Chuyến "qui cố hương" (chữ của một nhà
văn Việt
Nam ở nước ngoài chúc mừng nhân chuyến đi), một phần là để tìm lại
những kỷ
niệm thời con nít, biết đâu còn sót lại ở nơi quê nhà, Sơn Tây, rồi
những ngày
chạy tản cư lên Phú Thọ khi giặc Pháp nhảy dù xuống cánh đồng làng
(1949);
những ngày học ở Hà Nội... và những "chi tiết lịch sử" liên quan tới
cái chết của cha tôi. Trong những ngày ở miền Nam,
và sau này, ở nước ngoài, "một nửa" gia đình tôi đã lấy ngày 30 Tết
năm đó, là ngày người cha rời cái làng nhỏ bé ven đê sông Hồng, để rồi
chẳng
bao giờ trở về, làm ngày cúng giỗ ông.
Bây giờ, tôi đã biết rõ ngày ông mất.
Cha tôi bị sát hại
ngày mồng ba Tết (1946) tại Việt Trì, nơi ông làm hiệu trưởng một
trường tiểu
học. Tôi cũng đã đến nơi ông bị sát hại: bị bắn, sau đó xác bị cột đá,
thẩy
xuống sông, để cho đừng bao giờ nổi lên. Bà chị tôi nhắc lại một chi
tiết đau
lòng, theo đó, chính tôi đã từng nhìn thấy kẻ giết bố mình, nhờ cái
quần kẻ đó
mặc. Một cái quần dạ, bị chuột cắn, thủng một lỗ lớn, và mẹ tôi đã phải
vá lại.
Trong trí nhớ của tôi, chi tiết trên không hẳn như vậy. Tôi nhớ, có lần
mẹ tôi
nói, bà đã nhìn thấy kẻ mặc bộ đồ com lê của chồng, bữa ông ra đi. Tuy
tin chắc
chồng không còn, bà sau đó vẫn lặn lội nhiều nơi, vẫn giả đò hy vọng.
Trong số
những người bị bắt có một vài người cùng làng; trong có một ông chú của
tôi,
Nguyễn Trí Cầm, khi đó là Bí Thư Việt Minh, cơ sở Hạc Trì (Bạch Hạc và
Việt
Trì, thuộc tỉnh Vĩnh Yên). Vài ngày sau khi bố tôi bị sát hại, chú tôi
và một
vài người cùng bị bắt, dùng nước uống bọn cai tù chia cho hàng ngày,
tích tụ lại,
và nước tiểu, "tưới" lên một mảng tường đất, và trốn thoát, nhân một
bữa đám cai tù mải ăn uống say sưa. Đám người nói trên sau bị Việt Minh
truy
đuổi phải chạy qua Trung Quốc.
Ông Nguyễn Trí Cầm sau cho đứa em trai út của tôi biết, cha
tôi khi đó chỉ là cảm tình viên của Việt Minh. Lý do cái chết của cha
tôi: Đảng
phái nói trên đã mời cha tôi, một nhân sĩ tại địa phương, làm đại diện
cho họ
tại quốc hội, nhưng ông từ chối.
Trong bao năm trời, em tôi xin xác nhận là con liệt sĩ,
nhưng không được.
***
"Trong bài viết này,
tôi không nhắc lại những hoạt động
cụ thể trong chương trình làm việc của Thủ tướng... Tôi muốn nói thêm
về đất
nước, con người và cuộc sống hôm nay ở các quốc gia đã một thời vang
bóng...
những kỷ niệm không thể xoá nhoà... chuyến đi thăm... lần này chưa
đủ... phải
trở lại, và trở lại nữa."
"Họ [những nhà báo trên chiếc xe Toyota
12 chỗ ngồi] quen nhiều cánh rừng, công viên, đường phố rợp bóng cây
của Ki-ép.
Vào mùa này, những cây Tô-pơn lại thả những chấm hoa vào không trung
đầy nắng.
Hoa gặp gió, được gió mang đi rắc bụi khắp kinh thành".
Nguyễn Anh Trâm chú thích: Cây Tô-pơn không cao lắm, có
những quả nhỏ như hạt đậu xanh. Trước khi kết trái, Tô-pơn thả vào
không gian
những chùm hoa nhỏ li ti như những chấm hoa gạo. Vào tháng 5, tháng 6,
hoa
Tô-pơn bay khắp thành phố Matxcơva, và Ki-ép.
Ở một chỗ khác trong bài, ông viết: "Người ta bảo, ai
đến thăm Xanh Pê téc-xbua vào đúng thời điểm của những đêm trắng xuất
hiện thì
đó là một diễm phúc để ghi nhớ suốt đời."
***
Tôi trở lại đất Bắc
cũng vào tháng Sáu. Không (diễm phúc)
đêm trắng. Không (trang trọng) thảm đỏ. Quê hương đón tiếp tôi, trên
chiếc xe
12 chỗ ngồi, bằng một thảm rơm rạ trải dài mãi ra, dọc con đê, trên con
đường
từ Hà Nội về một làng quê ven sông Hồng, thuộc tỉnh Sơn Tây.
Trên xe ngoài vợ chồng ông cậu, bà chị, đứa em trai, bà chị
con người bác và đứa cháu nội của bà, còn hai bà cô bên ngoại, và một
hai em
học sinh người làng, ra Hà Nội học, nhân có xe, tiện thể quá giang.
Lộ trình chuyến đi: Ngày đầu ghé Thanh
Trì, nơi quê cha đất
tổ dòng họ Nguyễn. Ngủ tại đây, sáng hôm sau qua phà Trung Hà, tới
Thanh Sơn
quê hương nhà chồng của bà chị.
Hai vợ chồng có được một đứa con gái. Chồng vào Nam
chiến đấu, mất tích. Bà chị ở goá từ năm 25 tuổi. Mới gần đây thôi, bà
mới được
công nhận là vợ liệt sĩ. Cô con gái đã có gia đình, được hai cháu, một
trai,
một gái. Ngày thứ ba, lên Tu Vũ, quê hương nhà chồng của bá Sửu, bà chị
ruột
của mẹ tôi. Trên đường về cùng ngày ghé Việt Trì, nơi cha tôi bị sát
hại.
Sông Hồng đang mùa nước lớn, có những khúc đê, xe mon men
bên cạnh biển. Cô Nguyên, một trong hai bà cô của tôi cho biết, có
những năm
nước lớn, có thể ngồi trên mặt đê, để rửa ráy chân tay. Cô như muốn
nhắc nhở
tôi một điều, cơn đe dọa muôn đời của thiên nhiên đối với mảnh đất này,
vẫn còn
nguyên đó. Cái công trình vĩ đại nhất của nhân loại mà một nhà phi hành
gia có
thể nhìn thấy, từ phi thuyền, là Vạn Lý Trường Thành, nhưng theo một
nhà sinh
thái học, nó chẳng là gì nếu so với con đê ở miền bắc Việt Nam, đắp rồi
lại
xóa, đời này sang đời khác, cho đến nay, vẫn còn nguyên hiểm họa.
Cũng theo nghĩa đó, một nhà sử học cho rằng, nhà Nguyễn chấm
dứt với Tự Đức: trong đời ông vua này trị vì, 18 lần vỡ đê. Còn với
người Pháp,
công cuộc "khai hóa" của họ chấm dứt ngay từ khi vừa tới Việt Nam,
cho dù kéo dài 100 năm: không lo đê điều, mà lại lo xây dựng đường hỏa
xa Đông
Dương. Nên nhớ Đồ Phổ Nghĩa đã nhìn Sông Hồng như là một tương lai chở
của về
Tây, sau khi đã thất bại với sông Mekong.
[Không hiểu Jean Dupuis có một cái tên Việt như trên, chỉ vì
đọc lên, nghe như "đồ phi nghĩa"?]
Khi tôi rời đất Bắc, cô Nguyên còn nhỏ xíu. Ông ngoại tôi
mấy đời vợ. Cô Nguyên là con bà ba. Thời kỳ cải cách ruộng đất, bà ba
may mắn
đem ba người con trai (ba ông cậu cùng học một lớp với tôi) xuống Hà
Nội.
Trong một truyện ngắn viết ở hải
ngoại, do thông tin sai
lạc, tôi viết, ông ngoại tôi, nhân đội cải cách sơ ý, đã nhẩy xuống
sông tự tử.
Thực sự, ông bị bắt cùng hai cô gái út. Bị đánh đập, tất nhiên, để khảo
của. Cô
Nguyên kể, đã từng bảo bố, thôi cứ nộp vàng cho đỡ đau. Bị giam cầm,
ngay tại
Phú Cuờng, tức làng tôi, Thanh Trì, "cái nôi" của cách mạng trong
vùng. Sau bà ba cho người mang vàng về nộp đội cải cách để chuộc chồng
và con.
Ông ngoại tôi chết vì già yếu tại Hà Nội.
Nay xin đính chính ở đây.
Người đầu tiên, ngoài ba người thân đã
viết ở trên,
"đại diện" Hà Nội tiếp đón tôi, là một "người ở Thanh
Xuân", (Thanh Xuân, Hà Đông, nay thuộc Hà Nội)
Tôi có số diện thoại và địa chỉ của
anh, qua một bạn văn,
hiện ở Đức sau khi bức tường Berlin
sụp đổ. Ngay khi còn nhấp nha nhấp nhổm trên chiếc ghế, tại căn nhà của
ông
cậu, tôi đã điện thoại cho anh…. "Như vậy là chiều nay tụi mình sẽ gặp
nhau", anh trả lời. Hà Nội đang nóng như thế, chợt đổ mưa. Và tôi đã
phải
"trả giá" cho sự mát mẻ bằng một cú điện thoại của người bạn chưa
từng gặp. Anh cho biết, khu vực nhà anh ngập nước, và hẹn bữa khác.
Bữa khác, là ngay ngày hôm sau.
Hai đứa chúng tôi, lần đầu gặp nhau,
dưới cơn mưa Hà Nội.
***
Đêm giã từ Hà Nội
(chữ của Mai Thảo), của tôi, tại một quán
cà phê ngay bên bờ Hồ, có "người ở Thanh Xuân", cùng một số bạn bè
mới quen khác, trong có Nguyễn Việt Hà, tác giả "Cơ hội của Chúa",
một cuốn tiểu thuyết gây chấn động cả ở trong nước lẫn hải ngoại. Tôi
hỏi đùa
anh: "Bao giờ thì anh viết tiếp, cơ hội của chúng ta?"
Của Hà Nội?
***
Quán có tên Rendez-vous (Điểm Hẹn), gần ngay bên hồ, kế bên
khách sạn Phú Gia, nơi ngày xưa nổi tiếng với món vịt quay, như lời chỉ
dẫn của
Sơn, người bạn mới quen. "Anh cứ nói cho tới Phú Gia cũ là taxi hay xe
ôm
biết liền".
"Cho tôi một đời khác và tôi sẽ hát ở
Café Rafaella.
Hay giản dị chỉ ngồi ở đó." (Joseph Brodsky). Ngồi đây, tôi chỉ nhớ, nó
rất gần rạp Lửa Hồng ngày xưa, một rạp ciné của hướng đạo, chuyên chiếu
những
phim như Tarzan, Zorro, cho đám con nít nhà nghèo thành phố. Một trong
những
thiên đường tuổi thơ của tôi.
Nhà thơ người Nga Joseph Brodsky,
trong bài Chiến Lợi Phẩm,
viết về những kỷ niệm ấu thời của ông trong thành phố St. Petersburg,
đã nhắc
đến tiếng hú của người rừng Tarzan, và khẳng định một điều, vào những
năm đầu
thập niên 1950, loạt phim Tarzan đã "đọc bài ai điếu cho chủ nghĩa
Stalin" (de-Stalinization), còn hơn tất cả những bài diễn văn của
Khrushchev ở Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên xô, và sau đó.
Những phim Tarzan, Zorro, và những
phim sau đó, khi thằng bé
lớn hơn một chút, thì cũng vẫn những phim mà Joseph Brodsky đã từng mê
mẩn, như
Đại uý Blood, Tướng Cướp Rừng Xanh (Robin Hood)… là những món quà Hà
Nội dành
cho tôi, một thằng bé nhà quê may mắn được ra Hà Nội để học. Ôi chao,
tôi vẫn
còn nhớ một trong những niềm vui lớn lao của lũ học trò chúng tôi hồi
đó, là
sưu tầm những tờ chương trình, đúng ra là những tờ tóm lược một cuốn
phim đang
được trình chiếu. Một tờ chương trình, cũng một phim đó, ở rạp Majestic
lẽ dĩ
nhiên bảnh hơn của một rạp khác, thí dụ vậy. Tuy lớn hơn nhà thơ Nobel
ba tuổi,
nhưng tôi chẳng thể nào có được một "sở hữu thiêng liêng" như ông:
hình tài tài tử Errol Flynn trong phim
Sea Hawk: "Trong
nhiều năm tôi
[Brodsky] đã cố gắng bắt chước hứ hứ cái cằm, và nhúc nhích lông mày
bên trái.
Cái sau thì tôi thua." Và tôi [đứa con của Hà Nội] cũng không làm sao
có
tình yêu, mà nhà thơ nói là ông cùng chia sẻ nó với… Hitler: mối tình
lớn, của
thời niên thiếu, với cô đào [người Đức] Zarah Leander. Nhà thơ chỉ được
coi mỗi
một lần, mỗi một phim, của cô đào này, "Road to the Scaffold" (Đường
tới Đoạn Đầu Đài, tên tiếng Đức: Das Herz einer Konigin), về cuộc đời
hoàng hậu Scotland,
Mary,
Queen of Scots. [Chắc là nhà thơ không được biết, con trai tài tử Errol
Flynn
đã tham dự cuộc chiến Việt Nam
như là một nhiếp ảnh viên của hãng UPI, và tử trận – như một nhiếp ảnh
viên -
tại đây].
Tôi nhắc tới rạp
Majestic ở phố Huế, bởi vì chỉ còn nó là
sống sót, sau Hà Nội tiếp quản, sau Hà Nội cải cách ruộng đất – đại bác
đêm đêm
dội về thành phố, người phu địa chủ quét đường, dừng chổi lắng nghe! –
sau Hà
Nội Nhân Văn Giai Phẩm, sau Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi - và để đánh đổi sự
sống
sót, nó đành mất tên, trở thành Rạp Tháng Tám.
Ông cậu cho tôi biết, tiền thân của nó
là Majestic.
Anh chàng xe ôm bảo tôi: đây là rạp xi
nê độc nhất của Hà
Nội bây giờ.
Lẽ dĩ nhiên đường từ St
Petersburg
tới Stockhom đi qua địa ngục, cũng vẫn nhà thơ người Nga, trong bài
diễn văn
nhận giải Nobel văn chương, đã tuyên bố như vậy. Nobel hay không Nobel,
tôi
cũng thử bắt chước ông và tuyên bố: Lẽ dĩ nhiên, con đường trở về Hà
Nội đi qua
địa ngục.
Nguyễn
Quốc Trụ
Chú thích hình: Từ trái qua phải:
Nguyễn Thanh Sơn, Đỗ Minh
Tuấn, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, buổi tối tại
quán cà
phê Rendez-vous (Điểm Hẹn) bên Bờ Hồ Hà Nội (tháng Sáu 2001).