Note: Để đỡ mệt, và đỡ tốn
thì giờ, Tin Văn sẽ chỉ update thường xuyên hai trang,
front page, và last page. Bạn đọc front page, nếu muốn đọc "previous
pages", thì click “last page”.
Những trang như Chân Dung, Đọc Sách…. sẽ thi
thoảng update
Kính
Tin Văn
Album
Richie Summer @ New House
Giuseppe
Ungaretti : In memory of ( Nguyễn Quốc Trụ )
BÀI NHỚ THI SĨ
The poet in a trench, on the Italian-Austro-Ungarian war
front, ca. 1916, source
http://www.lagrandeguerra.info
http://www.lagrandeguerra.info/links.php
GIUSEPPE UNGARETTI (1)
I have never held
so hard
to life
I'VE BEEN HAUNTED for years by the Italian poet Giuseppe
memorial poem to his friend Mohammed Sceab. The two young foreigners,
each trying to discover himself and seal his vocation, wildly excited
and disturbed by the adventure of modernism, lived the same obscure
Parisian hotel in 1912 and 1913.
I think of them roaming around the City of Light together,
both in their early twenties, both displaced-one an Italian from
Alexandria, the other a descendent of Arab nomads. They declared
their principles to each other, like young poets everywhere, and talked
endlessly about Baudelaire and Nietzsche, whom Sceab especially loved,
and Leopardi and Mallarmé, whom Ungaretti felt were sublime.
They were two literary kids from the provinces dreaming of greatness
in the modern capital.
Sceab was "a boy with clear ideas," as Ungaretti later
said, but he was also lost and tormented, filled with self-hatred,
and he committed suicide in 1913 "because he had been unable to feel
at home in any country." We see every day now the dire consequences
of absolute cultural dislocation, and we recognize what can happen
when people feel unable to liberate the song of their own homeless
desolation.
Here is the poem "In memoria" that Ungaretti wrote in 1916
from a trench in the midst of World War I. By then, Ungaretti feared,
no one remembered his friend anymore, no one knew who he was or what
he might have become. And it's true that Sceab's name is known to posterity
only because of the tender, dedicatory elegy that opened Ungaretti's
first volume of poetry. The poem appears in Andrew Frisardi’s splendidly
fresh and definitive translation of Ungaretti's Selectes Poems which I
am eager to recommend.
GIUSEPPE UNGARETTI
Tớ chẳng hề
kìm chặt
cuộc đời
Trong nhiều năm tôi bị ám ảnh bởi một bài thở
tưởng niệm của nhà thơ Ý Đại Lợi, Già Ung, dành
cho bạn của ông, là Mohammed Sceab.
Hai đấng ngoại quốc, trẻ măng, đứa nào đứa nấy cố khám
phá ra, chính mình, và đóng dấu ấn
lên cái gọi là thiên hướng của mình,
đứa nào cũng phấn kích, và, bực mình đến trở
thành hoang dại, bởi cái gọi là sự phiêu lưu
của chủ nghĩa hiện đại. Cả hai cùng sống ở 1 cái khách
sạn u tối ở kinh đô ánh sáng là Paris, vào
năm 1912 và 1913.
Tôi nghĩ về họ, cùng lang thang
trong Kinh Đô Ánh Sáng, cùng tuổi đôi
mươi, đều là hai kẻ bán xới –displaced - theo nghĩa bị đánh
bật ra khỏi quê hương - một gã Ý Đại Lợi, từ thành
phố Alexandria, và gã kia, dòng dõi 1 giống
dân du mục Ả Rập. Họ tuyên bố những nguyên lý của
họ, cho nhau nghe, và nói hoài hoài không
dứt, về Baudelaire và Nietzsche, người mà Sceab đặc biệt yêu,
và Leopardi và Mallarmé, người mà Già
Ung cảm thấy tới đỉnh, tuyệt cú mèo. Họ là hai đứa con
nít từ tỉnh lỵ, mơ sự lớn lao trong thủ đô hiện đại.
Sceab là 1 “đứa bé với những ý
nghĩ trong sáng”, Già Ung sau đó nói, nhưng
anh còn là 1 đứa bé bị thất lạc và bị dằn
vặt, bởi lòng thù hận chính mình, và
tự tử vào năm 1923, bởi là vì “anh không làm
sao cảm thấy nhà của mình, ở bất cứ một xứ sở.” Chúng
ta, bây giờ, ngày nào mà không nhận
ra, những hậu quả khốc liệt của thứ văn hóa bị bật gốc, bán
xới, không trụ vào được bất cứ một nơi chốn, và chúng
ta nhận ra rằng, chuyện gì có thể xẩy ra, khi con người
không thể giải phóng bài ca của nỗi tan hoang vô
gia cư, bị tróc gốc, của riêng họ.
Và đây là bài thơ
Tưởng niệm, “In memoria”, Già Ung viết năm 1916, từ 1 giao thông
hào trong Cuộc Đệ Nhất Thế Chiến. Kể từ đó, Già Ung
sợ rằng, chẳng còn ai nhớ đến bạn của mình, chẳng ai biết
bạn mình là ai, và số phận của anh ra sao, anh đã
trở thành cái chi chi. Và đúng như thế, Sceab
đã trở thành bất tử nhờ bi khúc dịu dàng, tha
thiết, mở ra tập thơ đầu tiên của Già Ung
IN MEMORY OF
Locvizza, September 30, 1916
His name was
Mohammed Sceab.
Descendent
of emirs of nomads
a suicide
because he had no homeland
left
He loved France
and changed his name
He was Marcel
but wasn't French
and no longer knew
how to live
in his people's tent
where you hear the Koran
being chanted
while you savor your coffee
And he didn't know how
to set free
the song
of his desolation
I went with him.
and the proprietess of the hotel
where we lived in Paris
from number 5 Rue des Carmes
an old faded alley sloping downhill
He rests
in the graveyard at Ivry
a suburb that always
seems
like the day
a fair breaks down
And perhaps only I
still know
he lived
Hirsch:
Poet's Choice
(1) Già Ung
http://www.tanvien.net/tg_vn_01/30.4.ttt.html
Note: Bài thơ tuyệt vời nhất của
Thơ Ở Đâu
Xa, TTT đề tặng 1 thi sĩ, bạn quí
của ông, Ông Trùm Sáng Tạo, "cũng" thi sĩ,
để nhớ, 1 thi sĩ khác, là Già Ung.
Vậy mà nỡ lòng nào lầm bạn mình
với 1 tên thợ sắp chữ, và thằng khốn lại còn hỗn
đến mức hỏi xin ông Trùm 1 điếu thuốc lá! NQT
BÀI NHỚ THI SĨ
Nhớ
Già Ung *
Gửi
MT
Sáng nay thức giấc trong nhà giam
Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ
Bừng cháy trong lòng
anh bấy lâu
u ám quạnh quẽ
Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu
Mưa bụi rì rào
Gió náo nức mù tối
Trễ muộn mùa xuân trên miền cao
Đang lay thức rừng núi biên giới
Đã qua đã qua chuỗi
ngày lạnh lẽo anh tự nhủ
Cũng qua cơn khô hạn khác thường
Tắt theo ngọn nắng chon von mê hoặc
đầu óc quái gở
Từng thiêu đốt anh trên đồi theo vào
đêm
hành hạ anh đớn đau
Từ bao giờ anh đứng trân trối
cô đơn
Hôn ám trời sơ khai nhìn qua song tù
ngục
Hoang vu lời thơ ai reo hát cùng cỏ lá
heo hút
Dẫn đưa anh về tận nẻo nguồn
chốn bình minh lẩn lút
(Bình minh bình minh
anh kêu khẽ cảm động muốn khóc
Mai Mai xa Mai như hoa Mai về
tình thơ hôm nay)
Em, em có hay kẻ tội đồ biệt
xứ
sớm nay về ngang cố quận
Xao xuyến ngây ngô hắn dọ hỏi bóng tối
sâu thẳm
Đêm vây hãm
lụn dần
Thủ thỉ mưa ru ngày khốn đốn
Em, soi bóng em hồn nhiên
trên lối thời gian
Lặng lẽ anh gầy nhóm lửa tinh mơ đầm ấm.
Lào Kay 4/78
Vĩnh Phú 1/79
Thanh Tâm Tuyền
Thơ
Ở Đâu Xa
Ghi chú của tác giả:
Già Ung: Giuseppe Ungaretti
(1898-1970). Thi sĩ Ý.
******
Re: Bi Kịch Trịnh Công Sơn
Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc
đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng
tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và
bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.
Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài
"Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước
đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người"
và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt
Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi"
còn nhẹ nhàng, và còn có gì
đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn
Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ
của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn
ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi
đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà
lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.
Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là
mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp
dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.
Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc
anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình
Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học
để về chịu tang ba.
Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú
ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong
một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã
bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng,
nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không
bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris
và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư
... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Trịnh Cung
Điều mà TC gọi bi kịch TCS, như trên, giả như TCS còn
sống, có thể ông ta nghĩ khác, và điều ông
nghĩ khác, có thể... giống như GCC nghĩ về ông,
trong bài viết ngắn, Những Ngày TCS.
Gấu nghi, điều mà TC gọi là bi kịch, là điều
mà nhà thơ Mẽo Edward Hirsch viết, về hai đấng thi sĩ Già
Ung, và bạn quí của ông Sceab: đóng dấu ấn
lên cái gọi là thiên hướng của mình.
Cứ giả như TCS không gặp ba thứ tai biến, tai nạn trong gia
đình, và được đi du học, trở thành bác sĩ,
thì trên đời sẽ chẳng có cái tên “giải
phóng bài ca của nỗi tan hoang vô gia cư, bị tróc
gốc, của riêng họ”.
Họ, ở đây, là lũ Ngụy. Chúng đâu còn
cái chó gì sau khi Bắc Kít ăn cướp được Miền
Nam?
We see every day now the dire consequences of absolute cultural dislocation,
and we recognize what can happen when people feel unable to liberate the
song of their own homeless desolation.
Hà, hà!
Vả chăng viết về những người đã chết, đúng là
1 thứ nghệ thuật, đúng như Brodsky viết, trong bài viết
của ông về bà chị của ông, là nữ thần thi ca
Nga, Anna Akhmatova:
Như một đề tài, cái chết là một thứ thuốc thử
mầu tốt để xét nghiệm đạo hạnh của một nhà thơ. Thể loại
‘ai điếu’ thì thường được sử dụng để rèn luyện trò
thương thân, hay dành cho những chuyến đi siêu hình
nhằm thể hiện tính cao ngạo ngầm của kẻ sống sót đối với nạn
nhân, của đa số (những kẻ còn sống) đối với thiểu số (những
người đã chết). Anna Akhmatova không mắc mớ gì đến chuyện
này. Bà chăm chút đến cái tư riêng của
những người đã nằm xuống, thay vì biến họ trở thành
những trường hợp chung, kể từ khi bà chỉ viết về 1 thiểu số, và
như vậy, thật dễ dàng cho bà, khi phải nhận dạng trong bất
cứ trường hợp. Bà giản dị viết về họ, coi họ như là những cá
nhân mà bà đã từng quen biết, và là
người mà bà cảm thấy sẽ không bị sử dụng như là
điểm khởi đầu cho bất cứ một hướng đi nào, cho dù đặc biệt
ra sao.
Lẽ đương nhiên, những bài thơ như thế không thể
được in ra, ngay cả chuyện viết ra mặt giấy, hay là chép
lại, thì cũng không. Chúng chỉ có thể được ghi
vào trí nhớ, bởi nhà thơ, hay cùng lắm, bởi
dăm ba bạn thân, kể từ khi mà bà không thể nào
tin tưởng được cái trí nhớ của riêng bà. Đôi
khi, gặp 1 người bạn thân như vậy, tại 1 nơi chốn riêng tư, bà
sẽ nói, này, này, đọc lại một cách lặng lẽ bài
này, hay bài kia, hay cái sự chọn lọc đó, như
là 1 cách thức để sắp xếp cái ngăn kéo của hồi
nhớ, dành riêng cho thơ. Đừng bao giờ nghĩ, đây là
1 thứ trò chơi quá trớn, hay cường điệu, hay thái quá:
con người ở đây có thể bị biến mất, biệt tăm biệt tích,
mãi mãi, chỉ vì những điều còn nhỏ nhặt hơn
là 1 mảnh giấy với vài hàng chữ trên đó.
Ngoài ra, bà không sợ, quá nhiều, cho riêng
bà, hay cho cậu con trai đang ở tù, mà bà quá
tuyệt vọng dõng dã 17 năm trời, chờ mong ngày nhận được
giấy phép ra trại. Một mẩu giấy với vài hàng chữ trên
đó gây mất mát, tổn hại rất nhiều, đối với người chủ
của nó, hơn là đối với bà, một người chỉ còn
có thể mất hy vọng, hay là mất luôn cái đầu, nghĩa
là, trở thành điên loạn.
Hỡi ơi, những ngày của cả hai, - mất hy vọng và điên
cái đầu - sẽ đếm được, khi nhà cầm quyền kiếm thấy “Kinh
Cầu”, một vòng những bài thơ diễn tả tình cảnh, sự
thử thách, của 1 người đàn bà, con trai bị bắt, và
đứng đợi dưới chân những bức tường nhà tù với gói
đồ thăm nuôi, hay chạy hối hả từ những nha sở này, tới nha
sở khác để có được tin tức về số phận của con. Bây
giờ, thời gian chung quanh bà, thì mang tính tự thuật,
đúng như thế, tuy nhiên, sức mạnh, quyền uy, của “Kinh Cầu”
thì hệ tại ở điều, là, 1 tự sự, 1 tự thuật, một nói
về mình, như của Akhmatova, là của chung, ai ai thì
cũng xêm xêm như vậy, [chồng con cải tạo, mẹ hay vợ đi thăm
nuôi…, cả Miền Nam là như thế, và đó là
tự thuật]. “Kinh Cầu” cầu nguyện cho những người cầu nguyện, khóc
than cho những người khóc than: mẹ mất con, vợ biến thành
góa phụ, đôi khi thành cả hai, như trường hợp của tác
giả. Đó là bi kịch khi bản đồng ca cứ thế tàn tạ, cứ
thế lịm đi trước nhân vật.
Joseph Brodsky
30.4.2014
007 Mít sập tiệm: Điềm
báo chế độ VC?
Có thể lắm. Chuyên
đóng vai “Ván bài bật ngửa” [“bật” nhe, không
phải “lật”], biểu tượng người hùng của “chế độ ta”, người không
mặt, bi giờ sập tiệm, không phải là điềm báo động chế
độ sập ư?
GCC post liền mẩu S.O.S, trên,
để cứu nguy 007 Mít. Đọc 1 phát là “Y tá dạo
ngày nào” bèn xì tiền ra liền, đếch cần nhân
dân, nhà hảo tâm nào khác.
Nghe nói, cũng bà con gì đó!
Hà, hà!
Đã có tiền lệ rồi. Thời ông Thầy của GCC, VKK, còn sống, có
lần ông kể cho lũ học trò của ông nghe, có những
tên Tẩy mũi lõ, ở bên mẫu quốc, đói quá,
bèn mò qua Hà Nội, chẳng làm gì hết,
cứ mỗi lần cần tiền là ra nhà hàng Godard, ngửa cái
mũ lên. Bọn mũi lõ bèn
bỏ tiền vô. Thấy đủ mức cần dùng, là đi.
Để “bảo chứng” cho cú
lừa mang theo lương thực 10 ngày, là cú học tập 3 ngày
tại cơ quan. Gấu thực sự chỉ trải qua ba ngày học tập cải tạo tại
Trung Ương Cơ Xưởng VTD Bưu Điện, số 11 PDP, đúng nơi làm
việc đầu tiên, sau khi ra trường. Hết 3 ngày, ngày ngày
vô Sở, chẳng có việc làm gì làm, thời
gian quân quản, thế là chuồn, đi chích.
Ra ngay Bến Tầu Sài Gòn. Đi cổng sau, dành cho
nhân viên ra vô, quẹo trái, đi bộ tà tà,
tới bờ sông, thì vẫn nơi cũ cảnh cũ, làm một mũi, thuê
cái ghế bố nằm phê, hà hà!
Đám sĩ quan Ngụy hầu hết
dính quả lừa này: 10 ngày phù du, sau là
về cùng xây cái nhà Mít mới, hoành
tráng bằng trăm bằng muời nhà cũ!
Lần đầu tiên trình
diện Sếp trực tiếp, Gấu sững người. Ông ta xanh lét, gầy nhom,
đúng ba thằng VC trèo cọng đu đủ đếch ép chê
chi hết. Đủ thứ bịnh, sốt rét, gan, thiếu ăn. Món ăn ông
ta mê nhất là món mì gói, ông ta
giải thích, cực gọn, tiện, phải Cách Mạng thành công,
ông mới được thưởng thức. Và đúng như Brodsky phán,
về ông con trai bà chị nhà thơ, bao nhiêu nỗi
khổ của đám VC đổ hết lên đầu tụi Ngụy.
Chuyện cũng bình thường.
Trong lịch sử, bao nhiêu thành phố chống giặc ngoại xâm
hăng quá, khi thua, chúng vô, làm cỏ sạch.
Bởi thế mà VC phán, tha không “biển máu” là
may quá cho tụi Ngụy mi rồi, kêu ca gì nữa!
Ui chao,
bỗng nhớ… Sến Cô Nương và những
ngày GCC cắp rổ theo hầu, thời còn Chợ Cá Bá
Linh.
Sến mắng “êu” Gấu, sao anh cứ cay đắng “Hoài” như thế.
Nếu không có Giải Phóng, làm sao anh được
cắp rổ theo hầu… Em?
JULIA HARTWIG 1921-
Expectation of an imminent calamity.
Many people have lived through such a moment, but they haven't left poems
about it.
Yet those moments are an integral part of history, of many cities and
countries.
Ngửi thấy mùi
thảm họa. Nhiều người Mít đã trải qua một khoảnh khắc như
thế, nhưng họ quên không để lại 1 bài thơ.
Tuy nhiên, những khoảnh khắc này là 1 phần toàn
thể của lịch sử, của nhiều thành phố và xứ sở.
ABOVE US
Boys kicking a ball on a vast
square beneath an obelisk
and the apocalyptic sky at sunset to the rear
Why the sudden menace in this view
as if someone wished to turn it all to red dust
The sun already knows
And the sky knows it too
And the water in the river knows
Music bursts from the loudspeakers like wild laughter
Only a star high above us
stands lost in thought with a finger to its lips
Translated
from the Polish by Stanislaw Baranczak and Clare Cavanagh
Czeslaw
Milosz giới thiệu, trong A Book of Luminous
Things
Ở bên trên chúng
ta
Trẻ con chơi đá banh ở
một công viên rộng lớn
bên dưới Đài Kỷ Niệm Điện Biên
và bầu trời tận thế thì đỏ mọng,
‘không gian bỗng đỏ rực, rồi đêm xuống trùm lên
tất cả’
Tại sao cái sự hăm dọa bất thần như thế
Như thể có 1 người nào đó ao ước biến tất cả thành
bụi đỏ
[Có phải đốt sạch Trường Sơn, thì cũng đốt]
Mặt trời biết điều đó
Bầu trời cũng biết điều đó
Nước sông Sài Gòn cũng biết luôn
Nhạc “Như có Bác H trong ngày vui như thế này”,
bỗng ré lên như 1 tiếng cười man rợ
từ chiếc loa của Ban Thông Tin Phường Bến Nghé
Chỉ có 1 ngôi sao ở thật cao trên đầu chúng
ta,
thì vẫn như lạc lõng trong suy tư,
với ngón tay đặt lên đôi môi
Eternities
A child lifted in his mother's
arms to see a parade
And that old man throwing breadcrumbs
To the pigeons crowding around
his feet in the park,
Could they be the same person?
The blind woman who may know
the answer recalls
Seeing a ship as big as a city block
Glide one night all lit up past
her kitchen window
On its way to the dark and stormy Atlantic.
Charles Simic. Granta: Summer
2013: Travel
Vĩnh Cửu
Đứa bé níu tay
mẹ, cố ngước nhìn đám rước ngày 30 Tháng Tư
1975
Ba muơi năm mới có ngày hôm nay
Vui sao nước mắt lại trào.
Và cái tay già khằn, vừa lùn vừa lé,
đang ném những mẩu bánh mì cho đàn bồ câu
quanh quẩn dưới chân anh già ở 1 công viên
Toronto, Canada
Phải chăng là cùng 1 người?
Người đàn bà mù
có thể có câu trả lời
Nhớ lại
Đã có 1 lần nhìn thấy 1 con tầu to bằng cả 1 góc
biển Đông,
Chạy suốt mảnh đất hình chữ S
Đưa bà và hai đứa con đến bến cảng Xề Gòn
Trong 1 đêm tối thui, bão tố đầy trời.
Bosnia Tune
As you sip your brand of scotch,
crush a roach, or scratch your crotch,
as your hand adjusts your tie,
people die.
In the towns with funny names,
hit by bullets, caught in flames,
by and large not knowing why,
people die.
In small places you don't know
of, yet big for having no
chance to scream or say goodbye,
people die.
People die as you elect
brand-new dudes who preach neglect,
self-restraint, etc.-whereby
people die.
Too far off to practice love
for thy neighbor/brother Slav,
where your cherubs dread to fly,
people die.
While the statues disagree,
Cain's version, history
for its fuel tends to buy
those who die.
As you watch the athletes score,
check your latest statement, or
sing your child a lullaby,
people die.
Time, whose sharp bloodthirsty
quill
parts the killed from those who kill,
will pronounce the latter band
as your brand.
[1992]
Joseph Brodsky: Collected Poems in English
*
Chuyện trò với Brodsky, chương
Tưởng nhớ Akhmatova.
Volkov: Lev Gumilyov con trai
của Akhmatova, trách mẹ nhiều lần là đã không
lo lắng đủ, not doing enough, cho anh ta, khi còn là đứa con
nít cũng như trong những năm tù. Tôi có nói
chuyện với 1 hoạ sĩ già Latvian, cùng ở trại tù với
Lev. Khi tôi nhắc tới Akhmatova, mặt ông ta đanh lại và
nói, bà ta gửi những gói quà nhỏ xíu cho
thằng con.
Nghe cứ như chính giọng ông con.
Brodsky: Lev trách, blame, mẹ, và
anh nói điều gì đó, làm bà đau lắm. Tôi
nghĩ những cú đau tim của bà là do ông con trai
hay 1 trong những lý do của căn bịnh. Nhưng không hẳn như
bạn nói. Ý của những lời nói của Lev là vầy:
Với bà thì cách tốt đẹp nhất xẩy ra cho tôi, là
chết ở trong tù VC Liên Xô.
Anh ta muốn nói,
với bà, “như là 1 thi sĩ”.
Ngay cả 1 người bạn cũ
phán như thế, thì tôi cũng vặc lại anh ta, mi là
thứ heo chó, huống hồ đây là ông con trai do
mình đẻ ra!
Lev đã trải qua
18 năm trong tù, và thời gian dài đằng đẵng đã
làm anh ta thành què quặt (and those years apparently
maimed him). Anh ta bèn quyết định, ta đã khổ như thế, thì
ta có thể làm bất cứ điều gì.
GCC đọc đoạn trên, và
THNM, bèn liên tưởng đến cuộc chiến Mít, kèm
với nó là chiều dài lịch sử dựng nước Mít.
Cả 1 bốn ngàn năm văn
hiến như thế, Bắc Kít chỉ biết đói và lạnh, thì
chỉ nêu cái cú khủng nhất. Trong khi Nam Kít,
cả 1 cuộc sống thiên đàng dài dài, từ mùa
màng cho đến thời tiết, thiên nhiên ưu đãi, lòng
người cũng mở toang ra cùng với nó. Nhưng trên hết, và
sau cùng, giả như cuộc chiến ngắn đi 1 chút, có lẽ
Bắc Kít đã không đối xử tàn tệ đến mức như thế!
Ba mươi năm mới có ngày nay, vui sao nước mắt lại trào!
Hà, hà!
Đúng là 1 thời đắng nghét!
[chữ của DMT [Đỗ Minh Tuấn, khi viết về 007 Mít,
NCT]
Brodsky. Lev did blame her, and
he said something to her that tormented Akhmatova greatly. I think it may
have been the cause of her heart attack, one of the causes in any event. This
isn't an exact quotation, but the sense of Gumilyov's words was this: "For
you it would have been even better if I'd died in the camp." He meant "for
you as a poet."
Even if an old friend had said it, my first thought would have been,
"What a pig you are really." But this was her son saying it! Lev Gumilyov
spent eighteen years locked up, and those years apparently maimed him.
He decided that because he had endured so much, he could do anything, that
from then on everything would be forgiven.
In the case of Lev Gumilyov, all kinds of psychological elements are
layered in here as well. Above all, in the absence of his father, he was
the man of the family, and although she was both a mother and a poet and
Akhmatova, nonetheless, she was a woman. Therefore he thought he could tell
her anything he felt like. All of this is the poor man's Freud, of course,
but that's apparently how he manifested his masculinity. I gave this quite
a lot of thought at one time-and Akhmatova would be the first to condemn
me for getting mixed up in this-but her son did not end up occupying the
high ground here. With this sentence about its being "better for her," he
showed that he had let the camps cripple him, that ultimately the system
had got what it was after.
Solomon Volkov: Conversations
with Joseph Brodsky. Remembering Anna Akhmatova
"For you it would have been even
better if I'd died in the camp." He meant "for you as a poet."
Đây là thái
độ của đám nhà văn Miền Nam chạy thoát cuộc chiến
từ ngay những ngày đầu. Họ đều nghĩ, đám đi tù VC thì
đều đã chết rồi.
Tốt nhất, là chúng
chết trong tù VC, như là những nhà văn Ngụy!
Tưởng niệm Brodsky nhân ngày mất
của ông
January 2001
Archangelsk, cái lạnh
mặn, những con người Baltic nhạt
Trẻ con ném những trái banh tuyết vô những bức
tượng Xô Viết
Cái ớn lạnh Bắc Cực của
mặt trăng vào giữa trưa
Cây bao, bộ hành cuộn.
Mặt trời rùng mình
sau những ống khói
Như một tên lính cứng lạnh ngay tại chỗ
Ở Viện Bảo Tàng Viễn Bắc
lù tù mù ánh đèn
Ðề tài là về cuộc lưu vong nội xứ của nhà
thơ
Siêu hình đấu với
Lịch sử, và
Cuộc chiến đấu thê lương giữa Thơ và Thời gian
Một Cuộc Chiến Lạnh chẳng hề
chấm dứt.
Thì cũng y chang tình yêu của nhà thơ với
những bến cảng sũng nước
Và những con mèo
bướng bỉnh, đặc biệt giống Nga
Xanh, tới từ Bạch Hải
Sau đó, là một
cuộc tản bộ lầy lội trong tuyết, trong không khí mặn mùi
muối
Ngủ trong áo choàng ở những trại lính đã
được cải tạo
Suốt đêm tôi nghe
có những tiếng giầy nhà binh bị bóp nghẹn
Của một đội quân diễn hành qua những con phố
Dưới cái vỏ thật là
dầy của đêm đen
Nhưng vào buổi sáng, cái buổi sáng tưởng
niệm,
Tôi
thức giấc, bổ choàng vào trong 1 sự yên lặng thật là
quyền uy, hách xì xằng.
Tuyết
chiếm cứ thành phố.
Edward Hirsch
Milosz
cực mê Brodsky, không phải thơ, mà cuộc đời thật bảnh
của ông, không tì vết, trong khi ông, nhà
thơ bửn của thế kỷ được Nobel văn chương! Chính ông tự thú,
qua bài thơ “Wash”, TV đã giới thiệu. Đây cũng là
1 đề tài của thế kỷ. Trong “Tiền Thân Kafka”, Borges chẳng
đã kể về 1 tay chuyên làm bạc giả, được Thượng Đế trao
cho trách nhiệm đếm bạc ở kho tiền Luân Đôn: chính
là vì thằng chả thân quen với cái xấu.
GCC tin rằng TTT đếch làm sao viết được nữa sau Trại Tù,
ấy là vì ông… sạch quá.
Note: Để đỡ mệt, và đỡ tốn
thì giờ, Tin Văn sẽ chỉ update thường xuyên hai trang, front
page, và last page. Bạn đọc front page, nếu muốn đọc "previous pages",
thì click “last page”.
Những trang như Chân Dung, Đọc Sách…. sẽ thi thoảng update
Kính
Tin Văn
ROBERT FROST AND EDWARD THOMAS
the only brother I ever had ...
-ROBERT FROST
ROBERT FROST didn't love many people, but one of the
few he did love was Edward Thomas (1878-1917), a splendid
English poet who has been underappreciated on our side of the
Atlantic. The two met in England in 1913 and made a lasting bond.
Frost recognized the lyric element in Thomas's prose writings about
nature and persuaded him to start writing poetry. ("Did anyone ever
begin at 36 in the shade?" Thomas wondered.) Thomas also began writing
under the stimulus of World War I - Frost said the war ''made some
kind of new man and a poet out of him." Frost penned a touching
elegy for him, which begins:
I slumbered with your poems on my breast
Spread open as I dropped them half-read through
Like dove wings on a figure on a tomb,
To see, if in a dream they brought of you,
I might not have the chance I missed
in life
Through some delay, and call you to your
face
First soldier, and then poet, and then both,
Who died a soldier-poet of your race.
Edward Thomas wrote 142 poems between December 1914
and April 1917, when he died in Flanders. He never saw a
book of his poems in print. His poetry was triggered by his
genuine love of the English countryside, his feeling for the unfathomable
mysteries of nature. Prone to depression, he always delighted
in what he called "this England.” His friend Walter de la Mare
remembered that "England's roads and heaths and woods, its secret
haunts and solitudes, its houses, its people -themselves resembling
its thorns and juniper- its very flints and dust, were his freedom
and his peace." Like Thomas Hardy loved the oldest English poetry,
traditional ballads and folk songs, which come down to us, he said,
"imploring a new lease of life on the sweet earth."
Thomas wrote "The Owl" in February 1915,
three months before enlisting. I love the dramatic clarity,
the rhythmic poise, and the spiritual balance of this impassioned
poem, which was first published under the title "Those Others."
THE OWL
Downhill I came, hungry, and yet not starved;
Cold, yet had heat within me that was proof
Against the North wind; tired, yet so that
rest
Had seemed the sweetest thing under a roof
Then at the inn I had food, fire, and rest,
Knowing how hungry, cold, and tired was I.
All of the night was quite barred out except
An owl's cry, a most melancholy cry
Shaken out long and clear upon the hill,
No merry note, nor cause of merriment,
But one telling me plain what I escaped
And others could not, that night, as in I
went.
And salted was my food, and my repose,
Salted and sobered, too, by the bird's voice
Speaking for all who lay under the stars,
Soldiers and poor, unable to rejoice.
I'm moved by the scrupulous emotional precision of
this poem about coming to a place of rest after a long winter
tramp in the country. The speaker recognizes that he entered
the inn hungry but starved, cold but not frozen, tired but not
so exhausted that rest impossible. The owl's melancholy cry splits
the poem in half. The part is given over to a feeling of gratitude,
the second to the speaker’s recognition of his own privilege; of what
he managed to escape others could not. I especially like how Thomas
savors the word which means "flavored" but also carries connotations
of bitterness tears, of open wounds. "The Owl" sounds a deep nocturnal
note, and it demonstrates what de la Mare called Thomas's "compassionate
and suffering heart."
ROBERT FROST AND EDWARD THOMAS
Bạn quí độc nhất tôi đã
từng có
Robert Frost không yêu nhiều người, nhưng
1 trong số ít người mà ông yêu là
Edward Thomas (1878-197), một nhà thơ người Anh tuyệt vời vốn
không được đánh giá cao ở phiá bờ biển Đại
Tây Dương của chúng ta.
Hai đấng bạn quí gặp nhau ở Anh vào năm 1913, và
tình bạn của họ bền ơi là bền kể từ đó. Frost nhìn
ra thành phần trữ tình trong văn xuôi của Thomas
và xúi bạn mình khởi sự làm thơ (Bạn không
nói đùa đấy chứ? Bạn muốn tôi trở thành 1 trung
niên thi sĩ, như Giàng Búi ư?) Thomas cũng khởi sự
viết dưới cú cú hích của Đệ Nhất Thế Chiến – Frost
phán, chiến tranh khui ra 1 thứ đàn ông mới và
một nhà thơ, từ ông bạn quí của tôi.
Và Frost đi 1 đường bi khúc nhức nhối
về bạn quí của mình, bắt đầu:
Tớ lấp ba lấp bấp với mấy bài thơ của bạn,
ở trong tim của tớ
[THNM, bèn nhớ tới hai câu thơ của Joseph
HV đọc lầm thầm vào tai thằng bạn ghiền của mình, tội
thằng Trụ quá, chắc khó mà qua nổi con trăng này:
Khuya nức nở những cõi lòng không
ngủ
Đợi vì sao buổi sáng tiễn mi đi.
Vậy mà cũng có thằng chôm, phịa
ra là đọc trên Thời Tập!
Lũ khốn này, tởm thực! NQT]
Xổ tung ra như thể tớ đọc được, chỉ một nửa
Như những cánh chim bồ câu trên 1 hình
tượng, trên 1 nấm mồ
Để nhìn xem, có thể là, chúng mang
tới cho tớ trong mơ
Tớ chẳng có trong đời một cơ may
Để mà thiếu vắng, bỏ qua, hay mất mát
Qua một lần một lữa nào đó
Và thế là tớ bèn kêu ngay vào
mặt bạn mình
Trước tiên, 1 tên lính,
sau tới, một nhà thơ, và sau hết, cả hai
Kẻ đúng dân nhà nòi, một tên
lính- nhà thơ
Edward Thomas viết 142 bài thơ giữa Tháng
Chạp 1914 và Tháng Tư 1917, và tử trận ở Flandres.
Ông chưa từng được nhìn thơ của mình được in thành
sách. Thơ của ông được bật ra bởi 1 thứ tình yêu
chân thực dành cho quang cảnh đồng quê, xứ sở Anh,
và cảm nghĩ của ông về những bí ẩn không làm
sao dò ra nổi của thiên nhiên. Thiên về
bi lụy, ông luôn luôn sững sờ bởi điều mà ông
gọi là “cái xứ sở Ăng Lê này”. Ông bạn
Walter de la Mare nhớ, “cái xứ Anh quốc với những con lộ, bải hoang,
rừng rú, những ám ảnh bí mật, những cô đơn,
những căn nhà, những người ngợm của nó – chính họ thì
giống như những gai góc, cây cối của nó – những đất
đá, bụi bặm của nó – là sự tự do và bình
an của hắn ta.” Như Thomas Hardy, Thomas mê thơ Anh cổ xưa nhất, những
bài ballads, những bài dân ca, chúng xuống với
chúng ta, ông nói, “năn nỉ một cuộc thuê muớn
mới cho cuộc đời trên mặt đất dịu ngọt”.
Thomas viết bài thơ “Con Quạ” Tháng Hai 1915, ba
tháng trước khi nhập ngũ. Tôi [Hirsch[ mê sự sáng
sủa bi đát, thế nhịp nhàng, và sự thăng bằng thần
thánh của bài thơ mãnh liệt này, vốn được
in ra lần thứ nhất, với cái tên “Những Người Khác
Đó”
Con cú
Xuống đồi, đói, tuy chưa chết vì đói
Lạnh, nhưng vưỡn có tí ấm ở trong tôi như là
bằng cớ
Chống lại ngọn gió Bắc
Mệt,
Cái món này mà được điều trị bằng 1 cú
nghỉ ngơi
Dưới một mái nhà
Thì đúng là 1 điều dịu ngọt vô cùng
Và rồi thì ở 1 cái quán,
tôi có đồ ăn, và nghỉ ngơi
Biết ra rằng tôi đã đói, lạnh và mệt đến
đến cỡ nào
Cả đêm yên tĩnh, ngoại trừ tiếng tru của 1 con cú
Ôi tiếng tru của nó mới buồn bã làm sao.
Run rẩy, suốt, trên đồi
Không 1 lời “merry”, hay 1 duyên cớ hớn hở
Trừ lời này,
Rằng, chỉ có mỗi mình mi là chạy thoát
Trong khi người khác thì không thể, đêm
đó.
Và, được ướp muối, là thức ăn của tôi,
Và sự nghỉ ngơi của tôi
Thì cũng được ướp muối, và được tĩnh tâm lại
Nhờ tiếng cú
Nó đang tru như thế đó
Là đang "khóc cho những người vừa nằm xuống chiều qua"
Ở trên đồi
Dưới những vì sao
Binh sĩ, và những kẻ nghèo đói, khốn khổ
Không thể “lại dzui”, rejoice
Tôi xúc động vì sự chính xác
tình cảm đến từng chân tơ sợi tóc, của bài thơ,
về cái chuyện tới được một chỗ để nghỉ ngơi, sau một mùa đông
dài lang thang trong 1 xứ sở. Thi sĩ của chúng ta thừa nhận,
đến được 1 cái quán, đói, nhưng chưa chết vì
đói, lạnh, nhưng chưa chết cóng, mệt, nhưng chưa đến mức mệt
nhoài đến nỗi nghỉ ngơi cũng vô phương, bất khả. Tiếng tru của
con cú chẻ đôi bài thơ. Một nửa là nói
về cảm nghĩ biết ơn, nửa thứ nhì, là về sự thừa nhận - với
GCC, sự tưởng niệm - rằng chỉ có mỗi một mình ta may mắn là
sống sót, trong khi những người khác, thì không:
Tôi (Hirsch) cực mê cái từ "được ướp muối" của Thomas,
“salted”, trong từ này, ngoài cái vị muối, còn
có 1 gia nghĩa, của sự cay đắng, và nước mắt, và những
vết thương mở ra toang hoác... (1)
Đó là điều mà de la Mare gọi là “trái
tim cảm thông và đau khổ" của Thomas.
(1) Re: Mùi vị.
Cho
phép tôi dùng chữ khẩu vị, theo nghĩa của Roland Barthes:
Chữ viết ở khắp nơi, khi mà những từ có mùi, có
vị (tri thức, savoir, và
mùi vị, saveur,
trong tiếng La-tinh là cùng một nguồn).
Vả chăng, việc lập lại một cái tên
theo dòng thời gian, vốn vô thường, liệu có liên
quan đến lịch sử, vốn ưa lập lại? Hoặc đến huyền thoại Quy Hồi Vĩnh Cửu,
vốn rất hàm hồ?
Vang Bóng Một Thời TSVC
Lời Phi Lộ của TSVC, do GCC
viết. Đăng trên số Mỹ Từ Pháp.
TSVC là gì?
Tôi biết Lộc, và
J. Huỳnh Văn, là qua Tập san Văn chương. Không
biết ai là người đầu tiên đưa ra việc làm báo.
Khi có tôi, mọi chuyện đã được quyết định. Tôi
nhận lời, phần lớn là vì hai người
bạn mới. Nhất là J. Huỳnh Văn. Như một hậu quả tất nhiên của
những buổi bỏ sở ra ngồi quán cà phê gốc me đường Nguyễn
Du, hoặc bên đường Hai Bà Trưng, quãng gần ngã
tư Gia Long, khi bên kia quá ồn.
Số là lúc này, Bưu Điện đã
phân đôi, thành Bưu Vụ, và Viễn Thông;
tôi chuyển về Trung Ương, chuyên lo việc lên đồ biểu
điện đàm/ điện tín, dưới quyền của ông T. nghe nói
người của Mỹ. Vào những ngày cuối cùng, trong lúc
Đà Nẵng đang trong cơn hỗn loạn, tôi còn cố liên
lạc với Phòng Điện Toán, xin con số điện đàm/ điện
tín ... "Anh có biết Đà Nẵng sắp sửa đi đoong không..."
tôi nghe tiếng người
bạn bên kia đường dây hốt hoảng. Quay qua phòng sếp,
một đống hồ sơ vẫn y nguyên. Đã hơn tuần, ông chưa vô
sở: người Mỹ đã đưa ông và gia đình đi từ mấy
ngày trước.
Huỳnh Văn là linh hồn của cả bọn, là tinh thần, và
Tổng thư ký, của tờ báo. Không có anh, chắc
tờ báo không ra quá số hai. Sài-gòn nhỏ
xíu: chiến tranh, nỗi sợ hãi, đời sống riêng tư của
mỗi con người... làm người ta co cụm lại. Đám bạn bè
tuy biết nhau, nhưng chỉ chịu ngồi bên nhau, khi có anh. Anh
nói, anh biết tôi từ hồi Nghệ
Thuật, từ những ngày, thỉnh thoảng ghé quán Cái
Chùa, thấy một gã lúc nào cũng đeo kính
đen, ngồi trơ một mình tại một chiếc bàn ở góc quán.
Nếu không có Tập san Văn chương,
chúng tôi chẳng bao giờ có dịp quen nhau. Và
có thể chẳng bao giờ người đọc biết anh là một thi sĩ. Cũng
chẳng mấy người biết anh dậy học, cho một trường tư ở Biên hòa.
Có thể những dòng Cầm Dương
Xanh đã rong ruổi cùng với anh, suốt quãng đường
Sài-gòn - Biên-hòa, và ngược lại. Chúng
xuất hiện lần đầu tiên, và cũng là cuối cùng trên
Tập san Văn chương.
Huy Tưởng, thay mặt tôi tới gia đình đốt những nén
hương tưởng niệm, sau đó gửi ra vài dòng. Về câu
hỏi, chị còn nhớ...?: Thời gian sau này, bạn bè nhiều
nhưng thật tình là tôi không được quen biết
hết, chỉ có các anh là bạn cũ trước 75 thì
tôi mới nhớ thôi.
Thật đơn giản, nhưng...
Ba mươi năm sau, một tập san
cùng tên xuất hiện ở hải ngoại. (2) Những dòng hồi
tưởng ở trên, là do tôi muốn anh em chủ trương làm
quen với những người đã cũ, hoặc đã chết. Muốn anh em chia
sẻ cùng chúng tôi không khí ngột ngạt của
Sài-gòn hồi đó. Tôi hi vọng vào khoảng
cách giữa các thế hệ. Hoàng Cầm và tôi
là người cùng thời, nhưng ông có trước tôi
một thời đại không lập lại nữa, hay dùng chữ của ông:
một gia phả tinh thần mà dù đã được rũ bụi thì
tôi cũng không đơn giản làm quen". (Phạm Thị Hoài,
Đọc Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm, Tạp chí Thơ, Mùa
Đông, 1997). Tôi không hiểu anh em trong ban chủ trương
khi đồng ý với nhau về một danh xưng, có biết, có
những người đã gắn bó với nhau chung quanh một cái
tên như vậy. Rằng nó đã có một tiền thân? Hay đây chỉ là tình cờ? Và chủ trương, đường lối của tờ
báo mới mẻ này có gì tương tự với tờ cũ không?
Và liệu người cũ có cần làm một nghi lễ rũ bụi,
trước khi ngồi xuống bàn viết, ở đây?
Bởi vì Tập san Văn chương quả có những
nét riêng: nó cách mạng, lật đổ theo tinh
thần bất bạo động, hoặc theo hiểu hiền lành của nhà văn
Nga, Chekhov. Bây giờ, sau hơn ba mươi năm, trong số ít ỏi
những thực sự quan tâm và gắn bó với một nền văn chương
Miền Nam trước 75, có người đã nhận ra, bên cạnh cuộc
cách mạng lớn, do Sáng
Tạo hô hào, có một cách mạng nhỏ, thầm
lặng của Tập san Văn chương. Ngay
trong lời phi lộ số ra mắt, khi định nghĩa nhà văn, một người được
thông tri đầy đủ (những dữ kiện của thời đại anh ta đang sống), chúng
tôi đã hoài vọng một điều: hãy đưa ra thật nhiều
thông tin, hãy giới thiệu những dòng tư tưởng đang
ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, rồi để cho người đọc tự
do chọn lựa, theo khẩu vị của họ. Cho phép tôi dùng
chữ khẩu vị, theo nghĩa của Roland Barthes: Chữ viết ở khắp nơi, khi mà
những từ có mùi, có vị (tri thức, savoir, và mùi vị, saveur, trong tiếng La-tinh
là cùng một nguồn).
Vả chăng, việc lập lại một cái tên theo dòng
thời gian, vốn vô thường, liệu có liên quan đến lịch sử,
vốn ưa lập lại? Hoặc đến huyền thoại Quy Hồi Vĩnh Cửu, vốn rất hàm
hồ?
Cách mạng là một
từ đã bị bão hòa. Ai cũng có, hơn một ý
niệm, về nó. Michel Foucault, trong bài "Khai
sáng là gì? (What is Enlightenment?)", viết: Ngày
nay, khi một tờ báo đưa ra câu hỏi đối với độc giả, là
để thâu gom một số ý kiến, về một vấn đề mà mọi người,
nhiều hoặc ít, đã hiểu tại sao câu hỏi được đặt ra: chẳng
hi vọng nhiều ở những cuộc thăm dò dư luận như thế. Vào thế
kỷ thứ 18, giới in ấn, chủ báo thường hỏi công chúng
về một vấn đề chưa có câu trả lời. Ông đưa ra thí
dụ: vào năm 1784, một tờ báo Đức, Berlinische Monatschrift,
đã đặt câu hỏi: Khai sáng là gì? (Was ist
Aufklarung?). Và người trả lời, là
Kant. Bài viết của Kant, theo M. Foucault, chỉ nhỏ nhoi thôi,
nhưng nó mở ra một lối đi thận trọng vào lịch sử tư tưởng,
về một câu hỏi mà triết học hiện đại vẫn chưa có đủ khả
năng để trả lời, và cũng chẳng bao giờ rũ khỏi. Nó đã
được lập lại, dưới những hình thức khác nhau, từ hai thế kỷ,
bởi những triết gia, từ Hegel qua Marx, hay Max Weber tới Horkheimer hay Habermas,
và tội thay, tất cả đều đã thất bại, hoặc trực tiếp, hoặc gián
tiếp, khi phải đối đầu với nó. Giả sử tờ báo Đức kia vẫn còn
sống, và nó lại đặt ra câu hỏi: triết học hiện đại là
gì? Có thể chúng ta sẽ nghe một tiếng dội: triết học
hiện đại là một toan tính nhằm trả lời một câu hỏi đã
được khinh xuất đặt ra từ hai thế kỷ trước: Khai sáng
là gì?
Bởi vì có thể
vẫn là một định nghĩa tương tự đã được đặt ra, khi Tập san Văn chương ra đời hải ngoại: nhà văn là
người được thông tri đầy đủ những dữ kiện của cả hai miền, về thời
đại của chúng ta, với tất cả những vấn nạn của nó.
NQT
(1) George Steiner, viết về F. R. Leavis, trong Ngôn ngữ và
Im lặng
(2) Bài viết cho tạp chí Văn Chương dự tính ra mắt tại hải
ngoại.
THE POET AS MOTHER
I’m a riddle in nine syllables,
An elephant, a ponderous house,
A melon strolling on two tendrils.
-SYLVIA PLATH, "METAPHORS"
IN "PORTRAIT OF the Artist as Mother," the concluding sequence
of her book
Four Testimonies, Kate Daniels
explores with haunting exactitude her dual roles as both a poet and a
mother. The poignant twenty-poem sequence begins appropriately enough with
"Genesis 1:28” ("In the dank clarity of the Green Line tunnel, / we hatched
our plan – to grow a creature / from those nights of love, those afternoons
/ of thick scents, those liquid mornings") and it concludes with a mother's
grateful meditation on coming home to her own growing children. The poem
"Prayer for My Children" begins with a singer's defiant bravado in the
first stanza-
Je regret rien-that turns into something sweeter and
more maternal in the explanatory second section, which hinges on the word
because.
PRAYER FOR MY CHILDREN
I regret nothing.
My cruelties, my betrayals
of others I once thought
I loved. All the unlived
years, the unwritten
poems, the wasted nights
spent weeping and drinking.
No, I regret nothing
because what I've lived
has led me here, to this room
with its marvelous riches,
its simple wealth-
these three heads shining
beneath the Japanese lamp, laboring
over crayons and paper.
These three who love me
exactly as I am, precisely
at the center of my ill-built being.
Who rear up eagerly when I enter,
and fall down weeping when I leave.
Whose eyes are my eyes.
Hair, my hair.
Whose bodies I cover
with kisses and blankets.
Whose first meal was my own body.
Whose last, please God, I will not live
to serve, or share.
I've been struck by the way that in recent years so many female
have claimed motherhood as one of the natural rights (rites) and of
their poetry. There is a kind of underground ancestry for this
Anne Bradstreet, the Puritan mother of American poetry, initiated
subject with her splendid poem "Before the Birth of One of Her Children,"
which expresses her fear of death in childbirth. Poets write from the
body, and in her last major poems, "Hermetic Definition" and “Winter
Love," H. D. mystically identifies the art of writing with the act giving
birth, a connection also made by Sylvia Plath in "Metaphors."
Labor may also turn into joy. There's a jaunty,
verbally poem about nursing in Kathleen Ossip’s delightful first book,
Search Engine, which won the APR/Honickman first book prize:
NURSLING
Over there, a fly buzzed-bad.
Over there, a fly buzzed-bad.
All ours: the bra, the breast, the breeze.
Starlet of the reciprocal gaze.
Something about her rhymed like mad.
And ours the sigh, the suck, the sing.
We forgave everything we could.
Ravenous palmist. I'm gone for good.
At last I gauged the brash, brash spring.
The skin fiend folded like a fawn.
Torso Magellan. Time's own nub.
Here at the center of the dimmest bulb.
A mouth hovered before latching on.
GIUSEPPE UNGARETTI (1)
I have never held
so hard
to life
I'VE BEEN HAUNTED for years by the Italian poet Giuseppe memorial poem
to his friend Mohammed Sceab. The two young foreigners, each trying to
discover himself and seal his vocation, wildly excited and disturbed by
the adventure of modernism, lived the same obscure Parisian hotel in 1912
and 1913.
I think of them roaming around the City of Light together, both in
their early twenties, both displaced-one an Italian from Alexandria, the
other a descendent of Arab nomads. They declared their principles to each
other, like young poets everywhere, and talked endlessly about Baudelaire
and Nietzsche, whom Sceab especially loved, and Leopardi and Mallarmé,
whom Ungaretti felt were sublime. They were two literary kids from the
provinces dreaming of greatness in the modern capital.
Sceab was "a boy with clear ideas," as Ungaretti later said, but he
was also lost and tormented, filled with self-hatred, and he committed suicide
in 1913 "because he had been unable to feel at home in any country." We
see every day now the dire consequences of absolute cultural dislocation,
and we recognize what can happen when people feel unable to liberate the
song of their own homeless desolation.
Here is the poem "In memoria" that Ungaretti wrote in 1916 from a trench
in the midst of World War I. By then, Ungaretti feared, no one remembered
his friend anymore, no one knew who he was or what he might have become.
And it's true that Sceab's name is known to posterity only because of the
tender, dedicatory elegy that opened Ungaretti's first volume of poetry.
The poem appears in Andrew Frisardi’s splendidly fresh and definitive translation
of Ungaretti's Selectes Poems which I am eager to recommend.
IN MEMORY OF
Locvizza, September 30, 1916
His name was
Mohammed Sceab.
Descendent
of emirs of nomads
a suicide
because he had no homeland
left
He loved France
and changed his name
He was Marcel
but wasn't French
and no longer knew
how to live
in his people's tent
where you hear the Koran
being chanted
while you savor your coffee
And he didn't know how
to set free
the song
of his desolation
I went with him.
and the proprietess of the hotel
where we lived in Paris
from number 5 Rue des Carmes
an old faded alley sloping downhill
He rests
in the graveyard at Ivry
a suburb that always
seems
like the day
a fair breaks down
And perhaps only I
still know
he lived
(1) Già Ung
http://www.tanvien.net/tg_vn_01/30.4.ttt.html
Note: Bài thơ tuyệt vời nhất của
Thơ Ở Đâu Xa, TTT
đề tặng 1 thi sĩ, bạn quí của ông, Ông Trùm
Sáng Tạo, "cũng" thi sĩ, để nhớ, 1 thi sĩ khác, là
Già Ung.
Vậy mà nỡ lòng nào lầm bạn mình với 1 tên
thợ sắp chữ, và thằng khốn lại còn hỗn đến mức hỏi xin ông
Trùm 1 điếu thuốc lá! NQT
BÀI NHỚ THI SĨ
Nhớ Già
Ung *
Gửi
MT
Sáng nay thức giấc trong nhà giam
Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ
Bừng cháy trong lòng anh
bấy lâu
u ám quạnh quẽ
Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu
Mưa bụi rì rào
Gió náo nức mù tối
Trễ muộn mùa xuân trên miền cao
Đang lay thức rừng núi biên giới
Đã qua đã qua chuỗi
ngày lạnh lẽo anh tự nhủ
Cũng qua cơn khô hạn khác thường
Tắt theo ngọn nắng chon von mê hoặc
đầu óc quái gở
Từng thiêu đốt anh trên đồi theo vào đêm
hành hạ anh đớn đau
Từ bao giờ anh đứng trân trối
cô đơn
Hôn ám trời sơ khai nhìn qua song tù ngục
Hoang vu lời thơ ai reo hát cùng cỏ lá heo hút
Dẫn đưa anh về tận nẻo nguồn
chốn bình minh lẩn lút
(Bình minh bình minh
anh kêu khẽ cảm động muốn khóc
Mai Mai xa Mai như hoa Mai về
tình thơ hôm nay)
Em, em có hay kẻ tội đồ biệt
xứ
sớm nay về ngang cố quận
Xao xuyến ngây ngô hắn dọ hỏi bóng tối sâu
thẳm
Đêm vây hãm
lụn dần
Thủ thỉ mưa ru ngày khốn đốn
Em, soi bóng em hồn nhiên
trên lối thời gian
Lặng lẽ anh gầy nhóm lửa tinh mơ đầm ấm.
Lào Kay 4/78
Vĩnh Phú 1/79
Thanh Tâm Tuyền
Thơ
Ở Đâu Xa
Ghi chú của tác giả:
Già Ung: Giuseppe Ungaretti
(1898-1970). Thi sĩ Ý.
Note: Bài viết của đấng Trịnh
Cung về bạn quí của ông, là TCS, dưới đây, theo
Gấu, nhảm và có mắc mớ đến vấn đề đạo hạnh, vì TCS
mất rồi, do đó không thể biện bạch/giải thích được.
Đơn cử:
TC phán, kể từ khi TCS phổ
nhạc thơ của TC, thế là nhạc của TCS khác hẳn đi, không
có mùi của những nhạc sĩ khác:
Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài
"Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước
đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người"
và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt
Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi"
còn nhẹ nhàng, và còn có gì
đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn
Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ
của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn
ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi
đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà
lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.
TC
Bửn thực. Tự khen mình 1 cách
lố bịch, và khoá miệng luôn thằng bạn của mình,
vì ngỏm rồi.
Sau đó - để tránh cho
Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy
Nhơn.
TC
Giúp, là giúp
ra sao? Chạy tiền ư?
Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc -
là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ
"phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì
chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh
chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là
chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát
hơn.
TC
Phản chiến rõ ràng.
Thân phận cái con khỉ.
Nói thân phận là
đẩy nhạc TCS ra khỏi cái thời đại của ông và của biết
bao nhiêu con người khác cùng với ông.
Đây là ý của
Sartre, khi phán, vào mỗi thời đại, con người nhận ra mình,
khi đối diện với kẻ khác, với tình yêu và với
cái chết.
A chaque époque, l'homme se
choisit en face d'autrui, de l'amour, de la mort, du monde.
Khi TCS chết, Gấu đi 1 đường ai điếu
cực nhanh, đến Đặng Tiến mà còn phải “giựt mình”, “xoa
đầu Gấu”, - Trong bài viết về TCS trên báo Văn Học của
NMG - trong đó nói rõ ý “phản chiến” :
Phải tới khi đứa em trai mất, tới
lượt tôi vào Trung Tâm Ba Quang Trung, trong những đêm
cận Tết, nằm trên chiếc giường sắt lạnh lẽo, một anh chàng
nào đó, chắc là quá nhớ bồ, cứ thế huýt
sáo bài Tình Nhớ gần như suốt đêm, thế là
tiếng nhạc bám riết lấy tôi, rứt không ra… Lúc
này, tiếng nhạc của anh, đối với riêng tôi, qua lần gặp
gỡ trên, như trút hết những âm tiết địa phương, và
trở thành tiếng nói chung của cả miền nam, tức là của
cả thế giới, vào thời điểm đó, khi cùng nói:
hãy yêu nhau thay vì giết nhau. Bởi vì chưa bao
giờ, và chẳng bao giờ miền nam chấp nhận cuộc chiến đó. Chính
vì vậy, họ lãnh đạm với chính quyền, ưu ái với
miền bắc, vì họ đều tin một điều, miền bắc sẽ kết thúc cuộc
chiến, và người Mỹ sẽ ra đi. Như cả nhân loại tiến bộ, họ chỉ
có thể tiên đoán đến đó. Nhạc Trịnh Công
Sơn nói lên tiếng nói đó. Tính phản chiến
của nhạc của anh, chính là tính phản chiến của cả một
miền đất.
“Những ngày TCS”
http://www.art2all.net/tho/tho_nqt/nhungngaytcs.html
Nhớ là, ĐT khen Gấu “quá
can đảm”, dám nói thẳng ra cái ý cả 1 miền
đất nói KHÔNG với cuộc chiến!
Tks, anyways! NQT (1)
Bi Kịch Trịnh Công Sơn
Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm
1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi
18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm
hồn thi ca, và bởi vì lúc
đó tôi chưa hề là họa sĩ.
Sơn thích thơ của tôi và đã
phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó.
Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương
một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn
ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa
Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì
đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn
Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ
của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn
ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi
đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà
lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.
Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa
của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ
và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.
Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn
mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương
trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn
phải bỏ học để về chịu tang ba.
Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối
hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo
và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang
Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và
bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng
bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi
nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến
sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh
Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng.
Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó
viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".
Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình
phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn
để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá
sản,
Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải
đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô
Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.
Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường
sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật
để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có
tên là Khê, nên có cái câu
"Ngày mai nối bước Sơn Khê."
Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng
giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà
trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng
để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn raÐà
Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách
đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã
bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài nhưÐàn
Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên,
như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian
anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình
khúc.Ðó chính là thời điểm tôi và
Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở
Ðà Lạt.
Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh
Công Sơn và làm cho công chúng yêu
nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh
Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công
Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương
ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."
Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái
con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của
đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra
đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là
nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi
tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh
và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện
của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không
quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh
nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh
Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ
cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly
đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển
tiếng hát của mình lên đỉnh cao.
Chúng tôi khuyến khích Sơn về
Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích
hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có
căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà
Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng
đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà
của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo.
Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS
khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một
trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến
đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một
chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học
của tôi.
Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài
Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn
Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội
Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà
Ðỗ Ngọc Yến, TrầnÐại Lộc, Hà Tường Cát... đã
hoạt động chương trình mùa hè ở đó.
Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu
Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát
cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của
tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ
trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở
thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.
Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,...
đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó
là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của
giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ
trẻ Việt Nam.
Chính thời đại đã sản sinh ra những
hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là
những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.
Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo
ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh
vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và
thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh
Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .
Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số
ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với
anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó,
bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có
vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam
. Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì
khái quát hơn.
Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào,
vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để
có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng,
cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương
yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng
ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào
Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những
âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó
phải trả giá.
Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng
tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn
xa ...Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình
thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư
đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ
ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê
hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ...
thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác
cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch
sau đó .
Tôi và Sơn là hai người bạn,
khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân
lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi
vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi
là một công dân tôi phải làm việc của người
công dân, cho dù là chính quyền đó
có thối nát, có gì đi nữa - tôi không
chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính.
Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì
khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì
lý tưởng của mình.
Bởi vì chúng ta là những con
người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự
do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi
vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của
ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.
Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn
ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón
Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy
bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng
mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì
tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi
và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.
Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu.
Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng
Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã
xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là
sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong
âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời.
Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính
quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm
Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai
Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng
sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người
ta lên án Trịnh Công Sơn.
Chúng ta không biết bi kịch đó
cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc.
Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì
ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp
đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở
đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại
các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên
đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà
người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo
trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe
- Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó,
nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?
Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm
soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không
tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải
đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày
bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng
còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát
chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó
đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.
Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn
quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước
đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách
thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình
huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa
Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để
cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.
Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất
là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên
cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc
của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không
được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm
nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được
phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì
vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước.
Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại
hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở
các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì
Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho
Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa
Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ
chối.
Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài
Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn,
và tôi đã không làm gì được cho
Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc,
tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn,
bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì
... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng
nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này
cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án
là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại
viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn
còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn
đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!
Và trong nhiều sáng tác của
anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy
tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "Đường chúng
ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói
lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó
là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không
hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để
chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng
ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy
đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.
Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội
cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu
gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa
Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng
Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ
trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người
và nhớ mọi Người ..."
Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là
nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà
Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời
cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh
Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn
như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó
đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi
đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?
Và chúng ta sai hay đúng, hãy
tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay
đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối !
Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa
dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh
Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm
và chân thật với cuộc đời với con người.
Tôi xin kết thúc ở đây - để dành
thời gian cho các bạn khác - tôi là một người
bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS.
Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã
ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng,
tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để
nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông
tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên
gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28
năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một
cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn
tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa,
cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông
giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót
như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi
và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng
mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral
để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn
cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội
vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám
, để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.
Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của
thành phố. Bởi vì chúng tôi là những
con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc
trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật
buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là
đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng
tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm
nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời
chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà
căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức
khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô
đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh
đã chết vì cơn bịnh này.
Trịnh Cung
https://youtu.be/eNINAMg1N6U
(1)
http://www.tanvien.net/Tuong_niem/dangtien_tcs.html
Thêm một liên văn bản khác:
Nguyễn Quốc Trụ trong bài viết tưởng niệm Trịnh Công Sơn, kể
lại rằng cho đến khoảng 1966 :
"Chưa để ý đến nhạc Trịnh
Công Sơn, nói rõ hơn, nó chưa thấm vào
tôi.Phải khi đứa em tôi mất, tới lượt tôi vào
Trung Tâm Ba Quang Trung, trong những đêm cận Tết, nằm trên
chiếc giường sắt lạnh lẽo, một anh chàng nào đó, chắc
quá nhớ bồ, cứ huýt sáo bài ỏTình Nhớõ,
gần như suốt đêm, thế là tiếng nhạc bám riết lấy tôi,
rứt không ra. Lúc này tiếng nhạc của anh, đối với
riêng tôi, qua lần gặp gỡ trên, như trút hết
những âm tiết địa phương, và trở thành tiếng nói
chung của Miền Nam, tức là của cả thế giới, vào thời điểm
đó, khi cùng nói : hãy yêu nhau thay
vì giết nhau. Bởi vì chưa bao giờ và chẳng bao giờ
Miền Nam chấp nhận cuộc chiến đó. Chính vì vậy, họ
lãnh đạm với chính quyền, ưu ái với Miền Bắc , vì
họ đều tin một điều : Miền Bắc sẽ kết thúc cuộc chiến, và
người Mỹ sẽ ra đi. Nhạc Trịnh Công Sơn nói lên tiếng
nói đó.
Tính phản chiến của nhạc
anh, chính là tính phản chiến của cả một miền đất" .(5)
Giữa một rừng than khóc ki khu, thì bài
Nguyễn Quốc Trụ, nhanh, ngắn nhưng giá trị. Vì chính
xác và dũng cảm.