô xườn”-  rất ư là thoải mái. Nỗi “nhủ lòng trước thương đau của tha nhân” chạy dài suốt tất cả tác phẩm của ông. Đôi lúc, nhiều lúc, người ta có cảm tưởng như thể, ông lặn mình trong cõi lùng bùng vô thức và ngoi lên, ôm theo ông, những thông điệp từ thế giới khác đó. Tuy nhiên, giọng của riêng ông thì thấu suốt, như của 1 phát ngôn nhân dễ tổn thương nhất, nhức nhối/hấp hối nhất và cảm thông nhất - một chứng nhân khẩn thiết chứng nhận kinh nghiệm của con người, về nỗi đau của nó.

    Vallejo was born on March 16, 1892, in a small Andean mining town in northern Peru. He had Indian and Spanish blood on both sides. His poetry shows tremendous feeling for his mother, the emotional center of his religious childhood; for his father, a notary who wanted him to become a priest; and for his ten older brothers and sisters. He graduated from the University of Trujillo in 1915, with a thesis on romanticism in Spanish poetry.
    Vallejo supported himself by teaching in primary schools. He read widely, worked furiously at his poems, and belonged to the vanguard Colonida group. He also suffered several traumatic love affairs, after one of which he attempted suicide. In 1919, the year after his mother's death, he published his first collection of poems, Los heraldos negros, which Rebecca Seiferle has now scrupulously translated as The Black Heralds.

    THE BLACK HERALDS

    There are blows in life, so powerful ... I don't know!
    Blows like God's hatred; as if before them,
    the undertow of everything suffered
    were to well up in the soul ... I don't know!

        They're few; but they exist ... They open dark furrows
    in the most ferocious face and the most powerful loins.
    Perhaps they're wooden horses of barbaric Attilas,
    or black messengers that Death sends to us.

        They're profound lapses of the soul's Christs,
    of some adorable faith that Destiny blasphemes.
    Those bloodthirsty blows are cracklings of some
    bread that in the oven's door burns up on us.    

        And man ... Poor ... poor man! He turns his eyes, as
    when a slap on the shoulder calls us by name; 
    he turns his crazed eyes, and everything he's lived
    wells up, like a pool of guilt, in his gaze.    

        There are blows in life, so powerful ... I don't know!   


    Vallejo sinh này 16 Tháng Ba 1892 tại một thành phố mỏ nhỏ Adan ở phía Bắc Peru. Ông có máu da đỏ và Tây Ban Nha trong người, từ cả hai phía. Thơ của ông cho thấy tình cảm dữ dội dành cho mẹ, cõi trung tâm cảm xúc của thời ấu thơ tôn giáo của ông; dành cho ông bố, một chưởng khế tòa án, người muốn ông trở thành 1 tu sĩ; và cho 10 anh chị em của ông. Tốt nghiệp Đại Học Trujillo năm 1915, với luận án về chủ nghĩa lãng mạn trong thơ Tây Ban Nha.
    Vallejo tự kiếm sống bằng nghề dậy học tại trường tiểu học. Đọc rộng, cật lực - phải nói điên cuồng – làm thơ và thuộc nhóm tiên phong Colonida. Ông cũng trải qua vài cuộc tình nhức nhối, đầy thương đau, sau 1 cuộc tình, ông tính tự làm thịt mình. Vào năm 1919, một năm sau khi bà mẹ mất, ông cho xb tuyển tập thơ đầu tiên, mà bây giờ, Rebecca Seiferle cẩn trọng dịch là “The Black Heralds”, Những sứ giả đen.

    THE BLACK HERALDS

    NHỮNG SỨ GIẢ ĐEN

    Có những cú thọi, đấm, đá, bợp… trong đời, cực kỳ dũng mãnh, hung bạo… , tôi không biết!
    Những cú như thể hận thù của Chúa; như thể trước chúng
    Sóng dội  mọi thứ đau khổ
    Trào dâng trong linh hồn… Tôi không hiểu!

    Chúng có một dúm, nhưng chúng hiện hữu…
    Chúng mở ra những đường rạch u tối
    Trên bộ mặt hung dữ nhất và những thắt lưng dũng mãnh nhất
    Có thể chúng là những con ngựa gỗ của Attila man rợ
    Hay là những thiên sứ đen mà Thần Chết gửi cho chúng ta

    Chúng là cú vỗ sâu thẳm của những đấng Ky Tô của linh hồn
    Của niềm tin đáng mến mà Số Mệnh báng bổ
    Những cú đánh thèm máu nổ lốp bốp trên mẩu bánh mì lò nướng phả hơi nóng lên chúng ta

    A, con người, Khốn khổ… con người khốn khổ! Hắn đảo con mắt
    khi cú vả lên vai chúng ta bằng tên
    Hắn đảo con mắt khùng,
    và mọi điều hắn sống cạn láng đời, như cái ao tội lỗi, trong cái nhìn của hắn

    Có những đánh trong đời, thật hung hãn…. Tôi không hiểu!

    [Tạm dịch]

        The black riders come with messages of destruction that leave the speaker reeling and desolate. In these poems of alienated romanticism, Vallejo grapples with the anachronism of his past as well as the tragic incompatibilities of his divided heritage. Faced with these contradictions, he speaks of his own harsh solitude and inexplicable longings. Seiferle is wonderfully alert to the indigenous elements in Vallejo's work, though I don't agree with her polemical assertion that Vallejo has been "colonized" by such previous translators as James Wright, Robert Bly, Thomas Merton, and Clayton Eshleman, who have served the poet well. One of Vallejo's recurring subjects is the void left in the soul when the Logos has become uncertain and Christianity has lost its stable meaning. Suddenly bereft of a common spiritual vocabulary, the poet seeks to create an authentic language of his own in a fallen world.

        Kỹ sĩ đen tới với những thông điệp huỷ diệt làm kẻ phát ngôn ngất ngư, sầu não. Trong những bài thơ lãng mạn vong thân này, Vallejo nắm bắt cái vô thời của quá khứ, và những cái không thể tương hợp bi đát của di sản rã rời của ông. Đối diện với những mâu thuẫn này, ông nói tới sự cô đơn khắc nghiệt, tàn nhẫn, và những hoài vọng không thể giải thích được. Seiferle thật tuyệt vời tỉnh táo, về những yếu tố bản xứ trong tác phẩm của Vallejo, tuy nhiên, tôi [Hirsch] không đồng ý với sự cả quyết  có tính tranh luận của bà, khi phán, Vallejo đã bị biến thành 1 tên cô lô nhần (colonized), bởi những dịch giả như James Wright, Robert Bly, Thomas Merton, và Clayton Eshleman, những người đã phục vụ thật tốt (served well) nhà thơ. Một trong những đề tài trở đi trở lại của Vallejo, là sự trống vắng để lại trong tâm hồn, một khi mà “Logos” - tạm dịch “Lời” - trở nên “không chắc ăn”, uncertain,  và Ky Tô Giáo thì mất mẹ cái ý nghĩa vững vàng, ổn định của nó.
    Bất thình lình, bị nẫng mất cái cuốn từ điển thần linh thông thường, bình thường, nhà thơ bèn kiếm cách sáng tạo một ngôn ngữ đích thực của riêng ông, trong 1 thế giới sa đọa.

    [Ui chao, THNM, đoạn viết thần sầu trên, áp dụng cho thơ tự do của ông anh TTT, thì thật là tuyệt cú mèo! Nhớ, khi ông mới xuất hiện, lũ mắt trắng dã mới đánh ông và thơ tự do khốn nạn làm sao.
    Hỡi những người thù ghét thơ của ta ơi, cuộc hành trình hoàn toàn cô độc!
    Chính vì thiếu chất Ky Tô - trong thơ và trong đời thường - khiến TTT không thể lại viết lại, trong khi những nhà thơ như Milosz làm thơ hoài hoài, và càng làm thơ, càng xoáy sâu vào cái độc, cái ác của con người, theo GCC.]

        In 1920, Vallejo returned home for a visit and got inadvertently mixed up in a political feud. Though innocent, he went into hiding for three months and then was incarcerated for 105 days, one of the gravest experiences of his life. During this period, he wrote many of the poems for his second book, Trilce (1922), which both Seiferle and Eshleman have translated with great daring. Its seventy-seven poems, which bear numbers for titles, are hermetic; the syntax disregards grammatical rules and logical narrative. Language is put under intense pressure; surreal images float loose from their context and poetic forms are radically broken down and reconstituted. Neologisms abound. There is a cabalistic obsession with numbers in a world where reality is fragmented and death omnipresent. Vallejo's dire poverty, his bitter sense of orphan-hood ("Give way to the new odd number / potent with orphan-hood") and brooding exile from childhood, his rage over social inequities-all make their way into an astonishing work that fell, as the author declared, into a total void. He published no more collections of poetry in his lifetime.
        In 1923, Vallejo left Peru for good and settled in Paris, where he met his future wife, Georgette Phillipart, a woman of strong socialist convictions, and eked out the barest subsistence. Several times he nearly starved to death. In the late 1920s, he underwent a crisis of conscience and became consumed by the quest for a better social order. In 1931, he published two books: Tungsten, a social realist novel, and Russia in 1931, a travel book. His political activism peaked with his involvement in the doomed Republican cause in the Spanish Civil War. He wrote descriptive accounts of the conflict as well as a play, The Tired Stone, and the fifteen magnificent poems that became Spain, Take This Cup from Me. One of my favorites is the poem "Masa" ("Mass"), dated November 10, 1937:

        When the battle was over,
    and the fighter was dead, a man came toward him
    and said to him: "Do not die; I love you so!"
    But the corpse, it was sad! went on dying.

        And two came near, and told him again and again:
    "Do not leave us! Courage! Return to life!"
    But the corpse, it was sad! went on dying.    

        Twenty arrived, a hundred, a thousand, five hundred thousand,
    shouting: "So much love, and it can do nothing against death!"
    But the corpse, it was sad! went on dying.

        Millions of persons stood around him,
    all speaking the same thing: "Stay here, brother!"
    But the corpse, it was sad! went on dying.

        Then, all the men on the earth
    stood around him; the corpse looked at them sadly, deeply moved;
    he sat up slowly,
    put his arm around the first man; started to walk ...

    (TRANSLATED BY ROBERT BLY)

        Năm 1920, Vallejo trở về thăm nhà, và vuớng vô môt vụ hận thù chính trị. Tuy vô tội, nhưng ông phải ẩn trốn mất 3 tháng, và sau đó, bị ở tù mất 105 ngày, một trong những kinh nghiệm trầm trọng nhất trong đời ông. Trong thời gian đó, ông làm được rất nhiều thơ, cho tập thơ thứ hai, Trilce (1922), mà cả hai, Seiferle và Eshleman chuyển dịch với 1 sự săn sóc nâng niu tới chỉ. Bẩy bẩy, 77, bài thơ của nó, dùng con số làm tít, thì hũ nút, cú pháp đếch thèm để ý đến văn phạm, và tự sự thuần lý. Ngôn ngữ thì bị đặt dưới sức ép cực căng, những hình ảnh siêu thực lềnh bềnh, lều bều phiêu bạt, như muốn thoát ra khỏi nội dung, và những hình dạng thơ, thì bị gẫy vụn, bể nát, ngay từ cơ bản, rồi được cấu trúc lại. Tràn trề khắp khắp, là cái gọi là tân luận lý – xém thì viết thành tân hình thức, hà, hà – Có 1 ám ảnh cabalistic - thần bí giáo Do Thái - với những con số, trong 1 thế giới, nơi thực tại bị gẫy vụn thành từng mảnh, từng khúc, và cái chết thì ê hề. Sự nghèo đói tàn khốc của Vallejo, cái cảm quan cay đắng về côi cút (Mở ra 1 con đường tới con số cọc cạch mới/hiệu nghiệm với mồ côi”) và lưu vong trùng trùng từ ấu thơ, sự giận giữ của ông với những bất bình đẳng trong xã hội - tất cả mở ra 1 con đường đưa tới 1 tác phẩm văn học gây kinh ngạc, mà, nó, như tác giả của nó, tuyên bố, rớt vào một cõi trống rỗng hoàn toàn, vô ích, vô dụng, đếch có giá trị - a total void.

        Vào năm 1923, Vallejo rời Peru, for good, may mắn thế, “cho anh 1 tí Paris”, đúng như thế, nơi ông gặp người vợ tương lai của ông, và định cư ở Paris. Vợ ông, Georgette Phillipart, một người đàn bà với niềm tin XHCN mạnh mẽ. Và như thế, cuộc sống của cả hai lại càng thêm khốn đốn. Nhiều lần, ông đói lả, xém đi luôn. Vào cuối thập niên 1920, ông trải qua một cơn khủng hoảng tâm, và bị thiêu đốt bởi một ham muốn, phải tìm cho ra, 1 trật tự xã hội tốt đẹp hơn. Vào năm 1931, ông cho xb hai cuốn sách: Tungsten, một cuốn tiểu thuyết hiện thực xã hội, và Russia, 1931, 1 cuốn sách du lịch. Hoạt động chính trị của ông lên đến đỉnh cao với sự dính líu của ông vào lý tưởng, sự nghiệp Cộng Hòa thất bại, trong cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha. Ông viết những tường thuật về cuộc xung đột, và 1 vở kịch, Hòn Đá Mệt Mỏi, và 15 bài thơ tuyệt vời, sau trở thành Spain, Take This Cup from Me. Một trong bài thơ mà tôi [Hirsch] ưa thích, là “Masa” (“Mass”), đề ngày 10 Tháng 11, 1937:

    Khi trận đánh xong xuôi
    Và kẻ chiến đấu đã chết, một người đàn ông đi tới và nói với anh ta:
    “Đừng chết; tớ yêu bạn thế!”
    Nhưng cái xác chết, mới buồn bã làm sao, vưỡn tiếp tục chết.

    Và hai đấng đàn ông tới gần, nói, và nói, và lại nói:
    “Đừng bỏ chúng tôi! Hãy can đảm lên! Hãy trở lại với đời!”

    Và hai chục, một trăm, 1 ngàn, năm trăm ngàn, la lớn: “Tình yêu nhiều quá xá quà xa, và nó có thể làm - chẳng làm gì - chống lại cái chết!”
    Và cái xác, buồn ơi là buồn, vưỡn tiếp tục chết.

    Triệu triệu con người đứng quanh anh ta,
    tất cả nói, cùng 1 điều:
    “Hãy ở đây, người anh em!”
    Nhưng cái xác buồn ơi là buồn, vẫn chết.

    Và rồi thì, tất cả những người đàn ông trên trái đất,
    đứng quanh anh ta; cái xác buồn bã nhìn họ, buồn tới bến, cảm động tới bến; từ từ đứng dậy,
    choàng tay qua người đàn ông thứ nhất, khởi sự cất bước…

        Vallejo died on April 15, 1938. In the last fifteen years of his life, he wrote 110 poems that are his crowning achievement. The year after his death his widow published Poemas humanos (Human Poems), which brought together his undated lyric and prose poems written between 1923 and 1936, as well as dated poems from 1936 to 1938. Recent scholarship suggests that Vallejo intended three separate collections: Payroll of Bones, Sermon on Barbarism, and the Spanish Civil War Verses. Human feeling is the convulsive subject of these apocalyptic books. The poems speak to the difficulty of maintaining a human face in an alienated industrial world where people wander among objects like strangers and language no longer represents reality. All are shot through with sadness as, disaffected and dislocated, Vallejo struggles to speak as dearly as possible. The poems are haunted by premonitions of the poet's death ("I will die in Paris, on a rainy day, / on some day I can already remember"), by his sense of the torment of others ("I know there is someone / looking for me day and night inside her hand, / and coming upon me, each moment in her shoes"), by his grief over the impending fate of Spain and the destiny of Europe. Finally, Vallejo emerges as a prophet pleading for social justice, as a grief-stricken Whitmanian singer moving through a brutal universe:

    And don't bother telling me anything,
    that a man can kill perfectly,
    because a man,
    sweating ink, does what he can, don't bother telling me ...

    (TRANSLATED BY ROBERT BLY)

    Edward Hirsch: Poet's Choice




































    Cảnh đẹp VN


    Art2all
    Việt Nam Xưa
    Talawas
    theguardian/books
    Intel Life
    Huế Mậu Thân
    Cali Tháng Tám 2011

    Thơ JHV

    Trang đặc biệt

    Tưởng nhớ Thảo Trường

    Tưởng nhớ Nguyễn Tôn Nhan

    War_Pix
    Xử VC

    Hình ảnh chiến tranh
    Việt Nam của tờ Life

    Vĩnh Biệt BHD

    6 năm BHD ra đi


    Blog TV

    Trang NQT

    art2all.net

    Istanbul


    &

    Lô cốt trên đê làng
    Thanh Trì, Sơn Tây

    Bếp Lửa trong văn chương

    Báo Văn [Phê Bình] cũ, có bài của GCC

    Mù Sương
    Hồi Ký Viết Dưới Hầm
    Nghĩ về phê bình
    Mây Bay Đi
    Nguyễn Du giữa chúng ta
      "Tạp Ghi" by Tuấn Anh
    Chữ và Việc
    TSVC
    Nhã Tập
    Truyện Kiều ABC

    Xuân Vấn Đề Kỷ Dậu

    Truyện ngắn Võ Phiến

    Những ngày ở Sài Gòn
    nhà xb Hoàng Đông Phương

    Mộ Tuyết
    [Hồi bắt đầu đi làm]

    Happy Birthday GCC

    Cali 3.08

    Cali Tháng Tám 2011

    Tribute to NCT:
    Vietnam's Solzhenitsyn

    Cali 2012 With H/A

    Lolita vs BHD