*

TẠP GHI



  vangbong

"Đã từ lâu mảnh đất thân thương này gọi bảo tôi viết về nó."
Arioxt (Thơ trào phúng).

(Stanhđan trích dẫn; chương mở đầu cuốn "Tu viện thành Pácmơ", dịch giả Huỳnh Lý, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm2001).
"Trở lại nơi một thời vang bóng" là tên một bài viết đăng hai kỳ trên báo Hà Nội Mới, số đề ngày 2 và 9 tháng Bẩy, 1994, về chuyến đi thăm ba nước Cộng Hòa Ucraina, CH Cadaxtan và Liên Bang Nga của thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt và phu nhân, một số vị bộ trưởng và 20 nhà doanh nghiệp, từ ngày 8 tới 17.6.1994.
Tác giả bài viết, Nguyễn Anh Trâm, khi đó là thư ký tòa soạn tờ báo trên.
Ông là em trai của mẹ tôi.
Rời Hà Nội năm 1954, lần "trở lại nơi một thời vang bóng" trong trí tưởng một thằng bé di cư ngày nào, tôi đã được ông cậu, nay đã già, ra tận sân bay Nội Bài, để "nhận mặt" thằng cháu. Bởi vì trong ba người – hai người kia là bà chị và đứa em trai của tôi, cách biệt nhau từ những năm 1945 – chỉ có ông "may ra" nhận ra tôi.

Số là, ngay sau ngày 30 tháng Tư 1975 được ít lâu, do yêu cầu công tác (chắc vậy), ông đã vào Sài Gòn, và nhân đó, đã "tranh thủ" thời gian, để gặp chị và cháu. Và ông đã đến cơ quan của tôi, Bưu Điện Sài Gòn, để xác nhận một điều: cha của "đồng chí này" bị đảng phái sát hại ngay những ngày đầu cách mạng.




boho 

Chuyến "qui cố hương" (chữ của một nhà văn Việt Nam ở nước ngoài chúc mừng nhân chuyến đi), một phần là để tìm lại những kỷ niệm thời con nít, biết đâu còn sót lại ở nơi quê nhà, Sơn Tây, rồi những ngày chạy tản cư lên Phú Thọ khi giặc Pháp nhảy dù xuống cánh đồng làng (1949); những ngày học ở Hà Nội... và những "chi tiết lịch sử" liên quan tới cái chết của cha tôi. Trong những ngày ở miền Nam, và sau này, ở nước ngoài, "một nửa" gia đình tôi đã lấy ngày 30 Tết năm đó, là ngày người cha rời cái làng nhỏ bé ven đê sông Hồng, để rồi chẳng bao giờ trở về, làm ngày cúng giỗ ông.

 

Bây giờ, tôi đã biết rõ ngày ông mất. Cha tôi bị sát hại ngày mồng ba Tết (1946) tại Việt Trì, nơi ông làm hiệu trưởng một trường tiểu học. Tôi cũng đã đến nơi ông bị sát hại: bị bắn, sau đó xác bị cột đá, thẩy xuống sông, để cho đừng bao giờ nổi lên. Bà chị tôi nhắc lại một chi tiết đau lòng, theo đó, chính tôi đã từng nhìn thấy kẻ giết bố mình, nhờ cái quần kẻ đó mặc. Một cái quần dạ, bị chuột cắn, thủng một lỗ lớn, và mẹ tôi đã phải vá lại. Trong trí nhớ của tôi, chi tiết trên không hẳn như vậy. Tôi nhớ, có lần mẹ tôi nói, bà đã nhìn thấy kẻ mặc bộ đồ com lê của chồng, bữa ông ra đi. Tuy tin chắc chồng không còn, bà sau đó vẫn lặn lội nhiều nơi, vẫn giả đò hy vọng. Trong số những người bị bắt có một vài người cùng làng; trong có một ông chú của tôi, Nguyễn Trí Cầm, khi đó là Bí Thư Việt Minh, cơ sở Hạc Trì (Bạch Hạc và Việt Trì, thuộc tỉnh Vĩnh Yên). Vài ngày sau khi bố tôi bị sát hại, chú tôi và một vài người cùng bị bắt, dùng nước uống bọn cai tù chia cho hàng ngày, tích tụ lại, và nước tiểu, "tưới" lên một mảng tường đất, và trốn thoát, nhân một bữa đám cai tù mải ăn uống say sưa. Đám người nói trên sau bị Việt Minh truy đuổi phải chạy qua Trung Quốc.
Ông Nguyễn Trí Cầm sau cho đứa em trai út của tôi biết, cha tôi khi đó chỉ là cảm tình viên của Việt Minh. Lý do cái chết của cha tôi: Đảng phái nói trên đã mời cha tôi, một nhân sĩ tại địa phương, làm đại diện cho họ tại quốc hội, nhưng ông từ chối.
Trong bao năm trời, em tôi xin xác nhận là con liệt sĩ, nhưng không được. 

***

 "Trong bài viết này, tôi không nhắc lại những hoạt động cụ thể trong chương trình làm việc của Thủ tướng... Tôi muốn nói thêm về đất nước, con người và cuộc sống hôm nay ở các quốc gia đã một thời vang bóng... những kỷ niệm không thể xoá nhoà... chuyến đi thăm... lần này chưa đủ... phải trở lại, và trở lại nữa."
"Họ [những nhà báo trên chiếc xe Toyota 12 chỗ ngồi] quen nhiều cánh rừng, công viên, đường phố rợp bóng cây của Ki-ép. Vào mùa này, những cây Tô-pơn lại thả những chấm hoa vào không trung đầy nắng. Hoa gặp gió, được gió mang đi rắc bụi khắp kinh thành".
Nguyễn Anh Trâm chú thích: Cây Tô-pơn không cao lắm, có những quả nhỏ như hạt đậu xanh. Trước khi kết trái, Tô-pơn thả vào không gian những chùm hoa nhỏ li ti như những chấm hoa gạo. Vào tháng 5, tháng 6, hoa Tô-pơn bay khắp thành phố Matxcơva, và Ki-ép.
Ở một chỗ khác trong bài, ông viết: "Người ta bảo, ai đến thăm Xanh Pê téc-xbua vào đúng thời điểm của những đêm trắng xuất hiện thì đó là một diễm phúc để ghi nhớ suốt đời."

***

 Tôi trở lại đất Bắc cũng vào tháng Sáu. Không (diễm phúc) đêm trắng. Không (trang trọng) thảm đỏ. Quê hương đón tiếp tôi, trên chiếc xe 12 chỗ ngồi, bằng một thảm rơm rạ trải dài mãi ra, dọc con đê, trên con đường từ Hà Nội về một làng quê ven sông Hồng, thuộc tỉnh Sơn Tây.
Trên xe ngoài vợ chồng ông cậu, bà chị, đứa em trai, bà chị con người bác và đứa cháu nội của bà, còn hai bà cô bên ngoại, và một hai em học sinh người làng, ra Hà Nội học, nhân có xe, tiện thể quá giang.

Lộ trình chuyến đi: Ngày đầu ghé Thanh Trì, nơi quê cha đất tổ dòng họ Nguyễn. Ngủ tại đây, sáng hôm sau qua phà Trung Hà, tới Thanh Sơn quê hương nhà chồng của bà chị.
Hai vợ chồng có được một đứa con gái. Chồng vào Nam chiến đấu, mất tích. Bà chị ở goá từ năm 25 tuổi. Mới gần đây thôi, bà mới được công nhận là vợ liệt sĩ. Cô con gái đã có gia đình, được hai cháu, một trai, một gái. Ngày thứ ba, lên Tu Vũ, quê hương nhà chồng của bá Sửu, bà chị ruột của mẹ tôi. Trên đường về cùng ngày ghé Việt Trì, nơi cha tôi bị sát hại.
Sông Hồng đang mùa nước lớn, có những khúc đê, xe mon men bên cạnh biển. Cô Nguyên, một trong hai bà cô của tôi cho biết, có những năm nước lớn, có thể ngồi trên mặt đê, để rửa ráy chân tay. Cô như muốn nhắc nhở tôi một điều, cơn đe dọa muôn đời của thiên nhiên đối với mảnh đất này, vẫn còn nguyên đó. Cái công trình vĩ đại nhất của nhân loại mà một nhà phi hành gia có thể nhìn thấy, từ phi thuyền, là Vạn Lý Trường Thành, nhưng theo một nhà sinh thái học, nó chẳng là gì nếu so với con đê ở miền bắc Việt Nam, đắp rồi lại xóa, đời này sang đời khác, cho đến nay, vẫn còn nguyên hiểm họa.
Cũng theo nghĩa đó, một nhà sử học cho rằng, nhà Nguyễn chấm dứt với Tự Đức: trong đời ông vua này trị vì, 18 lần vỡ đê. Còn với người Pháp, công cuộc "khai hóa" của họ chấm dứt ngay từ khi vừa tới Việt Nam, cho dù kéo dài 100 năm: không lo đê điều, mà lại lo xây dựng đường hỏa xa Đông Dương. Nên nhớ Đồ Phổ Nghĩa đã nhìn Sông Hồng như là một tương lai chở của về Tây, sau khi đã thất bại với sông Mekong.
[Không hiểu Jean Dupuis có một cái tên Việt như trên, chỉ vì đọc lên, nghe như "đồ phi nghĩa"?]
Khi tôi rời đất Bắc, cô Nguyên còn nhỏ xíu. Ông ngoại tôi mấy đời vợ. Cô Nguyên là con bà ba. Thời kỳ cải cách ruộng đất, bà ba may mắn đem ba người con trai (ba ông cậu cùng học một lớp với tôi) xuống Hà Nội.

Trong một truyện ngắn viết ở hải ngoại, do thông tin sai lạc, tôi viết, ông ngoại tôi, nhân đội cải cách sơ ý, đã nhẩy xuống sông tự tử. Thực sự, ông bị bắt cùng hai cô gái út. Bị đánh đập, tất nhiên, để khảo của. Cô Nguyên kể, đã từng bảo bố, thôi cứ nộp vàng cho đỡ đau. Bị giam cầm, ngay tại Phú Cuờng, tức làng tôi, Thanh Trì, "cái nôi" của cách mạng trong vùng. Sau bà ba cho người mang vàng về nộp đội cải cách để chuộc chồng và con. Ông ngoại tôi chết vì già yếu tại Hà Nội.
Nay xin đính chính ở đây.

Người đầu tiên, ngoài ba người thân đã viết ở trên, "đại diện" Hà Nội tiếp đón tôi, là một "người ở Thanh Xuân", (Thanh Xuân, Hà Đông, nay thuộc Hà Nội)

Tôi có số diện thoại và địa chỉ của anh, qua một bạn văn, hiện ở Đức sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Ngay khi còn nhấp nha nhấp nhổm trên chiếc ghế, tại căn nhà của ông cậu, tôi đã điện thoại cho anh…. "Như vậy là chiều nay tụi mình sẽ gặp nhau", anh trả lời. Hà Nội đang nóng như thế, chợt đổ mưa. Và tôi đã phải "trả giá" cho sự mát mẻ bằng một cú điện thoại của người bạn chưa từng gặp. Anh cho biết, khu vực nhà anh ngập nước, và hẹn bữa khác.

Bữa khác, là ngay ngày hôm sau.

Hai đứa chúng tôi, lần đầu gặp nhau, dưới cơn mưa Hà Nội.

 ***

 Đêm giã từ Hà Nội (chữ của Mai Thảo), của tôi, tại một quán cà phê ngay bên bờ Hồ, có "người ở Thanh Xuân", cùng một số bạn bè mới quen khác, trong có Nguyễn Việt Hà, tác giả "Cơ hội của Chúa", một cuốn tiểu thuyết gây chấn động cả ở trong nước lẫn hải ngoại. Tôi hỏi đùa anh: "Bao giờ thì anh viết tiếp, cơ hội của chúng ta?"

Của Hà Nội? 

***

 
Quán có tên Rendez-vous (Điểm Hẹn), gần ngay bên hồ, kế bên khách sạn Phú Gia, nơi ngày xưa nổi tiếng với món vịt quay, như lời chỉ dẫn của Sơn, người bạn mới quen. "Anh cứ nói cho tới Phú Gia cũ là taxi hay xe ôm biết liền". 

"Cho tôi một đời khác và tôi sẽ hát ở Café Rafaella. Hay giản dị chỉ ngồi ở đó." (Joseph Brodsky). Ngồi đây, tôi chỉ nhớ, nó rất gần rạp Lửa Hồng ngày xưa, một rạp ciné của hướng đạo, chuyên chiếu những phim như Tarzan, Zorro, cho đám con nít nhà nghèo thành phố. Một trong những thiên đường tuổi thơ của tôi. 

Nhà thơ người Nga Joseph Brodsky, trong bài Chiến Lợi Phẩm, viết về những kỷ niệm ấu thời của ông trong thành phố St. Petersburg, đã nhắc đến tiếng hú của người rừng Tarzan, và khẳng định một điều, vào những năm đầu thập niên 1950, loạt phim Tarzan đã "đọc bài ai điếu cho chủ nghĩa Stalin" (de-Stalinization), còn hơn tất cả những bài diễn văn của Khrushchev ở Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên xô, và sau đó. 

Những phim Tarzan, Zorro, và những phim sau đó, khi thằng bé lớn hơn một chút, thì cũng vẫn những phim mà Joseph Brodsky đã từng mê mẩn, như Đại uý Blood, Tướng Cướp Rừng Xanh (Robin Hood)… là những món quà Hà Nội dành cho tôi, một thằng bé nhà quê may mắn được ra Hà Nội để học. Ôi chao, tôi vẫn còn nhớ một trong những niềm vui lớn lao của lũ học trò chúng tôi hồi đó, là sưu tầm những tờ chương trình, đúng ra là những tờ tóm lược một cuốn phim đang được trình chiếu. Một tờ chương trình, cũng một phim đó, ở rạp Majestic lẽ dĩ nhiên bảnh hơn của một rạp khác, thí dụ vậy. Tuy lớn hơn nhà thơ Nobel ba tuổi, nhưng tôi chẳng thể nào có được một "sở hữu thiêng liêng" như ông: hình tài tài tử Errol Flynn trong phim Sea Hawk: "Trong nhiều năm tôi [Brodsky] đã cố gắng bắt chước hứ hứ cái cằm, và nhúc nhích lông mày bên trái. Cái sau thì tôi thua." Và tôi [đứa con của Hà Nội] cũng không làm sao có tình yêu, mà nhà thơ nói là ông cùng chia sẻ nó với… Hitler: mối tình lớn, của thời niên thiếu, với cô đào [người Đức] Zarah Leander. Nhà thơ chỉ được coi mỗi một lần, mỗi một phim, của cô đào này, "Road to the Scaffold" (Đường tới Đoạn Đầu Đài, tên tiếng Đức: Das Herz einer Konigin), về cuộc đời hoàng hậu Scotland, Mary, Queen of Scots. [Chắc là nhà thơ không được biết, con trai tài tử Errol Flynn đã tham dự cuộc chiến Việt Nam như là một nhiếp ảnh viên của hãng UPI, và tử trận – như một nhiếp ảnh viên - tại đây].

  Tôi nhắc tới rạp Majestic ở phố Huế, bởi vì chỉ còn nó là sống sót, sau Hà Nội tiếp quản, sau Hà Nội cải cách ruộng đất – đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu địa chủ quét đường, dừng chổi lắng nghe! – sau Hà Nội Nhân Văn Giai Phẩm, sau Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi - và để đánh đổi sự sống sót, nó đành mất tên, trở thành Rạp Tháng Tám.

Ông cậu cho tôi biết, tiền thân của nó là Majestic.

Anh chàng xe ôm bảo tôi: đây là rạp xi nê độc nhất của Hà Nội bây giờ.
 

Lẽ dĩ nhiên đường từ St Petersburg tới Stockhom đi qua địa ngục, cũng vẫn nhà thơ người Nga, trong bài diễn văn nhận giải Nobel văn chương, đã tuyên bố như vậy. Nobel hay không Nobel, tôi cũng thử bắt chước ông và tuyên bố: Lẽ dĩ nhiên, con đường trở về Hà Nội đi qua địa ngục. 

 Nguyễn Quốc Trụ 

Chú thích hình: Từ trái qua phải: Nguyễn Thanh Sơn, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, buổi tối tại quán cà phê Rendez-vous (Điểm Hẹn) bên Bờ Hồ Hà Nội (tháng Sáu 2001).