Đi tìm một tác phẩm sẽ có
Những năm Bảo Ninh và
Nguyễn Huy Thiệp viết tốt nhất cũng là
thời gian Tô Hoài cho in Cát Bụi Chân Ai, một cuốn gọi là hồi ký cũng
được mà
là tiểu thuyết cũng được, và đáp ứng đủ mọi tiêu chuẩn của tiểu thuyết
mà
Nguyên Ngọc đưa ra. Thế thì tại sao trong đầu Nguyên Ngọc hình như chỉ
có hai
nhà văn nói trên? Tôi tự cắt nghĩa cho mình thế này: việc hình thành
tài năng
của hai nhà văn Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp hồi ấy có gắn với nhiều
đóng góp
của Nguyên Ngọc cho đời sống văn học, vì thế sự kiên trì nói trên của
tác giả
Đất nước đứng lên là có thể hiểu được. Song tôi cho rằng không nên đặt
tình cảm
lên trên sự thực khách quan như vậy.
Vương Trí Nhàn: Tôi không lạc quan như Nguyên Ngọc
Đoạn trên trích từ bài viết của Vương Trí Nhàn, nhằm lại mở ra một cuộc
tranh luận
đã đóng lại, về
tiểu thuyết, để phản bác một số quan điểm của Nguyên
Ngọc.
Nhận định của Vương Trí Nhàn làm tôi nhớ tới dư luận một số báo chí văn
học quốc
tế, khi Cao Hành Kiện được Nobel, đã tố cáo, Cao Hành Kiện là "gà" của
một ông Hàn.
Ông Hàn này đã dịch những tác phẩm của Cao Hành Kiện, và ban cho gà của
mình giải
Nobel, cho tiện việc sổ sách!
Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển công nhận, quả có cái chuyện dịch,
nhưng chuyện đó không ảnh hưởng tới quyết định của Uỷ Ban Nobel.
Có thể, vì lịch sự, nên Viện Hàn Lâm
đã bỏ đi một khúc, như sau:
Viện Hàn Lâm chúng tôi đúng ra còn phải cám ơn đồng nghiệp dịch Cao
Hành Kiện đó, nếu ông
ta không dịch, chúng tôi chắc chắn sẽ vô cùng ân hận, vì sẽ bỏ qua một
nhà văn xứng đáng được Nobel, như là Cao Hành Kiện!
Bây giờ, tôi xin mượn khúc đuôi đó, để
lắp vào trường hợp của Nguyên
Ngọc và những tác giả như Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp.
Còn về Cát Bụi Chân Ai của Tô Hoài, và
nhận định của Vương Trí Nhàn 'đáp ứng đủ mọi tiêu chuẩn của tiểu thuyết
mà
Nguyên Ngọc đưa ra', Hai Lúa xin được không đồng ý
với nhà phê bình Vương Trí Nhàn.
NQT
*
Đi tìm một tác phẩm sẽ có
là tên một bài viết đã xưa lắm rồi, hình như là bài đầu tiên Hai Lúa
viết cho tờ Vấn Đề của ông thầy Vũ Khắc Khoan, có Mai Thảo tổng thư ký.
Tờ báo khi đó còn nằm trong khuôn viên Đại Học Vạn Hạnh, sau về Phạm
Ngũ Lão, chung với tòa soạn Văn.
Sau bài viết, Mai Thảo "order" thêm một bài nữa. Bài này, một truyện
ngắn, Tháng Sáu, [trời mưa]
làm khổ Hai Lúa, một cái
khổ chẳng liên quan gì tới văn chương, Hai Lúa không thể nào quên nổi.
Sau bài này, [Hai Lúa phải vào tận Vạn
Hạnh để đưa cho mấy ông nhà in],
Mai Thảo ra Quán Chùa,
đề nghị Hai Lúa giữ mục thường trực cho tờ báo.
Có thể nói, đó là 'tiền
thân' của trang Tin Văn trên không gian ảo này, bởi vì đa số những bài
viết đều lấy từ báo Tây, nhất là tờ L'Express [Tin nhanh].
Vì vụ này, Hai Lúa đã từng bị nhà tư tưởng, triết gia PCT phạng cho vài
dòng, còn nhớ đại khái, mấy cái thằng vênh vênh váo váo, khệnh khà
khệnh khạng trên hè đường Catinat, kè kè tờ L'Express, cặp nách cuốn
tiểu thuyết bỏ túi, livre de poche, ghé Quán Chùa..., nhưng thú vị, là,
câu tiếp theo sau đó, cũng nhớ đại khái, tôi phạng chúng cũng là phạng
chính tôi!
Cũng vì vụ này Hai Lúa
đã từng bị Mai Thảo ra lệnh, anh làm ơn đi kèm vài cái tin văn vắn về
văn
nghệ ở
trong nước, đây là yêu cầu của Vũ Khắc Khoan, không phải của tôi.
Hai Lúa, nhân ngồi cà phê với
TTT, bèn xì cái vụ trên, ông lắc đầu, tin trong nước, thì lại ba
cái thi văn đoàn, hội cà phê... có ích chi đâu, thà rằng giới thiệu nhà
văn, trào lưu văn học thế giới. Cái món này cần hơn.
Có thể
ông nói với Mai Thảo, vì sau đó, ông bảo tôi, thôi tùy anh, muốn viết
gì thì
viết!
Yêu cầu của Vũ Khắc Khoan theo như Hai
Lúa biết, là từ sức ép Miền Trung.
Nên nhớ, nói là văn học miền nam, nhưng những báo chí văn học ở Sài Gòn
lúc đó, độc giả của chúng, đa số là từ Miền Trung. Nhất là tờ Văn. Trần
Phong Giao rất rành điều này, và rất o bế mấy ông nhà văn Miền Trung,
rất ư là sốt sắng trong cái chuyện giới thiệu những mầm non văn nghệ
của vùng đất hai đầu thọ địch.
Hai đầu thọ địch, theo nghĩa, phía bắc thì đụng mấy ông miền bắc VC,
phiá nam đụng mấy ông miền bắc bỏ chạy VC!
Nhân đọc trong nước, đang bàn nhau về chuyện làm thế nào có tác phẩm
ngang tầm thời đại, và nhân bài viết của nhà phê bình Vương Trí Nhàn về
trường hợp
mấy ông Tô Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Hai Lúa bỗng nhớ đến bài
viết
cũ. Và bèn "chôm" cái tên, viết, một bài khác.
Chỉ nhớ được cái tên, nội dung bài viết ra sao, thua.
Nhớ tên, và một kỷ niệm.
Kỷ niệm, như thế, thường là về một "ẻn" một "em" nào đó.
Nếu không, nhớ làm khỉ gì!
*
Trong nhiều phát biểu gần đây trên báo
chí trong và ngoài
nước, Nguyên Ngọc từng trở đi trở lại với cái ý rằng ở ta hiện
đại hoá
mà ông
muốn chúng ta đi theo bắt đầu từ Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh. Bề nào
mà xét
thì ý kiến này cũng không thể chấp nhận được. Thế còn những Vũ Trọng
Phụng,
Nguyễn Tuân trước đó hoặc về sau này Nguyễn Khải thì sao? Theo chỗ tôi
nhớ,
Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Ngọc Tấn tác giả Trăng sáng và Đôi bạn chứ
không phải
Nguyễn Thi) hồi viết Im lặng
cũng có tư duy khá hiện đại. Lấy một ví dụ
nữa.
Những năm Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp viết tốt nhất cũng là thời gian
Tô Hoài
cho in "Cát bụi, chân ai" , một cuốn gọi là hồi ký cũng được mà là tiểu
thuyết
cũng được, và đáp ứng đủ mọi tiêu chuẩn của tiểu thuyết mà Nguyên Ngọc
đưa ra.
Thế thì tại sao trong đầu Nguyên Ngọc hình như chỉ có hai nhà văn nói
trên?
Tôi
tự cắt nghĩa cho mình thế này: việc hình thành tài năng của hai nhà văn
Bảo
Ninh và Nguyễn Huy Thiệp hồi ấy có gắn với nhiều đóng góp của Nguyên
Ngọc cho
đời sống văn học, vì thế sự kiên trì nói trên của tác giả Đất nước đứng
lên là
có thể hiểu được. Song tôi cho rằng không nên đặt tình cảm lên trên sự
thực
khách quan như vậy.
VTN
G. Lukacs, vào cuối đời, nhận ra
Solzhenitsyn quả là một nhà
văn hiện thực thứ thiệt, ấy là vì, ông muốn tách biệt hẳn ông này ra
khỏi
"cả một vài" thế hệ nhà văn Nga, kể từ khi chủ nghĩa Cộng Sản đăng
quang ở đất nước này, và cùng với nó là dòng văn chương hiện thực xã
hội chủ
nghĩa.
Theo tôi, trường hợp của Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh, cũng vậy. Khi
Nguyên Ngọc chỉ lọc
hai ông này ra, cũng là theo nghĩa như vậy.
Và sự kiện, Nguyên Ngọc hay nhắc tới Kundera, là cũng nằm trong mạch
suy luận như vậy.
Thành thực mà nói, tôi không đặt nặng
vấn đề văn chương của hai
ông này hay hay dở. Giả dụ như cứ bắt buộc phải chọn, thì với Nguyễn
Huy Thiệp, tôi
chỉ chọn
được có mỗi hai truyện, Những Ngọn
Gió Hua Tát, và Tướng Về Hưu.
Với
Bảo Ninh,
lẽ dĩ nhiên, chỉ có mỗi một Nỗi Buồn
Chiến Tranh. Với tôi, vậy là đủ.
Hai Lúa tôi cứ tưởng tượng ra một cuộc
đấu khẩu giữa Vương Trí Nhàn và Lukacs, như
giữa ông ta với Nguyên Ngọc, thưa ông Lukacs, ông nói chỉ có mỗi
Solzhenitsyn là nhà
văn hiện thực, còn bao nhiêu ông khác, họ có
phải là nhà văn hiện thực không, có viết tiểu thuyết không?
Đến đây, cho phép tôi mượn một hình ảnh, từ chưởng Kim Dung.
Trong Lục Mạch Thần Kiếm, có ông sư Thổ Phồn, Cưu Ma Tri, luyện nội
công Tiểu Vô Tướng Công [của Đạo gia] tới mức thượng thừa, nhờ vậy sử
dụng thành thạo Thất Thập Nhị Huyền Công, tức 72 tuyệt kỹ võ công của
Thiếu Lâm, [Phật gia]. Ông này ra đòn "niêm hoa vi tiếu", đấu với đòn
"niêm hoa vi tiếu", của
Thiếu Lâm, chẳng ai hay sự khác biệt, trừ Hư Trúc, do cũng rành
nội công đạo gia.
Cũng một đòn "tiểu thuyết" đó, giữa
Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh và "những ông kia", y chang về phần
hình thức, về phần
xuất chiêu, nhưng "nội công" của hai bên khác nhau. Cái khác nhau đó,
có lần Nguyên Ngọc định nghĩa là "lương tâm, ý thức tự vấn".
Chính cái
lương tâm tự vấn này làm cho Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh khác hẳn Tô
Hoài, tuy hai ông cùng
viết, cùng lúc, cùng nơi, cùng thời.
Đoạn thuyết giảng trước quần hùng của nhà sư già chuyên việc quét dọn
đèn nhang Tàng Kinh Các, Thiếu Lâm Tự, tại sao Phật pháp lại rong ruổi
với võ công, theo Hai Lúa, thật chẳng khác chi những trang sách của
những triết gia, về bạo động và lịch sử, về Mác xít có phải là chủ
thuyết nhân bản, về chủ nghĩa nhân bản và bạo động, khủng bố [Humanism
and Terror, tác phẩm của Merleau-Ponty].
Lập luận của nhà sư già tại Tàng Kinh Các, khi giải thích tại sao Phật
pháp lại giong ruổi với Võ học, xem ra như có vẻ vay mượn từ Lý thuyết
(Théorie) và Thực hành (Praxis) của triết học duy vật biện chứng: Trên
đường giong ruổi, Théorie và Praxis triệt tiêu lẫn nhau, quyện vào
nhau, để cùng biến mất và từ đó xuất hiện, con người hoàn toàn (l'homme
total), tức giấc đại mộng của Marx
Nước Cờ Của Hư Trúc.
Bạn đọc thấy ngay từ những năm 60, Merleau-Ponty đã nhìn thấy rõ kết
cục bi
thảm của tương lai Cộng sản Việt Nam hiện nay: Hành động dã man, tư
tưởng tín điều.
Lý do là, theo Merleau-Ponty, "nối kết mác-xít giữa triết học và chính
trị
đã đứt rời". Và người ta cứ coi như nó vẫn như thế, theo nguyên tắc,
trong thế giới tương lai, nghĩa là thế giới ảo tưởng, điều Marx đã nói:
"Triết học, cùng lúc, được thực hiện và tiêu huỷ bởi lịch sử, cái phủ
định thì cứu vớt, cái tiêu huỷ thì hoàn tất." (La philosophie à la fois
réalisée et détruite par l'histoire, la négation qui sauve, la
destruction qui accomplit. Signes, p.13). Và ngay từ năm 1960,
Merleau-Ponty
đã tỏ ra sáng suốt, khi kết luận: "Cuộc vận hành siêu hình đó đã không
xảy ra." Thời đại đã chứng rõ ràng là, trong khi qui luật mác-xít đòi
hỏi, đừng tiêu huỷ triết học nếu không thực hiện nó, thực tế
Stalinienne tiêu huỷ triết học, giản dị có vậy.
Hôm nay nhân loại nói chung một tiếng nói
Chính vì thiếu cái ý thức tự vấn đó mà cả một miền đất cứ nhắm mắt nhắm
mũi theo Đảng, không một chút nghi ngờ, đây là cái mù quáng nhất của ít
ra là vài ba thế hệ ở miền bắc, theo tôi.
Họ không hề được dậy, một điều thật cơ bản, đó là: Ngay cả khi khẳng
định, tôi vẫn còn tra hỏi.
Chính cái ý thức tự vấn này giúp con người sống sót, một khi nó phải
chọn lựa, giữa xấu và tốt, giữa Cái Ác và Điều Thiện.
Theo tôi, Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh đã làm được một việc vô cùng
quan trọng, là mở mắt cho những nhà văn Việt Nam!
*
Maurice Merleau-Ponty (March 14, 1908
– May 4, 1961) was a
French phenomenologist philosopher, strongly influenced by Edmund
Husserl, and
often somewhat mistakenly classified as an existentialist thinker
because of
his close association with Jean-Paul Sartre and Simone de Beauvoir, and
his
distinctly Heideggerian conception of Being.
From Wikipedia, the free encyclopedia
Triết gia hiện tượng học Pháp, ảnh hưởng nhiều từ Edmund
Husserl, thường bị coi là triết gia hiện sinh, do cặp kè với
Sartre
và de Beauvoir, và do quan điểm mang tính Heidegger của ông về Hữu Thể.
Trong bài viết
Đi tìm một tác phẩm sẽ
có ngày xửa ngày xưa đó, tôi còn nhớ được đến bây giờ, ấy là vì
tôi nhìn thấy số báo Vấn Đề có bài viết, vào một buổi tối, "như thường
lệ", ghé nhà cô bạn, thấy tờ báo nằm trên bàn nơi phòng khách.
Cô bạn mua, chắc chỉ vì bài viết!
Bài viết đó, như dần dần tôi nhớ ra được những chi tiết liên quan, [một
buổi tối... nằm trên bàn nơi phòng khách..], là được gợi hứng từ một
định nghĩa: nhà văn là người kết hôn với đất nước của mình.
Và cùng với đất nước của mình, là khí hậu, thời tiết của nơi chôn rau
cắt rốn của nhà văn đó.
Khí hậu truyện của Nhất Linh, là những mùa thu nhặt lá bàng của đất
bắc, là bến đò gió, là anh chàng Dũng, áo mở bung ngực, không cài nút,
đầu tóc xù ra, đón gió, rập rà rập rình hăm he với chính mình, sẽ bỏ
nhà ra đi làm cách mạng! Cái đoạn tả anh chàng Dũng ngớ ngẩn nhìn sang
nhà hàng xóm, thấy chiếc áo cánh trắng tinh bay phất phơ trong gió, ngộ
ra chân lý
là Loan đi học ở tỉnh về nghỉ hè, là những dấu hiệu báo hiệu mùa
thu sắp sửa trở về, và cùng với nó là... tình yêu!
*
Hà Nội, thành
phố có hương thơm và mặt trời ve vuốt, thành
phố mà Cẩn nói, được dựng lên cho những nhớ nhung và mơ tưởng của một
thời trẻ
dại, "con đường Trường Thi, hai hàng me bên đường vào khoảng tháng sáu,
tháng bẩy như thế này, lá me bắt đầu rụng để lộ những nhánh cây nhỏ,
những đứa
trẻ háu ăn đã vô ý tưởng là những quả me, và ngó lên bằng cặp mắt thèm
thuồng.
Mùa hè vàng nắng không còn, nhưng những ngày cuối mùa nóng, người dân
Hà Nội có
thói quen trước khi ngủ mở tất cả những cánh cửa sổ để đón gió mát, đột
nhiên
trong đêm khuya, có những cơn gió lạ từ đâu chợt tới, thổi thốc những
chiếc lá
khô bay phấp phới, và người lớn vội vàng trở dậy đóng bớt cửa sổ, "đó
là
những dấu hiệu đầu tiên báo hiệu mùa thu trở về."
Những Ngày Ở Sàigòn