Mon,
June 21, 2010
From:
To:
Cc:
Anh Tru
than,
Lau qua khong nhan duoc tin
tuc tu anh. Thinh thoang van vao TAN VIET doc bai.
Suc khoe anh dao nay ra sao?
Anh con nho hinh anh nay
khong? Saigon 1972 tai quan Huong Xua
quan
GoVap.
Nguyen Dinh Thuan hoi tham
anh
Dia chi e-mail cua NDT:
Than,
Ng Tr Khoi
Hi, bạn
ta!
Cái hình, luôn cả website của
bạn, có trên TV rồi.
NTK
Gấu nhớ hoài không ra hình
chụp
khi nào, ở đâu, chỉ nhớ, thời gian làm cho ông Nhàn.
Cổ
lai chinh chiến
Gấu đọc
Nỗi Buồn Chiến Tranh
của BVVC
Nhà
văn Miền Nam
được Time tiếp xúc, đề nghị, và
đã nhận lời, trên nguyên tắc, theo Cao Bồi, là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.
Sau đó Gấu có hỏi ông, và ông gật đầu xác nhận chuyện này. NQT
*
Tôi không coi 'Nỗi buồn chiến tranh' là một sự đột khởi, đột biến của
văn học
Việt Nam
viết về chiến tranh, viết từ thế nhìn của người chiến thắng. Bởi trước
đó đã có
'Đất trắng'. Nhưng đúng là phải chờ Bảo Ninh thì văn học viết về cuộc
chiến vừa
qua ở Việt Nam
mới vượt lên trên tầm 'thường'.
Khi đến với bạn đọc lần đầu, tác phẩm của Bảo Ninh phải ẩn thân dưới
một cái
danh khác: 'Thân phận của tình yêu.' Rõ là sến, vô nghĩa, rậm lời. Gọi
tác phẩm
bằng cái tên nguyên thủy của nó, mới có thể tiếp cận được với trường
cảm xúc
của tác giả. Ấy là tình yêu, tình bạn, tình đồng đội, tình người.
So với các tác phẩm có chung một đề tài (chiến tranh chống Mỹ, chiến
tranh giải
phóng, nội chiến vì phân biệt ý thức hệ), 'Nỗi buồn chiến tranh' rất
mới về bút
pháp. Sự chuyển đổi thời gian được mô tả thật nhuyễn, sự trôi chảy của
ý thức
đã được Bảo Ninh theo dõi không ngừng. Tuy nhiên, cái mới đó vẫn chưa
thật là
mới khi xét nó trong phạm vi tiến trình phát triển của văn học thế
giới. Cái
mới của một tác phẩm, xét đến cùng là ở cách 'nghiền ngẫm' hiện thực
(chữ dùng
của Lê Ngọc Trà). Trong nghĩa đó, đi vào đề tài chiến tranh, Bảo Ninh
là nhà
văn đầu tiên ở Việt Nam biết nghiền ngẫm, nói được những điều chưa từng
ai nói.
Nếu
đã từng đọc 'Một thời để yêu, một thời để chết' của Remarque, hẳn
bạn sẽ bị
ám ảnh rất lâu, có thể là mãi mãi bởi hình ảnh cuối cùng tác phẩm:
Người du
kích Liên xô ngay sau lúc được giải thoát đã nâng súng bắn hạ người
lính Đức
vừa giải thoát mình. Một cách có ý thức? Hay vô thức? Không biết! Chỉ
biết là
viên đạn đã ra khỏi nòng súng và thêm một con người gục xuống vào phút
hấp hối
của chiến tranh. Còn lại vĩnh viễn hy vọng không bao giờ thành thực của
nhân
vật chính. Còn lại vĩnh viễn một nỗi buồn: Nỗi buồn chiến tranh.
LMH
Cái
cú bắn này, rõ ràng như ban ngày: Anh du kích Liên
Xô lúc nào cũng nghĩ xấu về tên lính Đức, anh ta không tin thằng khốn
nạn thực
sự tha mình. Nó chờ mình chạy, rồi bắn, coi như bia sống. Nhân thằng
chả mải mê
đọc thư nhà, là đòm một phát.
Cái
cú này đúng là cú giải phóng Miền Nam. Anh Ngụy
tưởng là chiến tranh xong rồi, Mỹ cút rồi, Ngụy nhào rồi, thế là đòm
một phát,
đi hết cả Miền Nam.
Gấu
nghe nói, sau khi hòa đàm Paris ký kết, mấy anh
VNCH chạy đến hôn mấy anh VC, khóc ròng [xin nhắc lại, mấy anh VNCH,
hình như
có Vũ Văn Mẫu thì phải, khóc ròng], nước nhà độc lập thống nhất rồi.
Gấu bất
giác nhớ ông cụ Gấu, nghe Cụ Hồ đọc diễn văn Ba Đình, chạy về la lớn:
Nước nhà
độc lập rồi, sau đó bị thằng học trò cho đi mò tôm.
Đó là kỷ niệm độc nhất của Gấu về ông bố của mình, những ngày đầu Cách
Mạng.
*
Chỉ biết là viên đạn đã ra khỏi nòng súng và thêm một con người gục
xuống vào
phút hấp hối của chiến tranh.
Ui
chao, câu này, phải dành cho me-xừ Nhàn, giám đốc nhà xb Vàng Son,
số 32
Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Gấu đã từng viết về ông. Ngay sau 30 Tháng Tư, hưởng ứng lời kêu gọi
của Tân
Nhà Nước, tức Nhà Nước Cách Mạng, Nhà Nước Ăn Cướp, kéo cả gia đình đi
Kinh Tế
Mới. Buổi sáng hôm đó, chàng tà tà vác cuốc đi làm rẫy, mơ mộng đổi
đời, không
nghe tiếng anh du kích hô, đứng lại, thế là đòm một phát.
Chàng. Đúng là chàng.
Đúng ra phải gọi là Romeo, như nickname mà đám nhân viên, tức Gấu,
Nguyễn Trọng
Khôi, Nguyễn Mai đặt cho ông.
Juliette, cô bồ của ông, trước 30 Tháng Tư rông, kéo ông theo, ông lắc
đầu. Tôi
chọn vợ tôi. [Nhại Camus: Tôi chọn Mẹ tôi]
NKTV
V/v sức
khoẻ của GNV
Gấu hồi
này sa sút lắm rồi,
tính dẹp trang TV, để thì giờ ‘tút’ cái đống hầm bà làng kỷ niệm một
đời nhà
thằng cha Gấu, kể từ lúc vác hai cái rương nhỏ, bỏ Hà Nội, xuống Hải
Phòng, rồi
xuống tầu há mồm, ra Vịnh Hạ Long, lên chiến hạm Rắn Biển của Đệ Thất
Hạm Đội,
vô Nam, đổi đời một lần, rồi sau 1975 đi tù, ngộ ra một tên Bắc Kít
khác, rồi
chạy thoát quê hương, ra được hải ngoại, lại ngộ ra một tên Bắc Kít
khác nữa, ở
trong cũng 1 thằng cu Gấu nhà quê Bắc Kít ngày nào…
Tếu
nhất, là, liền mới đây
thôi, một tên đệ tử của nhà phê bình, chửi Gấu là đã dám đụng vô Thầy
của
chúng, mà lý do chỉ để lập công với VC, hắn đưa chứng cớ, mi mới được
VC in cho
tác phẩm đúng không?
Gấu trả
lời, cái vụ in tác
phẩm thực sự không liên quan tới VC, mà tới một nhà xb ở trong nước,
mướn Gấu
dịch tác phẩm của Pamuk. Gấu là tên viết mướn, dịch mướn, một hitman
văn học, có
người mướn dịch, thấy đây là tác phẩm văn học, không dính dáng gì tới
chính trị,
độc giả trong nước đọc nó mà chẳng đỡ hơn đọc lén băng đảng Hậu Vệ,
chống Cộng
rẻ tiền sao!
Còn cái
chuyện lập công với
VC thì mi ngu quá, Gấu già quá, sắp đi rồi, lập công cái con mẹ gì nữa!
Lạ làm sao là hắn ta lại chúc
Gấu sống lâu: Mi mới tròm trèm 70, còn sống lâu chán, tha hồ mà về nước
phục vụ VC!
Ui
chao, giá mà được như vậy,
về trong nước, gặp lại bạn bè, được một nhà xb tư nhân nào đó mướn
dịch, trả
lương tháng, đủ sống hết quãng đời còn lại, quên mẹ hết mọi chuyện, mà
chẳng
sướng sao?
Một ông
bạn của Gấu đã thực
hiện được giấc mộng này rồi!
HOÀNG TRÚC LY
[1933-1983]
Hà Chưởng
Môn
Gấu
viết cho Tiền Tuyến, khi
TTT được điều về tờ báo này, mở ra trang VHNT, giao cho thằng em giữ
mục điểm sách.
Tờ báo nằm ngay dốc cầu Thị Nghè, bên trái nếu đi từ Sài Gòn, trong khu
vực thuộc
Tổng cục chiến tranh chính trị. Cả một khu vực ăn thông với nhau, đằng
sau nó là
trại lính,
khu gia binh, ăn mãi tới khu kho đạn “Lê Văn Tám đuốc sống’ thời Tây,
ăn mãi
xuống khu cầu Sài Gòn. Gấu đã từng đi xuyên những bức tường, trong khu
vực này,
những ngày Mậu Thân, cấm trại 100%, theo ông anh, tham dự những trận
đánh ‘chắn’,
khi thiếu 1 chân, bởi vì nhà Gấu ngay gần đó.
Thành thử tòa soạn TT là một
nơi thân quen thường ghé. Quen Hà chưởng môn là vậy. Nhớ một lần cận
Tết, ông kêu
cả tòa soạn đi dự một trận chó 7 món, do một tay lính đệ tử của ông làm
đầu bếp,
trong 7 món có món ‘tái chó’.
Thịt chó phải ăn hai lửa mới ngon, vì rất nóng, không thể ăn
tái được, vì rất dễ ngộ độc, cả đám hoảng, vậy mà chẳng ai chết
cả!
Tuy
nhiên, nhắc đến Hà chưởng
môn, mà không quên câu thơ ‘ông về ông kẻ lông mày tí chăng?’, viết
tặng Tướng Râu
Kẽm, và mối tình Kỳ Duyên Mai, là quá thiếu sót. Có thể, do đã từng gặp
gỡ Tướng
Râu Kẽm vài đôi lần, có thể, nhân cái vụ gấu ó giữa hai ông tổng và
phó, và tiên đoán ra được Kỳ sẽ thua Thiệu nên Hà chưởng môn mới đi một
đường
khuyên
can nhè nhẹ, về cái đường tấn thoái cho
Kỳ chăng?
Quái đản nhất, là lời khuyên lại
ứng mãi vào những ngày sau này, khi Kỳ quay về xứ Mít, không phải để
kẻ lông mày
cho em Mai, vì Mai đâu còn nữa, mà để chơi golf với VC!
Thi sĩ,
nhiều khi đi trước thời
đại của mình, một cách rất ư là tình cờ, ngẫu nhiên như vậy
Hồi đó, nguời đọc chỉ coi đây
là câu thơ nịnh ông Kỳ, nịnh cả cái thú mê đọc chưởng Kim Dung của ông
khiến đám
không quân cũng phải hùa theo!
Hà
chưởng môn còn là tác giả
bài đọc sách, cuốn Bếp Lửa của TTT, ấn bản đầu tiên, bản bìa vàng của
nhà xb Nguyễn
Đình Vượng.
Nhờ chẳng có ai đọc, ông Vượng đành mang
bán xôn, thế là
Gấu đọc cọp được, và ngộ ra cõi văn của mình. Giá không có cú đọc cọp
này, thì
không biết sự tình sẽ ra sao?
Biết đâu, trời lại cho món quà
khác, BHD chẳng hạn?
Bài điểm sách của Hà chưởng môn,
lẽ dĩ nhiên, ký tên khác, đăng trên báo Tự Do, nhưng do Gấu là em nhà
báo Hiếu
Chân, một trong người thành lập tờ báo nên biết rành điều này. Báo Tự
Do cũng
phạng thơ tự do ra trò khi vừa mới xuất hiện, và người phạng ra trò
này, là Hà
chưởng môn.
Tuy nhiên, khi cùng làm chung
tòa soạn, họ rất trân trọng, kính nể nhau.
Hà chưởng môn chê cuốn sách giống như tay nhà văn Châu Phi chê Bóng đêm
giữa ban ngày, của Conrad, ở cái câu mô tả cô con gái khóc bố, lăn lộn
trước huyệt, như một con chó điên: Mô tả như thế, nhẫn tâm, tàn nhẫn
quá!
Trong một bài viết rất ‘xưa rồi
Diễm ơi’,
cho tờ Vấn Đề của ông thầy họ Vũ, “Đi tìm một tác phẩm sẽ có”, chôm một
ý tưởng
của tụi mũi lõ, “nhà văn nhớn là kẻ kết hôn với xứ sở của nó’, Gấu bèn
đi một
đường vinh danh cái xen anh cu Dũng trong Đôi Bạn, vào một buổi trưa
hè, ‘ôi
nắng vàng sao mà nhớ nhung’, nhìn sang hàng xóm thấy một áo cánh trắng
cộc tay
bay phất phơ trong gió, ngạc nhiên tự hỏi, ‘áo ai trắng quá nhìn không
ra”, và
đúng lúc đó, anh cu Dũng ngộ ra là Loan đi học, nghỉ hè, về quê, và
cùng lúc,
khám phá ra tình yêu, người yêu của mình!
Từ đó, GNV đi một đường viết về nhà văn Nhất Linh, và cuộc hôn nhân của
ông với
Đất Bắc Kít, nào là nhặt lá bàng, nào là xóm cầu mới…
V/v Đi tìm một tác phẩm sẽ có
này, Gấu
cũng có một kỷ niệm thật để đời về nó. Đó là lần đến nhà cô bạn như
thường lệ,
thấy trên bàn số Vấn Đề, mở ra ở ngay bài viết trên. Cô bạn nhìn thấy
Gấu nhìn
thấy số báo, mắt như muốn nói, đọc rồi, hay lắm!
Ui chao, làm sao mà GNV hay
thế, đọc ra
hết, những điều trên?
Thì sau này, chính cô bạn nói,
anh đâu
phải đàn bà, anh đâu phải tôi, mà sao anh đọc ra hết lòng dạ của tôi
như thế?
ZEPPELIN
Herta Muller
TRANSLATED
BY PHILIP BOEHM
Behind
the factory is a place
with no coke ovens, no extractor fans, no steaming pipes, where the
tracks come
to an end, where all we can see from the mouth of the coal silo is a
heap of
rubble overgrown with flowering weeds, a pitiful bare patch of earth at
the
edge of the wilderness, criss-crossed by well-trodden paths. There, out
of
sight to all but the white cloud drifting far across the steppe from
the
cooling tower, is a gigantic rusted pipe, a discarded seamless steel
tube from
before the war. The pipe is seven or eight metres long and two metres
high and
has been welded together at the end closest to the silo. The end that
faces the
wilderness is open. A mighty pipe, no one knows how it wound up here.
But
everyone knows what purpose it has served since we arrived in the camp.
It's
called the Zeppelin.
This Zeppelin may not float
high and silver in the sky, but it does set your mind adrift. It's a
by-the-hour hotel tolerated by the camp administration and the bosses,
the nachalniks - a trysting place where the
women from our camp meet with German POWs who are clearing the rubble
in the
wasteland or in the bombed-out factories. Wildcat weddings was how
Anton Kovacs
put it: open your eyes sometime when you're shovelling coal, he told me.
As late as the summer of Stalingrad,
that last summer on the veranda at home, a
love-thirsty female voice had spoken from the radio, her accent
straight from
the Reich: Every German woman should give the Fuhrer a child. My aunt
Fini
asked my mother: How are we to do that? Is the Fuhrer planning to come
here to
Siebenburgen every night, or are we supposed to line up one by one and
visit
him in the Reich?
We were eating jugged hare;
my mother licked the sauce off a bay leaf, pulling the leaf slowly
through her
mouth. And when she had licked it clean, she stuck it in her
buttonhole. I
thought they were only pretending to make fun of him. The twinkle in
their eyes
suggested they'd be more than a little happy to oblige. My father
noticed as
well: he wrinkled his forehead and forgot to chew for a while. And my
grandmother said: I thought you didn't like men with moustaches. Send
the
Fuhrer a telegram that he better shave first.
Since the silo yard was
vacant after work and the sun still glaring high above the grass, I
went down
the path to the Zeppelin and looked inside. The front of the pipe was
shadowy,
the middle was very dim and the back was pitch dark. The next day I
opened my
eyes while I was shovelling coal. Late in the afternoon I saw three or
four men
coming through the weeds. They wore quilted work jackets like ours,
except
theirs had stripes. Just outside the Zeppelin they sat down in the
grass up to
their necks. Soon a torn pillowcase appeared on a stick outside the
pipe - a
sign for occupied. A while later the little flag was gone. Then it
quickly
reappeared and disappeared once more. As soon as the first men had
gone, the
next three or four came and sat down in the grass.
I also saw how the women work
brigades covered for each other.
While three or four wandered
off into the weeds, the others engaged the nachalnik in
conversation. When he asked about the ones that had
stepped away they
explained it was because of stomach cramps and diarrhoea. That was
true, too,
at least for some - but of course he couldn't tell for how many. The nachalnik chewed on his lip and listened
for a while, but then kept turning his head more and more frequently in
the
direction of the Zeppelin. At that point I saw how the women had to
switch
tactics; they whispered to our singer, Loni Mich,
who began singing loud
enough to shatter glass - drowning out all the noise made by our
shovelling:
Evening silence on the vale
Except
a lonely nightingale
- and suddenly all the ones
who had disappeared were back. They crowded in among us and
shovelled away as if nothing had happened.
I liked the name Zeppelin: it
resonated with the silvery forgetting of our misery, with the quick,
catlike
coupling ... I realized that these unknown German men had everything
our men
were lacking. They had been sent by the Fuhrer into the world as
warriors, and
they were also the right age, neither childishly young nor overripe
like our
men were. Of course they, too, were miserable and degraded, but they
had seen
battle, had fought in the war. For our women they were heroes, a notch
above
the forced laborers, and offered more than evening love in a barrack
bed behind
a blanket. The evening love remained indispensable. But for our women
it
smelled of their own hardship, the same coal and the same longing for
home. And
it always led to the same give and take. The man provided the food; the
woman
cleaned and consoled. Love in the Zeppelin was free of every worry
except for
the hoisting and lowering of the little white flag.
Anton Kovacs was convinced I
would disapprove of the women going to the Zeppelin. No one could have
guessed
that I understood them all too well, that I knew all about arousal in
pulled-down pants, about stray desires and gasping delight in the alder
park
and the Neptune baths. No one could
imagine
that I was reliving my own trysts, more and more often: Swallow, Fir,
Ear,
Thread, Oriole, Cap, Hare, Cat, Seagull. Then Pearl. No one had any
idea I was
carrying so many cover names in my head, and so much silence on my back.
Even inside the Zeppelin,
love had its seasons. The wildcat weddings came to end in our second
year,
first because of the winter and later because of the hunger. When the
hunger
angel was running rampant during the skin-and-bones time, when male and
female
could not be distinguished from each other, coal was still unloaded at
the
silo. But the path in the weeds was overgrown. Purple-tufted vetch
clambered
among the white yarrow and the red orache, the blue burdocks bloomed
and the
thistles as well. The Zeppelin slept and belonged to the rust, just
like the
coal belonged to the camp, the grass belonged to the steppe and we
belonged to
hunger. _
GRANTA,
Spring, 2010
Sex
Note:
Tờ Granta, số mới nhất,
sex, có truyện ngắn trên.
Làm Gấu nhớ một truyện ngắn
của Thảo Trường, viết về cuộc tình qua hàng rào giây kẽm gai, ở trong
tù, giữa
một nữ và nam tù nhân. Làm nhớ Nhà Hội của Amis.
Và nhất
là, làm nhớ
cú "sex" ở trại tù Đỗ Hòa!
Nhưng
cái xen, hàng đêm Đức Quốc
Trưởng phải hì hục tiếp các cháu gái ngoan, đứng xếp hàng chờ tới lượt,
mới
thú!
Nó làm nhớ đến mệnh lệnh của Bắc Bộ Phủ, gởi tới đám tập kết, năm 1954,
mỗi anh
phải làm một em Miền Nam
mang bầu, trước khi ra Hà Lội trình diện Bác!
Nhớ
nhắc Bác cạo râu đấy nhé:
Send
the
Fuhrer a telegram that he better shave first.
*
Ở VN, hồi nhỏ đi tàu nhiều
nhất là HàNội-HảiPhòng, nhưng ấn tượng nhất là ga Cẩm Giàng. Mới năm
kia cùng
TQ đi qua ga xép đúng ngày giải phóng thị xã, cờ đỏ chăng treo khắp
nơi, y như
câu thơ của Trần Dần.
Blog NL
Nhân
tiện, GNV cũng xin đi ké
tàu, và đi một đường về tàu.
GNV có nhiều kỷ niệm về tàu
hoả, trong số đó, có 1 liên quan đến tuyến đường HN-HP, trên.
Thời kỳ 1954, Hà nội đã được VC
từ rừng về tiếp quản, Hải Phòng có 300 ngày ân huệ. Gấu ở lại Hà Nội
tiếp tục đi
học, nhưng thèm coi phim của tụi tư bản quá, cứ lén xuống HP hoài, coi
phim
xong là về lại Hà Nội, sau cùng là chuồn hẳn.
Những lần đi tầu hoả như thế,
chứng kiến cảnh nhân dân ta kéo ra đường tầu, nằm trên đường ray, ngăn
chặn tầu
không cho chạy, khóc như ri, kêu gọi chồng con đừng bỏ Bác, Đảng, đất
Bắc, vào Nam
theo giặc làm
Việt gian!
Càng những ngày về sau sắp sửa hết ân huệ, dân Bắc
bỏ chạy càng nhiều.
Một lần Gấu nhìn thấy một gia
đình thoát được lên tầu, nét mặt mừng rỡ như tái sinh, người đàn ông
chủ gia đình
tháo đôi giầy ra, cậy đế giầy, lôi ra mớ tiền bạc, giấy tờ, đưa lên
miệng hôn,
nước mắt chảy ròng ròng. Sau Gấu đọc một nhà văn nữ, Mẽo gốc Hàn, cũng
tả cảnh
y chang! (1)
Vào Nam,
vẫn được hưởng
thú đi xe lửa, Bắc gõi tàu hoả, khi còn đi học. Lần được đi xe lửa ra
Nha Trang cùng
với bạn C.
nhờ vậy viết được Những con dã tràng, Gấu đã kể nhiều lần rồi.
Rồi thời gian bạn Cẩn làm thư
ký ga Long Khánh còn hưởng thêm cái thú phụ bạn làm ông ký ga!
Nhưng khủng nhất, phải là câu
hát, ‘xe lăn trong tim khuất xa dần biết đâu tìm’, trong bài ‘Chuyến
tàu hoàng
hôn’, nghe tại trại tù Đỗ Hòa!
GNV cũng kể đại khái rồi,
nhưng chưa đi hết một đường hoài niệm, xin khất lại kỳ tới!
Nhưng viết về tàu hoả, làm
sao bỏ qua “Một câu chuyện trên tần thuỷ” của
Thế Lữ?
Cũng tàu!
(1)
Viết tới đây, tình cờ giở qua
số báo Điểm Sách Nữu Ước vừa mới nhận được, tôi thấy có bài viết của nữ
văn sĩ
Mỹ gốc Đại Hàn, Suki Kim, viết về chuyến trở về của bà, vào ngày 16
tháng Hai,
năm 2002:"... thật là một tình trạng kỳ cục, đối với một người viết
tiểu
thuyết, đến từ East Village thuộc Nữu Ước, một kẻ chẳng phải nhà hoạt
động nhân
quyền, hay diễn viên. Tôi sinh ra là Đại Hàn, và sau đó, là người Mỹ di
dân từ
khi mười ba tuổi. Cái phần Mẽo ở trong tôi chối đây đẩy xứ sở này, chốn
đèo heo
hút gió, đứa con hoang của chiến tranh lạnh. Nhưng tôi thường xuyên bị
ám ảnh,
bởi cơn đói của nó, trên màn hình TV vào mỗi buổi chiều. Khi bạn bè hỏi
tôi,
liệu có khi nào, hai phần Đại Hàn sẽ hợp làm một, tôi không biết làm
sao trả
lời. Tôi biết nhiều như họ, và cũng ít như họ. Nhưng có một điều làm
tôi lẻ loi
ra, giữa đám bè bạn của mình, đó là, tôi chắc chắn một điều, cho dù
miền đèo
heo hút gió đó - tôi muốn nói Bắc Hàn - tà ma ác quỉ tới mức nào, tôi
chẳng thể
thù ghét nó." ("... I am certain, no matter how evil North Korea
is
supposed to be, that I could never hate it". Suki Kim: A Visit to North Korea,
NYRB, số đề ngày 13 tháng Hai, 2003)
Nguồn
*
Sunday, January 11,
2009
11:43 PM
Re:
Cam on anh Tru .
Sau
mấy năm rồi, cũng vẫn câu
hỏi cũ : Làm sao mà vừa đọc, vừa viết, vừa chăm cháu ngoại, vừa nói
chuyện với
bạn bè được, hay quá. K thì chỉ đọc (internet) và xem là nhiều. Vừa
xem lại
"The Road Home" của Trương Nghệ Mưu , vẫn thấy đây là phim tàu hay
nhất, dù không vĩ đại. Chỉ có tình là vĩ đại thôi .
*
Tôi
chưa coi phim đó.
Tks.
Chỉ
có tình là vĩ đại thôi.
Mà cứ phải mấy anh Tầu, mới vĩ đại. Tây Mẽo không bằng. Hồi ở VN
tôi có đọc một cuốn sách dịch chuyện
tình Tầu. Chuyện nào cũng hay. Có một
chuyện, về một anh học trò nhà quê, lên thành đô học, mê một em trong
xóm, chuộc
em ra. Rồi bố mẹ bắt về, trên đường về đi ngang thuyền một anh lái
buôn. Anh này
thấy cô vợ đẹp quá bèn dụ anh chồng đánh bạc, thua, cho vay, thua tiếp,
phải bán
vợ. Cô vợ, vào lúc sang thuyền khác, bèn mở mấy cái rương bạn bè trong
xóm tặng
ra, hoá ra toàn kim cương, hột xoàn, và cứ từ từ thả xuống sông, rồi
thả mình
theo.
Có
một lời bàn, đẹp thế, sao
ngu thế, chọn đúng thằng cực kỳ khốn nạn mà theo!
Chuyện
hơi giống chuyện nàng
Tuấn Khanh [hay Thiếu Khanh?], trong Truyền Kỳ Mạn Lục. Nhưng chuyện TK
có hậu hơn, anh
chồng hối
hận, lo nuôi con, cô vợ sau thành thần, về gặp lại chồng, trong mộng,
tất nhiên,
khuyên theo phò Lê Lợi.
*
Chuyện
tình Mít
kể, đương thời, thì có NNT. Truyện số 1 của nữ văn sĩ “miệt vườn, đặc
sản
Miền Nam”,
là Một Mối
Tình
Truyện ngắn mới nhất, Có con
thuyền đã buông bờ [Lâu
rồi mới viết chuyện tình] mà
chẳng hay ư?
Chuyện tình lồng trong chuyện tình, lồng trong
chuyện tình. Cái cô Bê phải có một mối tình lớn, vì nó mà bỏ xứ mà đi,
và mối
tình trắc trở này chắc là mắc mớ tới một người đàn ông có vợ, và bị vợ
bỏ chạy
theo thằng khác [đây là "mô típ đặc sản" của NNT, như trong Một Mối
Tình, trong Cánh Đồng Bất Tận, nếu không, cô không để ý tới anh chàng
có đứa
con bị sốt], rồi còn mối tình thương hại anh học trò em trai cô chủ nữa.
Thú thực, viết
như thế, thì Gấu này phải chịu là Nữ Sư Phụ!
Đặc
sản Miền Bắc
thì có em Phương, trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, chửi anh Kiên, Yankee mũi
tẹt,
mày ngu quá, đâu còn đêm nào như đêm nay….
Hay em trong Trăng Goá, do
sặc sụa
mùi nước đái tại Ga Hàng Cỏ khi tiễn Yankee vào Nam
chiến đấu mà nhận lời cầu hôn Thủ
Trưởng, hay anh cu Sài của Nê Nựu, Đảng bảo lấy ai thì lấy người đó!
"Chẳng
còn đêm nào như đêm nay
đâu. Anh muốn hiến đời anh cho một sự
nghiệp gì đó, còn em quyết định sẽ phung phí đời mình, sẽ huỷ diệt nó
trong
cuộc chiến này".
Gấu
đọc War
Sadness
Trong Nỗi Buồn cũng có cảnh
ga Thanh Hóa ăn bom Mẽo, và trong lúc khói lửa tơi bời, em Phương bị bộ
đội Cụ Hồ làm thịt
*
Note:
To K,
Coi The Road Home, rồi. Moi
ra từ cái kho phim thời tiền sử mà Gấu đã nói tới.
Sẽ đi một đường về phim tuyệt cú mèo này, hy vọng như vậy.
Phim có
cảnh tàu hoả thì có From
Russia With Love. Cái xen Bond bị KGB đưa vô bẫy, và làm thịt hụt ở
trong truyện,
khác. Trong Casino Royale, truyện, có xen Bond vận nội công, đánh vào
chiếc ghế đang
ngồi đánh bạc, làm nát bấy, lộ ra cây gậy trong có khẩu súng đang gí vô
lưng, bắt
phải thua canh bạc, y chang chưởng Kim Dung.
Ở VN, hồi nhỏ đi tàu nhiều
nhất là HàNội-HảiPhòng, nhưng ấn tượng nhất là ga Cẩm Giàng. Mới năm
kia cùng
TQ đi qua ga xép đúng ngày giải phóng thị xã, cờ đỏ chăng treo khắp
nơi, y như
câu thơ của Trần Dần.
Blog NL
Người nhìn xe
lửa chạy qua
hay là
Niềm bí ẩn đáng sợ.
*
TTT khi
viết Một chủ nhật
khác, có thể có nghĩ tới phim này!
Gấu coi thời mới lớn, không hiểu hết ý nghĩa
của nó, lần này coi lại, mới rõ thêm ra được. Tuy nhiên, không dễ, như
‘link’
cho thấy:
I'm still scratching my head
over Honor Among Thieves. This
1968 French production is a near
incomprehensible mess of a movie.
Nguồn
Cái 'thème' bắn lầm bạn thân,
đã từng cứu tử mình, được gắn huy chương nhờ đó, rồi khi cuộc chiến
chấm dứt, tìm
cách trả ơn thằng bạn đã chết bằng cách giúp đỡ cô bạn gái mở một cái
két sắt,
và cái mã số thì lại là cái ngày xẩy ra trận Waterloo… Khó hiểu thật!
Gấu coi hồi mới lớn, bây giờ
coi lại, cũng là một cách sống lại lần nữa, Sài Gòn và thời mới lớn của
mình.
Cũng vẫn
những con phố đó,
Nào ngã tư Đinh Tiên
Hoàng, Đa Kao
Nào con hẻm 72 Thị Nghè,
Nào Đống Rác Chợ Cũ,
Nào Xóm Ken bên
kia Thủ Thiêm
The City

Lại nói chuyện mê
đọc sách. Trên TLS, số 7 Tháng 11, 2008 điểm sơ sơ [in brief] cuốn tiểu
luận
mới ra lò của tay Llosa, Wellsprings [202 pp. Harvard
University Press.
US 17.95], gồm 7 tiểu luận, một trong số đó, là sự diễn giải,
interpretation
cuốn Don Quixote của Cervantes.
Nhà văn xứ
Peru miêu tả Quixote, như là một tay bị gậm nhấm, bào mòn bởi một
cái đói khủng khiếp: đói đọc tiểu thuyết, giả tưởng, và liền đó, Llosa,
“giật
mình mình lại thương mình sót sa": Quixote đói khát làm sao thì tớ đây
cũng
rứa, nhưng với ông, là một sự đói “thuốc, sái, sảm”: đói cơn “yên sĩ
phi lý thuần”,
inspiration, đói niềm hứng khởi, những khi ngồi trân trân trước trang
giấy trắng,
và không thể đẻ ra được một chữ nào.
Llosa phán, độc giả thì tự đồng nhất họ với Don Quixote, kẻ bị mồi
chài, dụ khị
bởi điều không thể, và sa đọa vì nó, who ‘succumbs to the temptation of
the
impossible’, thay vì, làm một tên Sancho Panza, bị cầm tù bởi điều khả
thi, là
chuyện thường ngày ở huyện, là cái thường nhật thảm hại, là thảm kịch
của cái
vô ích, tức là bằng lòng là một kẻ trần tục.
Ui chao, lại
nhớ đến Bông Hồng Đen, và cái gật đầu, "Yes, I do" tuyệt
vời của em: Ta thương mi, vì mi muốn điều không thể.
Em phán bằng tiếng Tây, thế mới sướng một đời Gấu chứ: Je t’aime
parce que
tu veux l’impossible!
NKTV
*
Tại Sao Không Thơ?
Tại
Sao Thi Sĩ, Trong Một Thời Khốn Kiếp Như Thế Này?
Holderlin
Mở
Miệng là một nhóm thơ của một số thi sĩ sinh hoạt ở
Sài Gòn, mới đây được Viện Goethe ở Hà Nội, mời tới, để đọc thơ và
trình bầy về
thơ, tại khuôn viên viện, nhưng sau cùng, cuộc chơi này đã không thực
hiện
được, như tin tức báo chí, trong có Đài BBC.
Lẽ dĩ nhiên, có những lời giải thích của nhà nước. Nhưng lý do thực sự
của nó,
là như Hannah Arendt diễn tả, sau đây.
Thực sự, đây là một tin vui cho nhóm Mở Miệng, theo
tôi [NQT].
Và cho Goethe.
Với nhà thơ đại diện cho nước Đức tại thủ đô bốn ngàn năm văn hiến, nếu
không
có sự can thiệp kịp thời của nhà nước Việt Nam, suýt tí nữa, ông đã bị
"bôi bẩn" (1) rồi!
(1): Chữ trong bài viết của BBC: "Nhưng cũng có nhiều ý kiến xem đây là
một sự phản thơ, thậm chí bôi bẩn văn chương."
Để
chống lại chủ nghĩa toàn trị, bạn chỉ cần nhớ, có
mỗi một điều này: Chủ nghĩa toàn trị nhất quyết không thí cho bạn một
tí tự do
nào.
Hannah Arendt: Về bản chất của chủ nghĩa toàn trị
Nguyên bản tiếng Anh: In order to fight totalitarianism, one need
understand
only one thing: Totalitarianism is the most radical denial of freedom.
*
Chẳng nói thì cũng rất nhiều người đều biết, với
một cái loa công suất lớn cỡ như BBC, ảnh hưởng của nó lẽ dĩ nhiên
không nhỏ.
Trong một bài tạp ghi viết về Solzhenitsyn, Gấu tui có đi vài đường cảm
khái
như sau:
Không hiểu ngày nay, ở quê hương Việt Nam thân yêu
của chúng ta, còn có những đồng bào hong hóng chờ tới giờ phát thanh
bằng tiếng
Việt của một VOA, một BBC?
Những người dân Nga đã có thời trải qua những giờ phút như vậy, và
Solzhenitsyn
hiểu rằng, những đồng bào của ông, đâu phải ai cũng có cơ may, hoặc có
đủ can
đảm, cầm trong tay một ấn bản in lén lút tác phẩm của ông. Họ biết về
Hy Vọng
Dù Không Còn Hy Vọng, biết những sự thực nóng bỏng ở trong những tác
phẩm của
ông, những cuốn tiểu thuyết, và nhất là tác phẩm mang tính tài liệu lớn
lao của
ông, Quần Đảo Gulag: họ biết chúng, qua những tiếng còn tiếng mất, của
những
làn sóng ngắn các đài phát thanh Tây Phương.
Một linh hồn lưu vong
Thành
thử, một khi mấy ông BBC đi một câu kết luận như
trên, về nhóm Mở Miệng, là, một cách nào đó, độc giả trong nước, tôi
lập lại, độc
giả trong nuớc, sẽ "suy ra" rằng, đây là quan điểm của "thế giới"
đối với một nhóm thơ có tên là Mở Miệng, ở Sài Gòn.
Và từ "bôi bẩn" đến "phản động" chỉ là một bước ngắn.
Nếu nhà nước chưa kết luận, thì bi giờ, kết luận, và sau kết luận, biết
đâu
đấy, còn nhiều chuyện bẩn hơn nữa, sẽ được đem ra thi hành. Tôi tiên
đoán đại
như vậy, bởi vì, đến như ông Goethe kia mà còn không làm cho Mở Miệng
được mở
miệng, thì số phận của nhóm này, theo tôi, đã được an bài!
Vả chăng một trường phái thơ, khi vừa mới ra lò, thường là ngược lại
với thói
quen thưởng ngoạn. Trước Mở Miệng, cũng tại Sài Gòn, nhóm Sáng Tạo, với
món Thơ
Tự Do, đã từng bị đánh phá tơi bời. Hồi đó, may cho nhóm, là chưa có
nhân viên
Việt Nam
nào làm cho BBC mà lại còn kiêm thêm nghề phê bình thơ, như bi giờ.
Còn nữa, giả thử như đúng là sự thực, nhóm Mở Miệng Bôi Bẩn Văn Chương,
thì,
như vậy cũng còn đỡ hơn là suy tôn Lãnh Tụ, ca ngợi Đảng, như tôi đã
từng đưa ý
kiến ý cò, nhằm giải thích thói ưa văng tục ở trong thơ, ở trong nước.
Chính vì không muốn ca tụng Đảng ca tụng Bác, không muốn chạy trốn vào
ma túy,
vào đánh quả, vào buôn lậu, không muốn làm một tên tà lọt... mà
mấy nhà
thơ trẻ ở trong nước đã văng tục tùm lum tà la như hiện nay.
[Tuổi Bụi 5]
*
Bàn thêm về:
1. “Rất nhiều người”.
Có khi quan điểm của rất nhiều người lại không bằng, chỉ một người. Thí
dụ,
trường hợp Solzhenitsyn: Ông được coi là một người chống lại rất nhiều
người,
có thể nói, hơn một nửa nhân loại, khi nói không với chế độ Cộng Sản.
2. “Bôi bẩn”.
Vẫn ông Solzhenitsyn trên, khi bị phê bình bôi bẩn chế
độ, đã trả lời: Nó bẩn đến như thế làm sao bôi bẩn hơn được nữa?
Hay như Nguyễn Chí Thiện, ngày sinh nhật Bác, thay làm
thơ ca tụng, thì đi ị!
Hay Nguyễn Huy Thiệp, nhét bẩn vào miệng sĩ phu Bắc Hà!
Tôi sợ rằng nhóm Mở Miệng mô phỏng NHT: Có khi thơ,
cần được bôi bẩn như thế, thì mới sáng ra, sạch ra, và... thơm ra, cũng
nên!
*
Nếu trí nhớ không phản bội Gấu, nhà thơ Brodsky
có lần ví von, hồi ức chính là cái đuôi mà con người đã mất đi, trong
tiến
trình tiến hoá của nó. (1)
Ngày xưa, nó đã từng là một con vật có đuôi.
Nhưng cái đuôi mà Thế Giang nói tới, trong Thằng Người Có Đuôi, không
giống cái
đuôi mà nhà thơ Nga ví von. Nó là ám ảnh của một chế độ, ăn sâu vào
tiềm thức
một con người, và nhiều khi, cho dù đã thoát ra, hành động của họ,
tưởng là
hoàn toàn tự do, nhưng không phải vậy. Vẫn do cái đuôi quyết định.
Gấu đã từng gặp một trường hợp như vậy.
Trong một bài viết, ngắn, khi nghe tin Tố Hữu mất, khi được đăng, đọc
lại, Gấu
thấy mất "một" chữ.
Ngạc nhiên quá, hỏi lại, thì ra, người biên tập đã bỏ đi hồi nào, chính
người
đó cũng ngạc nhiên tự hỏi, tại sao một tình trạng "vô thức" như thế lại
xẩy ra?
Ông ta đúng ra là không nên đứng kế bên lãnh
tụ.
Đang
loay hoay viết về Nguyễn Tuân, được tin Tố Hữu
mất, tôi cứ lẩn thẩn tự hỏi, không hiểu có bức hình nào chụp tác giả
Tàn Đèn
Dầu Lạc, tức Nguyễn Tuân, đứng kế bên Mặt Trời Chân Lý Chói Qua Tim,
tức Tố
Hữu, trong một dịp đại lễ nào đó?
Hay "tệ" hơn nữa, đứng kế bên ông Hồ?
Tố Hữu
Chữ "tệ" đã bị "cái đuôi" tự động
bỏ đi.
Thành thử câu cuối trong bài viết kia ["Nhưng
cũng có nhiều ý kiến xem đây là một sự phản thơ, thậm chí bôi bẩn văn
chương."], là do cái đuôi tự động thêm vô, như một tố cáo [hay, tự
hào?],
ta đã ra đi từ chế độ đó, và như một đảm bảo, cho mỗi lần tạt về.
(1) Memory, I think, is a substitute for the tail that
we lost for good in the happy process of evolution. Joseph Brodsky:
Less Than
One.
*
Phụ lục
Nguyên văn bài viết trên BBC
Buổi gặp nhóm Mở Miệng bị ngừng lại.
Chương trình giao lưu với một nhóm thơ trẻ tại Viện Goethe Hà Nội dự
kiến diễn
ra tối nay đã bị ngừng lại vì không được sự chấp thuận của Bộ Văn hóa
Thông tin
Việt Nam.
Viện Goethe nơi hỗ trợ hợp tác văn hóa của Đức dự định tổ chức một buổi
giao
lưu với nhóm thơ trẻ "mỡ Miệng" trong khuôn viên của viện.
Nếu được diễn ra, đây sẽ là lần đầu tiên nhóm này được phép có buổi đọc
thơ
chính thúc trước công chúng. Tuy nhiên, một công văn của Bộ Văn hóa
Thông tin
đã được gửi đến cho Viện Goethe và Bộ Ngoại giao Đức đề nghị ngừng
chương
trình.
Nhà thơ Lý Đợi, một thành viên của nhóm Mở miệng, nói với
đài BBC
rằng anh được đọc công văn [yêu cầu ngưng lại] này, trong đó nêu ba
lý do.
"Lý do thứ nhất là để duy trì tốt đẹp quan hệ ngoại giao Đức -
Việt."
"Thứ hai, để bảo đảm sự thuần khiết và thanh danh của nhà thơ vĩ đại
Goethe,
người mà Viện đã dùng để đặt tên."
"Thứ ba, nhóm thơ Mở Miệng là một nhóm không nghiêm túc, có những tác
phẩm
thậm chí dung tục".
Được biết sau buổi họp giữa đại diện của Bộ Văn hóa và Viện Goethe sáng
nay,
Viện Goethe đã gửi thông báo ngưng chương trình đến các khách mời.
Trong thông báo cáo lỗi, Viện Goethe nói, họ vẫn đăng tại trang web của
viện
một bài viết về nhóm Mở Miệng với hy vọng người đọc "tìm thấy ở đây
những
quan điểm có tính học thuật về một trào lưu sáng tạo - dù còn mới manh
nha và
gây tranh cãi, và chính thế, - rất nên được đưa ra đối thoại."
Nhóm Mở Miệng gồm khoảng 4, 5 người như Bùi Chát, Lý Đợi, Khúc Duy...
xuất hiện
khoảng hai năm trở lại đây như một phản ứng trước điều mà theo họ là sự
trì trệ
trong thơ Việt Nam.
Trong một bài viết mang tính tuyên ngôn của nhóm, "Thơ và chúng tôi
không
làm thơ", Lý Đợi viết:
"Chúng tôi không làm cái gì quá cao cấp, quá dung tục hay lập dị, bởi
chúng tôi vẫn nghĩ rằng bên dòng thẩm mỹ chính thống đại trà, đã/đang
tồn tại
một thứ thơ khác - thơ của chúng tôi/thẩm mỹ của chúng tôi, thẩm mỹ của
những
người mải mê làm thơ, chứ không phải của những nhà phê bình hay đạo
đức, luân
lý hay xã hội học".
Nhưng cũng có nhiều ý kiến xem đây là một sự "phản thơ" thậm chí bôi
bẩn văn chương."
Note:
Post lại bài viết
cũ, trong khi chờ đợi viết bài mới về trường hợp DQ (1)
(1) DQ, tên bài viết của Sontag, về Don
Quixote, còn là tên tắt của thi
sĩ của trường ca DQ
Tks. DTH.
NQT
Moon Palace: Cung Hằng?
Mẽo, sau
Faulkner, Hemingway, là chấm hết với Gấu. Cũng thế, với Tây mũi lõ là
Camus.
Những tác giả
sau họ, không phải Tây, Mẽo.
Cái tít Cung
Hằng cũng được đấy chứ? Để nguyên Moon Palace, sợ dân Mít dịch ra thành
Bắc Bộ
Phủ thì thật tai hại!
*
MP
không dịch được vì là tên riêng, tên một cái quán ở Chinatown. Dĩ
nhiên, lý do
này là chưa đủ, vì có dịch ra thì cũng không sao, một cái tên quán. Lý
do thứ
hai mới quan trọng:
Nhân
vật coi hai chữ "o" trong từ "Moon" là hai con mắt của bầu
trời nhìn xuống, trong một cơn hoang tưởng. Mất từ "Moon" là mất đi ý
nghĩa thị giác quan trọng và có ý nghĩa cốt yếu trong mối quan hệ giữa
nhân vật
và mặt trăng.
Tks. Đang đọc, trên đường đi thăm LP. NQT
Một đêm ngao
du với Vũ Ngọc Giao
Nhân bài viết,
Gấu cũng lăm le đi một đường về Vú Ngọc Giàu!
Và những ngày lê lết Bà Lê Chân!

Thời
của chúng ta, đâu có thứ ghế sang như thế này!