Ghi chú
trong ngày
Văn học trước hết là văn
bản
NHQ
Bài
viết này, GNV đọc lâu rồi,
nay Thầy Cuốc đem xào lại, cũng được thôi, nhưng, nếu xào lại như vậy,
thì phải
sửa đi 1 vài chỗ. Thí dụ, một ông nghe đâu cũng làm thơ, thì mất công
chi để mà
lôi ra xài xể?
Thứ nữa, và điều này thật
quan trọng, Thầy viết bài này là để đề cao tinh thần, muốn phê bình ai,
thì phải
đọc người đó đã, rồi mới có quyền phê bình.
Chính trong tinh thần này,
cho thấy, giả như có đọc VP, thì cũng khó mà phê bình ông.
Rõ ràng là, Thầy Cuốc ‘chưa từng
đọc VP’, dù viết cả 1 cuốn sách về Người!
Bỏi vì, trong bài viết, Thầy
Cuốc chỉ tra vấn những người chê VP, là đã đọc bộ TQVH chưa, mà dám chê?
Theo GNV, giả như có đọc VHTQ
của VP, thì lại càng nên chê VP. Đây là bộ sách tệ hại nhất của VP.
Trường
hợp VP, quả là 1 thiệt
thòi cho ông, bởi vì, nhiều người khen ông quá, nhưng chẳng ra làm sao
cả, và
nhiều người chê ông quá, như trong bài của Thầy Cuốc nêu ra, thí dụ,
và, cũng chẳng
ra làm sao cả.
Nói rõ
hơn, theo GNV, chưa từng
có ai viết đúng về ông, và chính cái thái độ bè phái, xúm nhau lại nâng
bi ông,
khiến giả như có người nào thực sự muốn viết về ông, bèn nản.
GNV này
đã từng có tham vọng
viết về VP, nhưng chỉ chú trọng vào những truyện ngắn của ông. Chỉ ở
trong đó, đủ
để phân biệt hẳn ra 1 nhà văn VP, khác tất cả những nhà văn Mít khác,
và điều này
mới thật quan trọng, truyện ngắn của VP manh nha đưa ra 1 anh Mít khác
hẳn thứ
Mít Bắc Kít, đáng yêu hơn nhiều, nhiều phần đáng tha thứ hơn nhiều so
với 1 anh
Mít Bắc Kít!
Hà, hà!
*
V/v Văn
bản. Liệu có cần đọc
1 bản văn, khi phê 1 tác giả?
GNV
nghĩ, được! Nhiều khi đếch
cần đọc, cũng tha hồ phê, rất rành rọt về 1 tác phẩm văn học, cỡ Gulag của Solz!
Chứng
cớ:
Và tôi nghĩ tới Solz: Ông lớn
này là 1 nhà đại tiểu thuyết gia? Làm sao tôi biết được? Tôi chưa hề
đọc 1 cuốn
sách nào của ông. Những lèm bèm tối ngày của ông ta về xác định vị trí
(mà tôi
vỗ tay tán phục sự can đảm) làm cho tôi tin rằng tôi thừa biết tất cả
những gì ông
ta viết ra!
Et je
pense à Soljenitsyne. Ce grand homme était-il un grand romancier?
Comment
pourrais-je le savoir? Je n'ai jamais ouvert aucun de ses livres. Ses
retentissantes prises de position (dont j'applaudissais le courage) me
faisaient croire que je connaissais d'avance tout ce qu'il avait à dire.
Kundera: Une rencontre
Cái cách đọc “cóc nhẩy”, và, sự kiện, chưa
hề ngốn hết, dù chỉ 1 cuốn, của bất cứ một tác giả, của Borges, cho
thấy, nhiều
khi bạn chỉ cần đọc 1 câu thôi, là đã quá rành về 1 tác giả. (1)
Và
ngược lại, bạn nuốt sạch sách
của thư viện nhân gian, vưỡn là 1 tên vô
học.
Chứng
cớ rõ rệt nhất, là trường
hợp VP: hầu hết những đấng nâng bi ông, đọc hết tác phẩm của ông, có
đấng nào đọc
ra ông đâu?
Lần GNV
viết về VP, là theo
order của NMG, khi Gấu làm 1 tay viết mướn cho tờ Văn Học. Ông chủ
ra lệnh
thì phải viết, nhưng theo chủ quan của Gấu, đó là 1 bài có tham vọng mở
ra 1 hướng nhìn thật tuyệt về ông, khi so sánh ông với Zweig.
Quá đúng. Nếu chỉ nói về văn
phong, về nhân vật, về ám ảnh nội tâm, về ‘con quỉ của sự tò mò’…
Tuyệt hơn nữa, gọi VP nhà văn
Bình Định, là đặt ông vào cái thế của Zweig, nhà văn Âu Châu, và
cái
chết vì tự tử là lời cảnh báo nóng bỏng toàn nhân loại, trước chủ
nghĩa
Nazi, và tội ác Lò Thiêu nó gây ra cho Do Thái, cho Âu Châu, qua cuộc
Đệ Nhị
Chiến.
Hơn hơn thế nữa, còn gợi ra điều mà Đông Phương gọi là ‘địa linh nhân
kiệt’.
Một địa linh Bình Định, đã
sản xuất ra biết bao đấng tài hoa, trong có VP, là 1 chửi bố cái gọi là
‘phi
tâm hóa’ gì gì đó, và còn cho thấy sự nổi dậy của biên cương so với 1
trung tâm
văn hóa tàn tạ là Bắc Kít, là văn minh Sông Hồng, với Hà Lội còn chỉ
toàn những kẻ
nói ngọng!
Sự
thực, nói Thầy Cuốc đọc không
ra VP, cũng không đúng, bởi vì Thầy đọc VP thì ít, nhưng đọc những
người khác,
thì nhiều! Nói rõ hơn, Thầy chỉ mải khoe, những đại thụ mà Thầy đã từng
ghé mắt,
nào Roland Barthes, nhất là Barthes, đúng hơn, với những cái gì gì
‘biểu
đạt’,
signifier, ‘cái được biểu đạt’ [?], signified…
Mấy bửu bối này thì dính
dáng gì đến thứ văn chương đặc sản Bình Định của VP?
GNV
cũng đã từng bị rớt đúng
vô tình trạng này khi đọc Đỗ Long Vân, nhưng có khác 1 chút: Thời gian
đó, cả
hai DLV và GNV đều mê Roland Barthes, và thay vì đọc "Nguồn nước ẩn", Gấu
này lôi Thầy của cả hai ra để khen lấy khen để. Và chính DLV đã nhận ra
điều này,
qua câu phán của ông, lần cả hai gặp nhau ở Quán Chùa (1)
(1)
Buổi sáng đó, Đỗ quân rời
núi, tới chùa (quán Cái Chùa, ở đường Tự Do, Sài-gòn); khi một người
nào đó,
cùng ngồi bàn, nhắc tới bài điểm sách, và cho rằng, đây là những lời
khen tác
giả Nguồn Nước Ẩn, ông nhìn tôi, cười: Bạn ơi, bạn đâu có khen tôi, mà
là khen
Roland Barthes.
Tưởng niệm DLV
Trường
hợp đọc, chỉ 1 câu, mà
trở thành nhà văn nhớn, tiếu lâm thay, rớt trúng vô GNV!
Trong
khi ông Tẩy mũi tẹt chuồn
thật lẹ qua Paris, ngồi cà phê Les
Deux Magots, dịch Camus như máy, và gửi cho
Trần Phong Giao đăng từng kỳ trên tờ báo của những người ham đọc và ưa
suy nghĩ
[thương hiệu của tạp chí Văn hồi đó], trong khi ông nhà văn Mít Butor,
chưa đẻ
ra là đã ghi tên giữ chỗ ở 1 trường của Tây, do Tây dậy, ở Sài Gòn, thì
anh cu
Gấu làm bồi bàn ở tiệm chả cá Thăng Long, mơ 1 ngày sẽ biết tiếng Tây,
chỉ để
viết được 1 cái lá thư bằng tiếng Tây, để cám ơn 1 tên Tẩy thực dân, đã
nhìn ra
nó, đã khám phá ra nó, đã nuôi nó, để cho nó khỏi chết đói, và cho nó
đi học, ở
trường Nguyễn Trãi Hà Nội, cho đến 1954 chia đôi đất nước.
Và
chính trong những
ngày mới lớn đó, ở trong 1 thành phố nhớ 1 thành phố, khác, GNV tình cờ
đọc cọp Bếp Lửa trên vỉa hè
Sài Gòn, tình
cờ vớ
được, chỉ 1 câu của Camus, tôi lớn lên cùng với những người cùng tuổi,
trong tiếng
trống trận của Đệ Nhất Thế Chiến, và lịch sử từ đó, chỉ là sát nhân,
bất công và
bạo lực: câu văn mặc khải mở ra nỗi lo âu sao xuyến, cùng hy vọng
mong manh
mơ hồ, liệu có ngày trở thành nhà văn, và chỉ đến khi đọc 1 câu của
Sartre, cớ
sao sợ hãi 1 thế giới đều đặn, bình thường như vậy, thế là cảm thấy
khỏi bịnh,
và bắt đầu… viết!
Thầy
Cuốc đâu có thực sự có 1 âu lo xao xuyến…
viết, như thế đó?
Thầy
viết về ai, thì cũng chỉ
để khoe Thầy. Thầy đâu có viết về 1 tên cha căng chú kiết, mà phải là
về Trùm Sáng
Tạo, hay Trùm cõi văn Mít ở cả trong nước, trước 1975, và ở cả hải
ngoại, như
Ngài Tiên Chỉ VP cơ! Nếu Thầy có ngó xuống, thì phải là 1 thằng, hay 1
em đàn
em thường viết cho Hậu Vệ!
Person of
the Year 2010 &
The
Holocaust We Don’t See
The Fading Dream of Europe
Pamuk
Julian
Assange's short-sighted book deal
Tớ
không muốn viết, nhưng tớ
cần tiền quá!
Nadine
Gordimer's essays and
stories
Citizen of the world
ANDREW
VAN DER VLIES
Nadine
Gordimer
LIFE TIMES
Stories, 1952-2007
549pp. Bloomsbury.
£30.
TELLING TIMES
Writing and
living, 1954-2008
742pp. Bloomsbury. £35.
"The creative act is not
pure", Nadine Gordimer observed in 1985 in her important essay, "The
Essential Gesture", its title echoing Roland Barthes's suggestion that
"a writer's 'enterprise' - his work - is his 'essential gesture as a
social being'''. "History evidences it. Ideology demands it. Society
exacts it", Gordimer continues. The writer discovers that she does not
write in a vacuum or utopia, an "Eden
of creativity", but is required to be a social being, to answer the
call
of conscience when it comes. For Gordimer, born in 1923 in a
gold-mining town
near Johannesburg, this meant, for the longest stretch of her long
creative
life, bearing witness to the particular horrors and absurdities of
South
Africa' apartheid regime. This witnessing, she suggested in a speech
delivered
in Israel in 2006 (and collected in Telling
Times) involved "trying for the meaning" in what she observed,
"transforming ... into stories ... what were everyday incidents of
ordinary life for everyone around me".
Trên đây là đoạn mở ra bài
điểm
hai cuốn sách mới ra lò của Nadine Gordimer trên tờ TLS, số 3 Tháng
Chạp 2010.
“Hành động sáng tạo thì không
trinh nguyên, trong trắng”, Nadine
Gordimer nhận xét vào năm 1985,
trong
bài tiểu luận quan trọng, “Cử chỉ thiết yếu”, cái tít này là muốn nhắc
tới 1 đề nghị
của Roland Barthes's, theo đó, “’công trình’ của
nhà văn – tác phẩm của người đó – thì là một cử chỉ thiết yếu, như là
một con người
ở trong xã hội”. “Lịch sử hiển nhiên điều này. Ý thức hệ đòi hỏi điều
này. Xã hội
làm đúng điều này”, Gordimer tiếp tục. Nhà văn khám phá ra, bà không
viết trong
quãng không, hay trong không tưởng, ‘Vườn Địa Đàng của sáng tạo’, mà bà
được yêu
cầu làm 1 con người ở trong xã hội, trả lời tiếng gọi của lương tâm khi
nó tới….
Books Of The Year

RAYMOND
TALLIS
RAYMOND
TALLIS
Varlam
Shalamov's Kolyma Tales (Penguin) about life in a
Soviet forced-labor camp, where 3 million people died and Shalamov
spent
seventeen years, explores a boundless desert of misery without hope or
redemption. Starvation, hunger, casual murder, illness, bone-freezing
cold, and
unending brutal labor are the material from which he crafted his
brilliant
stories that Solzhenitsyn felt were closer to the bestial truth of the
Gulag
than his own writings.
Czeslaw Milosz recalled how
the writer Tadeusz Borowski "smiled contemptuously at mental
speculation
for he remembered seeing philosophers fighting over garbage in the
camps".
If, however, "mental speculation" is ever justified, then Quentin
Meillassoux's After Finitude (Continuum)
most certainly is. It is a penetrating critique of the post-Kantian
"correlations"
that has dominated philosophy on the European mainland over the last
250 years.
Welcome, Meillassoux says, to "the Great Outdoors" beyond the mental
prison of philosophical idealism.
Sách trong năm 2010
RAYMOND
TALLIS , một
trong 65 tác giả, trên TLS 3 Dec 2010, chọn Những câu chuyện ở trại tù Kolyma,
của Varlam Shalamov.

Kolyma là
nơi được coi là lạnh nhất trên hành tinh. Một trong những trò chơi của
du khách
khi tới đây là cầm một chai nước vẩy lên trời, và nước tụ lại thành
băng, trước
khi kịp rơi xuống mặt đất!
Nhà thơ Osip Mandelstam của Nga, bị đầy tới đây, nhưng
trên đường đi, chưa kịp tới, thì đã bị chết, ở 1 trại tù chuyển tiếp.
Shalamov,
tác giả Những câu chuyện ở trại tù Kolyma, đã từng ở
trại 17 năm, nơi 3 triệu người tù đã bỏ mạng. Ông coi trại tù Gulag của
Solz là
thiên đường, so với Kolyma. Còn Solz,
như trên,
thú nhận, trại tù của tớ chẳng thấm gì so với của cậu!
*
Top 5: Istanbul, bản
tiếng Việt, by NQT
Albert Camus, ou
l’inconscient colonial
Văn học hải ngoại (3): Phi
tâm hóa
Note:
Loạt bài này của Thầy Cuốc nhảm quá.
Trung
tâm văn học hải ngoại đâu
phải là 1 nơi chốn có thực, mang tính địa lý. Nó là 1 trung tâm ảo,
nhưng
lúc nào
cũng hiện diện ở trong ý nghĩ, tư tưởng, đời sống của người Việt hải
ngoại, và
đó là Sài Gòn. Ngay khi Sài Gòn mất tên là thành phố ảo này xuất hiện.
Ngay cả
khi Cali
còn đủ các thứ báo giấy, thì những bài viết cũng từ tứ xứ dồn về.
Cùng
với sự xuất hiện của
những nhà văn ra đi từ miền Bắc, ở trên báo Cali, thí dụ, cho thấy, cái
gọi
trung tâm văn học hải ngoại muốn ôm luôn cả Hà Nội vô cùng với nó. Hai
thành
phố ảo, Sài Gòn, Hà Nội làm thành trung tâm văn học của xứ Mít, thay
thế hai
nơi chốn có thực, một mất, một còn.
Những vấn nạn mang tính “tâm
linh” như thế này, Gấu sợ Thầy Cuốc chưa từng nghĩ tới!
Đây là
do Thầy Cuốc chưa từng
"viết văn", nên không hiểu được.
Không chỉ riêng Thầy Cuốc, mà bất
cứ ai thuộc loại nhà văn đởm, là đều không bị cái thành phổ ảo đó
nó ám,
đến không sao rũ ra được.
Mà rũ làm khỉ gì cơ chứ!
Thứ dởm
đều bò về hết, là thế!
Không
chỉ bò về, mà còn bò về
hẳn Hà Lội, khóc ròng trước hai lỗ đạn Tây để lại, nữa kià!
“Chỉ nhớ Gòn thôi, đủ hết
đời”,
DTL chẳng đã từng phán?
Cái sự
hấp hối, rồi chết, của
báo giấy, và báo net thay thế nó, là đúng theo đường lối tiến hoá của
văn học
hải ngoại. Bước tới của nó, sẽ là 1 thứ văn học net song ngữ, như trang
TV hiện
đang “thử nghiệm”, cái công việc “cần”, tức là dịch những tác giả nuớc
ngoài tới
độc giả Việt, cả ở trong lẫn ngoài nước. Gấu tin rằng, sẽ có những
trang net
làm cái công việc "đủ", nghĩa là giới thiệu văn học Mít ra thế giới,
với hai ấn bản song song!
Chính là do mơ hồ tưởng tượng ra giấc mơ
"biến trung tâm ảo thành hiện
thực" mà ngay khi Chợ Cá xuất hiện, ngay khi báo Vẹt vừa ra mắt, là đã
có Gấu Nhà
Văn xung phong làm 1 tên lính đánh mướn không có lương rồi!
Một tên viết mướn chuyên nghiệp như hắn ta,
viết văn từ khi đám "đó đó",
còn thò lò mũi xanh, hoặc có khi, chưa ra đời, dễ gì hạ mình như
vậy, nếu không vì giấc mơ làm
lại cái cú
30 Tháng Tư, thứ thiệt, ở hải ngoại ?
[Ui chao, lại tự thổi rồi !]
Nhân
tiện, nói thêm. TV không
phải là 1 diễn đàn văn học hải ngoại. Thầy Cuốc vờ nó, cám ơn Thầy,
nhưng không
lẽ hải ngoại, trước đây, chỉ có talawas và Tiền Vệ, và bây giờ, chỉ còn
lại Tiền
Vệ và Da Màu?
Những diễn đàn như Gió O, không lẽ không xứng đáng được Thầy nhắc tới?
Viết
như thế, đệ tử phục Thầy,
đương nhiên, Thầy mình mà, nhưng làm sao độc giả của Thầy phục Thầy?
Bữa
trước thấy Thầy xuất hiện
trên “Tôi là người Việt Nam”, thì cũng được thôi, đâu phải người Việt
nào cũng
hân hạnh được trung tâm Thúy Nga vời tới, hay mò tới phỏng vấn. Nhưng
khi đã “nguội
điện”, Thầy bèn “hâm nóng”, nhưng thêm vô
tí đuôi, đúng ra tôi nhắc tới nó liền, vì đây là 1 đề tài lớn, nhưng
lại ngại
quảng cáo không công cho TN! (1)
Viết
như thế thì đúng là đá giò
lái cho TN 1 phát!
Bởi vì khi Thầy nhận lời phỏng vấn, nhận lời xuất
hiện, thì
không có nghĩa quảng cáo cho TN, mà chỉ cho… Thầy?
(1)
Đầu năm 2010,
Trịnh Hội về Úc, mang máy móc đến văn phòng của tôi ở đại học
để phỏng vấn vài câu cho cuộn băng ca nhạc về chủ đề “Tôi là người Việt
Nam”.
Thời gian giới hạn, tôi không nói hết được ý nghĩ của mình. Cảm thấy đó
là một
đề tài hay nên xin viết thêm một ít. Vả lại, cuốn băng ra đã khá lâu,
có viết
về điều này thì cũng không bị mang tiếng là quảng cáo cho một cơ sở
thương mại,
điều tôi chẳng muốn chút nào.
Source
Câu văn
trên, ở 1 người có chút
khiêm tốn tự trọng, họ viết khác.
Thí dụ:
“Vào đầu năm 2010, TH
về Úc, có ghé thăm tôi, và có thể, tiện dịp, bèn làm 1 cú phỏng vấn cho
show của
TN hiện đang thực hiện. Phỏng vấn ư, tôi là người Việt Nam ư? Hay đấy,
thế là bèn
gật đầu.”
Nay, thấy vưỡn còn có nhiều điều
muốn lèm bèm thêm về đề tài khẩn thiết, và cũng thật thú vị này!
Nhưng,
nếu viết như thế, thì
lại không còn là Thầy Cuốc!
18.12.2010
(3) Ví dụ trường hợp Trần Hoài
Thư, Ngụy
Ngữ có truyện đăng trên Vấn Đề, Văn lẫn Bách Khoa và cả trên Trình bày,
Đối
Diện nữa.
CHK
(Chú thích của TQBT: Nhà văn THT không hề viết cho Đối
Diện. Xin nói lại cho
đúng).
Phụ chú thích của GNV: CHK
không hề để cái
tít “nhà văn” trước THT, có thể là vì ông nghĩ không cần thiết, hoặc để
độc giả
thêm vô.
Nhưng "nhà văn" THT phán, NO!
Đối Diện, Trình Bày, Tin Văn
[của Nguyễn Ngọc Lương]… là những tờ báo có đường lối giao lưu hòa
giải, nghĩa
là thân VC, có VC nằm vùng nằm trong tờ báo. Một ông nhà văn cầm súng
chiến đấu
vì 1 Miền Nam
tự do không VC, như THT, làm sao viết ở đó? Thành thử cái việc nói lại
cho đúng
là đúng. Và như thế càng cần 1 cách nói quang minh chính đại, thí dụ:
Tao, nhà
văn, nhà lính THT, đính chính, trước 1975 chưa hề viết cho đám VC nằm
vùng, như
Đối Diện. TQBT, thì cũng là ông THT, nhưng ở đây phải mang căn cước
Ngụy, không
phải chứng minh nhân dân, hộ khẩu thường trú ra, để mà nói lại cho đúng.
Có người có thể nghĩ GNV này
có gì thù oán, hiềm khích đố kỵ, với, thí dụ NMG, THT, NMT…. Không
phải. Nghe nói
THT ngoài đời chơi cũng bảnh lắm! Bạn của Gấu nhiều tay là bạn của ông,
và, giả
như tình cờ gặp gỡ, thì cũng coi như là bạn, khác hẳn những ông hèn hạ,
đố kỵ,
thù hằn GNV chỉ vì tâm địa đốn mạt.
Khác nhau nhiều lắm.
Ở hay về?
Trịnh Y Thư
Brodsky
kết luận bài viết của
ông, Phận Lưu Vong, The Condition We Call
Exile:
A freeman, when he fails, blames nobody.
Một
người tự do, khi thất
bại, không đổ vạ cho bất cứ ai.
Đây là bài đọc của ông trước Wheetland Conference, Vienna,
Tháng 11, 1987.
Đoạn mở
ra bài nói chuyện của ông mới ấm lòng Mít làm
sao:
Chúng ta tụ tập nơi đây,
trong phòng ốc sáng trưng, quyến rũ như thế này, để bàn về số phận nhà
văn lưu
vong, the plight of the writer in exile, chúng ta hãy im lặng một phút,
để nghĩ
tới một vài người không có mặt ở phòng này. Hãy tưởng tượng, thí dụ,
những người
di dân Thổ nhĩ kỳ đang lang thang trong những con phố ở Tây Đức; thật
xa lạ nhưng cũng
thật thèm muốn đối với họ, là thực tại chung quanh. Hay hãy tưởng tượng
những thuyền
nhân Việt Nam
đang chới với ở đầu sóng dữ, nơi biển cao, hay đã được
ổn định
nơi trại tạm cư….
[Cho dù
bạn dùng bất cứ một thứ tiếng nào để gọi hiện
tượng này,
di dân hay gì gì đó], có điều này, là tuyệt đối hiển nhiên: thật rất
khó khăn đối
với họ, khi nhìn thẳng mặt vào người đối diện để nói về số phận nhà văn
lưu
vong [one thing is absolutely clear: they make it very difficult to
talk with a
straight face about the plight of the writer in exile.]
Tuy
nhiên, không thể không nói
về số phận lưu vong của nhà văn, bởi vì không chỉ vì văn chương, và,
văn chương,
thì cũng giống như sự nghèo đói, nó có thói
quen tự lo
cho nó; nhưng còn là bởi vì, từ ngàn xưa, chúng ta có niềm tin, chẳng
có cơ sở
nào để mà kiểm chứng, rằng, nếu những sư phụ của thế gian này được
truyền tụng rộng rãi, thì nỗi khổ đau giáng xuống những kẻ cơ
cực được dịu
đi…
[Yet talk we must, and not
only because literature, like poverty, is known for taking care of its
own
kind, but mainly because the ancient and perhaps as yet unfounded
belief that,
were the masters of this world better read, the mismanagement and grief
that
make the millions hit the road could be somewhat reduced.]
BATTLING FOR CHINA'S SOUL
Who can
best hold off the
hard-liners: the country's most eminent writer or its Nobel Peace
Prize-winning dissident?
Jianying Zha reports from Beijing
Servant of the State
Is Chinas most eminent writer
a reformer or an apologist?
BY JIANYING ZHA
Note:
Nhân vụ ‘dọn mình để về’
của nhà văn nhớn lưu vong Mít, TV giới thiệu bài viết trên The New
Yorker: Văn
Nô
*
V/v
Solz ‘chán ghét Tây Phương’
như ông nhà văn nhớn Mít TYT viết. Quả có chuyện này, nhưng trên thực
tế, nó không
đơn giản như tay này nói, và những người ăn mừng, khoái chí vì cái sự
chán ghét
Tây Phương, và Tây Phương không chịu nổi Solz, là đám Trùm Liên Xô ở
Điện Cẩm
Linh. Remnick, trong bài viết Lưu
Vong: Solz ở
Vermont, được in trong
Reporting, gồm những
bài viết đăng trên The New Yorker, có
trích
dẫn 1 memo của Andropov, Trùm KGB, gửi Hội Đồng Bộ Trưởng, đề ngày 4,
Tháng Giêng,
1976, báo cáo, rất mừng vì chuyện Solz hết còn được Tây Phương quan
tâm, và cho
biết thêm,
có công lao của KGB ở trong đó, [that KGB had helped promote, through
its
agents and contacts, ‘matetrial useful to us’ condemning Solz and his
‘class-based
hatred of the Soviet power’…].
Trong cuốn Reporting, David Remnick dành hai bài
cho Solz; một, Lưu vong: Solz ở Vermont,
và một, Deep in the wood: Solz in Moscow, về Solz
khi trở về.
Trong bài viết về Brodsky, GNV này
cũng đã nhắc tới sự
kiện này: Sự không trở về Nga của Brodsky tương phản với Solzhenitsyn.
Nhưng có
một thời cả một chế độ và bộ phận đầu não của nó là Bộ Chính Trị đã run
sợ
trước một cá nhân Solzhenitsyn. Tầm vóc anh hùng và sự ám ảnh ông gây
ra cho
họ, những con người bên trong Điện Cẩm Linh, có lẽ không một nhà văn
nào sánh
nổi, nhất là ảnh hưởng của nó trong lịch sử hiện đại. Cả nhân dân
Nga-xô và
Tây-phương đều không chịu nổi Solzhenitsyn, về bộ râu của ông, còn dị
hợm hơn
cả của Dostoevsky, về sự quan trọng và luôn cả tự coi mình là quan
trọng, nhưng
trên hết vẫn là thái độ không khoan nhượng với cả chủ nghĩa Cộng-sản
lẫn Dân
chủ hiện đại. Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Liên-xô chẳng những không chịu
nổi mà
còn tỏ ra khiếp sợ. Ngày 23 tháng 6 năm 1992, khi B. Yeltsin ký sắc
lệnh huỷ bỏ
tất cả những điều luật vẫn được dựa vào đó để bách hại đám đông và vi
phạm nhân
quyền, sắc lệnh này đã đem hồ sơ mật của Solzhenitsyn ra trước ánh
sáng. Và
người ta mới thấy được sự xuẩn ngốc, nỗi khiếp sợ của Bộ Chính Trị
trước một
con người dám chống lại cả một chế độ. Trong bao nhiêu năm trời, họ
loay hoay
với câu hỏi phải làm gì với ông: Dụ dỗ, làm câm nín? Liệu sẽ thắng qua
tuyên
truyền, phỉ báng, hay là phải bắt bỏ tù? Lạ một điều ông không bao giờ
thất
vọng. Thái độ bất cần, bất cẩn của ông thật đáng nể. Ngay từ năm 1965,
ông đã
từng gọi Lênin là con rắn độc. Hơn nữa ông đã tiên đoán được ngày tàn
của chế
độ đó: "Đây là một chính quyền bị liệt, hết còn trông mong gì được
nữa." Và đây là Solzhenitsyn vào năm 1971, sau khi nhà ông bị lục soát,
ông viết cho trùm mật vụ KGB, Yuri Andropov: "Trong bao nhiêu năm tôi
đã
im lặng trước luật rừng của đám côn đồ dưới quyền ông, trước sự kiểm
tra, tước
đoạt thư từ giao dịch, dọ thám, làm tình làm tội những người quen biết,
nghe
lén điện thoại, khoét lỗ tường, đặt máy nghe lén... Nhưng sau cuộc lục
soát vừa
rồi tôi không im lặng nữa".
Không phải lỗi ở ông nếu
những tác phẩm quan trọng nhất, những năm tháng đẹp đẽ nhất đều ở sau
ông. Thế
kỷ này, câu chuyện về phẩm giá, về tư cách con người, không cá nhân nào
vươn
tới tầm vóc của Solzhenitsyn.
*
Remnick
cũng kể lại cuộc nói
chuyện giữa Sontag và Brodsky về Solz: Đó là vào Tháng Giêng 1976, tôi
có tán gẫu
khá lâu với Brodsky, và cả hai chúng tôi đều cười lớn về cái chuyện
Solz chẳng
biết tí chó nào về Mẽo, những quan điểm của ông ta về Mẽo, về báo chí,
và
tất cả
những thứ khác, thì đều sai lầm, wrong.
Nhưng rồi Brodsky phán:
“Nhưng Sontag, bạn biết đấy,
tất cả những cái gì mà Solz nói về Liên Xô, thì đều thực cả!
Đúng là
như thế đấy.
Về những con số, thí dụ, sáu chục triệu nạn nhân, đúng đấy.”
Bernard
Pivot, Tây mũi lõ,
làm chương trình văn học trên TV Pháp. D'Apostrophe, kể về lần phỏng
vấn Solz
mới thú.
Nghề Đọc
Bernard
Pivot, em-xi [MC] chương trình văn học D'
Apostrophes trên TV Tây, trong cuốn Métier de Lire, đã kể lại với nhà
báo
Pierre Nora, về những cuộc gặp gỡ giới viết văn thế giới qua chương
trình trên.
- Chương trình nào tới bi giờ vẫn còn gây ấn tượng ở nơi ông?
Hai tay nhà văn, đều là Nga cả, một, Nabokov, một Soljenitsyne, là hai
độc
chiêu [scoop] đẹp nhất của tôi. Trước ông khổng lồ, một kẻ sống sót ba
trận
"đại" hồng thuỷ của thế kỷ 20: chiến tranh, ung thư và những trại tù
cải tạo, tôi thấy mình nhỏ bé như một chú lùn. Đây là lần đầu tiên tại
Pháp,
người ta có thể tiếp cận, sờ mó, nhìn, và nghe người chứng tố cáo số
một chủ
nghĩa cộng sản Stalin, chủ nghĩa cộng sản ngắn gọn.
Cuộc gặp gỡ trên là vào tháng Tư, 1975. Mười lăm năm sau, những người
hiện diện
trong chương trình còn nhớ, Soljenitsyne đã chống lại việc người Mỹ bỏ
của chạy
lấy người tại Việt Nam, và ông đã tiên đoán, miền bắc sẽ "nắm lấy"
[mainmise] miền nam.
Người ta đã chê trách tôi, là tại sao không mời thêm một tay trí thức
cộng sản,
nhưng chẳng lẽ lại để một con rệp bên cạnh một người khổng lồ, trước
ống kính
của Lịch sử?
Thú vị nhất, theo Pivot, là người khổng lồ Soljenitsyne đã tiên đoán,
[trong
lần gặp sau đó], là ông ta sẽ sống sót, và chứng kiến chế độ cộng sản
Liên Xô
sụp đổ, và ông sẽ trở về quê hương:
Trong thâm tâm, tôi cảm thấy, tôi tin tưởng, tôi sẽ trở về quê hương,
và còn sống
nhăn." [J'ai en moi le sentiment, la conviction, que je reviendrai,
vivant, dans ma patrie".]
Tôi
[Pivot] còn nhớ phản ứng của mình: ngưỡng nể,
và
không thể nào tin nổi!
NKTV
TV,
trong những kỳ tới, sẽ
giới thiệu bài viết “Phát Ngôn Nhân và Bộ Lạc”, của nhà văn TQ,
Ha
Jin, được in
trong cuốn “Nhà văn như là một Di dân”, trong bài viết, ông nghiên cứu
trường hợp
Solzhenitsyn, sự trở về của ông, và so sánh Solz với nhà văn Lâm Ngữ
Đường của
TQ. Cách nhìn Solz của Ha Jin chắc là soi sáng nhiều cho độc giả Mít
hơn, so với
đám mũi lõ, và hơn nữa, Ha Jin cũng Mẽo mũi tẹt, như văn nhà nhớn Mít
TYT
10 Questions for Stephen
Hawking
If God doesn't
exist, why did the concept of his existence become almost universal? —Basanta Borah, BASEL, SWITZERLAND
I don't claim that God doesn't exist. God is the name people give to
the reason
we are here. But I think that reason is the laws of physics rather than
someone
with whom one can have a personal relationship. An impersonal God.
Does the
universe end? If so, what is beyond it? —Paul Pearson, HULL, ENGLAND
Observations indicate that the universe is expanding at an ever
increasing
rate. It will expand forever, getting emptier and darker. Although the
universe
doesn't have an end, it had a beginning in the Big Bang. One might ask
what is
before that, but the answer is that there is nowhere before the Big
Bang, just
as there is nowhere south of the South Pole.
Do you think our
civilization will survive long enough to make the leap to deeper space? —Harvey Bethea, STONE MOUNTAIN, GA.
I think we have a good chance of surviving long enough to colonize the
solar
system. However, there is nowhere else in the solar system as suitable
as the
Earth, so it is not clear if we would survive if the Earth was made
unfit for
habitation. To ensure our long-term survival, we need to reach the
stars. That
will take much longer. Let's hope we can last until then.
If you could
talk to Albert Einstein, what would you say? —Ju Huang, STAMFORD, CONN.
I would ask him why he didn't believe in black holes. The field
equations of
his theory of relativity imply that a large star or cloud of gas would
collapse
in on itself and form a black hole. Einstein was aware of this but
somehow
managed to convince himself that something like an explosion would
always occur
to throw off mass and prevent the formation of a black hole. What if
there was
no explosion?
Which scientific
discovery or advance would you like to see in your lifetime? —Luca Zanzi, ALLSTON, MASS.
I would like nuclear fusion to become a practical power source. It
would
provide an inexhaustible supply of energy, without pollution or global
warming.
What do you
believe happens to our consciousness after death? —Elliot Giberson, SEATTLE
I think the brain is essentially a computer and consciousness is like a
computer program. It will cease to run when the computer is turned off.
Theoretically, it could be re-created on a neural network, but that
would be
very difficult, as it would require all one's memories.
Given your
reputation as a brilliant physicist, what ordinary interests do you
have that
might surprise people? —Carol
Gilmore, JEFFERSON CITY,
MO.
I enjoy all forms of music--pop, classical and opera. I also share an
interest
in Formula One racing with my son Tim.
Do you feel that
your physical limitations have helped or hindered your study? —Marianne Vikkula, ESPOO, FINLAND
Although I was unfortunate enough to get motor neuron disease, I have
been very
fortunate in almost everything else. I was lucky to be working in
theoretical
physics, one of the few areas in which disability was not a serious
handicap,
and to hit the jackpot with my popular books.
Does it feel
like a huge responsibility to have people expecting you to have all the
answers
to life's mysteries?
—Susan
Leslie, BOSTON
I certainly don't have the answers to all life's problems. While
physics and
mathematics may tell us how the universe began, they are not much use
in
predicting human behavior because there are far too many equations to
solve.
I'm no better than anyone else at understanding what makes people tick,
particularly women.
Do you think
there will ever come a time when mankind understands all there is to
understand
about physics? —Karsten
Kurze, BAD HONNEF,
GERMANY
I hope not. I would be out of a job.
*
Nếu Thượng Đế không có, sao nhiều người hò
tên Người như
thế?
Tôi không nói TD
không có. TD là cái tên mà chúng ta gán cho lý do
chúng ta có
mặt tại đây. Và lý do này, theo tôi là những định luật vật lý hơn là
một người
nào đó mà chúng ta có liên hệ. Một TD vô ngã.
Liệu vũ trụ có điểm tận?
Nếu
có, quá điểm tận đó, là cái gì?
Những quan sát chỉ ra rằng vũ
trụ không ngừng nở mãi ra, và nếu cứ nở mãi ra đến thiên thu bất tận
như thế,
thì nó ngày một trỗng rỗng hơn, u tối hơn. Mặc dù không có điểm tận,
nhưng nó có
điểm khởi đầu là Big Bang. Có người sẽ thắc mắc, vậy thì trước Big
Bang, có cái
gì, và câu trả lời, là chả là gì, chả là đâu, trước Big Bang; y như chả
có cái
gọi là ‘là gì, là đâu’ ở phía nam của Nam Cực.
Ông có nghĩ văn minh sẽ
sống
sót đủ dai đủ dài đủ rộng để tiến sâu thêm vào không gian?
Tôi tin rằng nền văn minh của
chúng ta sẽ còn dài, còn dai, đủ để chúng ta có cơ may thực dân hóa hệ
thống
mặt trời. Tuy nhiên, chẳng có chỗ chó nào ở trong đó thích hợp với con
người như
là Trái Đất, thành thử thật khó mà trả lời cho câu hỏi, liệu chúng ta
sẽ sống sót,
một khi làm thịt xong trái đất, nghĩa là, làm cho nó đếch còn ở được
nữa!
Và để
giải quyết vấn nạn này, thì chúng ta cần chinh phục những vì sao. Hy
vọng loài
người chưa ngỏm, khi có được ngày đó!
Nếu gặp
Einstein, ông sẽ 'chát chiếc' ra
sao?
Tôi sẽ hỏi tại sao ông ta lại không tin về những hố đen. Những phương
trình về
trường của lý thuyết tương đối của ông ta hàm ngụ trong đó, rằng, một
ngôi sao
lớn hay một đám mây khí sẽ sụp đổ vào chính nó, và tạo thành hố đen…
*
Câu trả
lời của ông Hóc Kim
này về Thượng Đế, thì đúng quá, thành ra chẳng cần phải trả lời!
Chúng ta cần Thượng Đế, quá cả câu trả lời của ông ta, đúng theo cái
nghĩa, ‘sau
phía Nam
của Nam Cực thì chẳng có cái chó gì’của chính ông ta!
Hà, hà!
Trên TV
hình như có lần trích dẫn 1 tay mũi lõ nào đó, Einstein là
nhà khoa học của nửa đầu thế kỷ, 1 phần là do ông tin vào định mệnh
thuyết, nghĩa là tin có Thượng Đế, và câu trả lời câu hỏi về
Einstein của Hóc Kinh cho thấy điều này, nghĩa là, Einstein, có thể
biết, rằng, có thể không có TD, nhưng vẫn phải có niềm tin về một Đấng
như thế, không thì bỏ mẹ tất cả!
GNV
ngày nhỏ đọc Tam Quốc, cứ thắc mắc hoài về thạch trận của Khổng Minh,
được ông kiến tạo, như TD kiến tạo ra loài người, để nhốt tướng Đông
Ngô, nhưng lại biểu ông bố vợ, người canh giữ thạch trận, sau này, nếu
tướng DN lạc vô thạch trận, thì đừng có thả đấy nhé!
Ông biết trước, ông bố vợ sẽ thả!
Thế mới quái!
Chỉ đến già, GNV mới hiểu nổi, KM vẫn mong, chuyện ngược lại, biết đâu
đấy, ông bố vợ sẽ không thả, và thiên hạ sẽ đổi khác, ít ra, không mất
Đất
Thục.
Ấy đấy,
biết đâu, có TD, và nhân loại sẽ khác!
GNV thì tin có TD. Thực tình tin, nhưng biết đâu đấy, không có ông ta!
Đây
cũng là ý thơ của nhà thơ
Ba Lan, SZYMBORSKA, dưới đây: Con người sống, dài hơn thế giới,
vì, thật may cho
nó, nó không biết đến tận nguồn cơn, cái thế giới mà nó đang sống (1)
Ui
chao, GNV biết Gấu Cái bầy
'thạch trận' để nhốt Gấu, vậy mà cũng cứ tự động chui vô, nữa là!
(1)
WE'RE EXTREMELY FORTUNATE
We're extremely fortunate
not to know precisely
the kind of world we live in.
One would have
to live a long, long time,
unquestionably longer
than the world itself
Get to know other worlds,
if only for comparison.
Rise above the flesh,
which only really knows
how to obstruct
and make trouble.
For the sake of research,
the big picture
and definitive conclusions,
one would have to transcend time,
in which everything scurries and whirls.
From that perspective,
one might as well bid farewell
to incidents and details.
The counting of weekdays
would inevitably seem to be
a senseless activity;
dropping letters in the mailbox
a whim of foolish youth;
the sign "No Walking on the
Grass"
a symptom of lunacy.
WISLAWA SZYMBORSKA

Pessoa trong 1 đoạn thơ, cũng
có ý như vậy, khi ông khuyên chúng ta,
chớ có nghĩ đến Thượng Đế, vì như
thế là không vâng lời Người.
VI
To think about God is to disobey God,
Since God wanted us not to know him,
Which is why he didn't
reveal himself to us ...
Let's be simple and calm,
Like the trees and streams,
And God will love us, making
us
Us even as the trees are trees
And the streams are streams,
And will give us greenness
in the spring, which is its season,
And a river to go to when we end ...
And he'll give us nothing
more,
since to give us more would
make us less us.
*
VERMEER
So long as that woman from the Rijksmuseum
in painted quiet and concentration
keeps pouring milk day after
day
from the pitcher to the bowl
the World hasn't
earned
the world's end.
-Wislawa Szymborska
(Translated from the Polish
by Clare Cavanagh and Stanislaw BaraJiczak)
Note:
Bài thơ ngắn, thấy
trên NYRB, số mới nhất, 11.11.2010 cũng
cùng đề tài "người sống dai, hay thế giới sống dai"?
Không biết chưa từng in ấn, inédit, hay đã có trong mấy tuyển tập của
bà.
Tạm
dịch:
Một khi mà cái người đàn bà ở
trong bức tranh ở viện bảo tàng
Rijksmuseum
vẫn trầm lắng và chú tâm
rót sữa mỗi ngày từ cái
bình ra cái bát,
thì Thế Giới vưỡn chưa có
được
cái sự tận cùng của thế giới.
Tuyệt
cú mèo!
Thần sầu!
GNV sợ...
đi bất cứ lúc nào, nên
không thèm mua mấy tờ báo văn học như NYRB nữa, đâu ngờ, mua từng số
hóa ra lại
đau khổ hơn nhiều.
Số báo trên, Gấu, kỳ ghé tiệm lần trước, đã cầm lên đọc sơ sơ,
rồi lại bỏ
xuống, lầm lũi đi ra, thế mà chiều nay, đành bệ về, vì có tới mấy bài
hấp dẫn!
Chán thật!
Tập tiểu luận, nhà xb University of Chicago
Press, 2008
The Writer as Migrant
Nhà văn như một kẻ thiên di
Preface
Sometimes
it is difficult to
differentiate an exile from an immigrant. Nabokov was both an immigrant
and an
exile. But to the great novelist himself, such a distinction was
unnecessary,
as he often maintained that the writer's nationality was "of secondary
importance" and the writer's art was "his real passport." In the
following chapters, my choice of the word "migrant" is meant to be as
inclusive as possible - it encompasses all kinds of people who move, or
are
forced to move, from one country to another, such as exiles, emigrants,
immigrants, and refugees. By placing the writer in the context of human
migrations, we can investigate some of the metaphysical aspects of a
"migrant writer's" life and work.
I make references to many
works of literature because I believe the usefulness and beauty of
literature
lies in its capacity to illuminate life. In addition, I focus on
certain
important works-texts that may provide familiar ground for discussion.
I will
speak at length about some exiled writers, not because I view myself
only as an
exile - I am also an immigrant- but mainly because the most significant
literature dealing with human migration has been written on the
experience of
exile. By contrast, immigration is a minor theme, primarily American.
Therefore, a major challenge for writers of the immigrant experience is
how to
treat this subject in response to the greater literary traditions.
My observations are merely
that-my observations. Every individual has his particular
circumstances, and
every writer has his own way of surviving and practicing his art. Yet I
hope my
work here can shed some light on the existence of the writer as
migrant. That
is the purpose of this book.
Lời nói đầu
Đôi khi
thật khó mà phân biệt
giữa lưu vong, và nhập cư. Nabokov là cả hai, nhập cư và lưu vong.
Nhưng nhà
văn lớn lao này coi một sự phân biệt như thế là không cần thiết, quốc
tịch là
thứ yếu, nghệ thuật mới là căn cước thực sự của nhà văn. Trong những
chương sau
đây, khi chọn từ thiên di, tôi muốn ôm lấy đủ kiểu dời đổi, hay bắt
buộc phải
dời đổi từ một xứ sở này qua một xứ sở khác, nào là lưu vong, nào là di
cư, nào
là nhập cư nào là tị nạn. Bằng cách đặt nhà văn vào cái thế thiên di
như thế
chúng ta có thể điều tra, nghiên cứu một vài khiá cạnh siêu hình của
cuộc sống
của một nhà văn thiên di, và tác phẩm của người đó….
Tôi viện dẫn nhiều tác phẩm
văn học, bởi vì tôi tin tưởng, sự hữu ích và vẻ đẹp của văn chương nằm
ở trong
khả năng làm sáng lên cuộc sống của nó. Tôi xoáy vào một số tác phẩm
quan trọng
- những bản văn có thể cung cấp một mảnh đất chung để bàn luận. Tôi sẽ
nói
nhiều về một số nhà văn lưu vong, không phải vì tôi tự coi mình là một
trong số
đó – nhưng chủ yếu là vì thứ văn chương có ý nghĩa nhất bàn về sự thiên
di của
con người thì được viết về kinh nghiệm lưu vong. Ngược lại, nhập cư chỉ
là một
đề tài thứ yếu, và là của Mỹ. Từ đó, thách đố lớn lao đối với những nhà
văn
viết về kinh nghiệm nhập cư, là, làm sao từ một kinh nghiệm thứ yếu như
vậy mà
có thể đáp ứng với những truyền thống văn chương lớn lao hơn.
Những nhận xét của tôi thì
chỉ là của tôi. Với mỗi một cá thể nhà văn là những hoàn cảnh cá biệt
của người
đó, và mỗi nhà văn có một cách riêng của mình để sống sót và hành xử
nghệ thuật
của mình. Tuy nhiên, tôi hy vọng tác phẩm của tôi sẽ soi sáng được phần
nào về
sự hiện diện của nhà văn như là một kẻ thiên di. Đó là mục tiêu của
cuốn sách
này.
Phát ngôn viên và Bộ lạc
We know the
force of gravity, but not its
origins; and to explain why we become attached to our birthplaces we
pretend
that we are trees and speak of roots. Look under your feet. You will
not find
gnarled growths sprouting through the soles. Roots, I sometimes think,
are a conservative
myth, designed to keep us in places.
Salman
Rushdie: Shame
Chúng
ta biết về trọng lực,
tức sức hút của trái đất, nhưng không biết nguồn của nó; và để giải
thích tại sao
chúng ta quyến luyến với nơi chốn ra đời của mình, chúng ta giả đò như
mình là
cây và nói về rễ! Nhìn dưới chân mi coi, có cái rễ ‘rau muống’ nào chui
ra khỏi
đôi vớ ‘made in USA’
hay không?
Gốc rễ, đôi khi tôi nghĩ, là
một huyền thoại mang tính bảo thủ, được phịa ra để buộc chúng ta
vào với
những nơi chốn, và những nơi chốn này không phải chỉ có nơi chúng
ta ra đời.
Vấn đề ở & về của Mít,
như ông nhà văn nhớn này đặt ra, đại nhảm, nhất là vào thời điểm này.
Vả chăng,
không hề có sự "ở & về" đối với nhà văn Mít, theo cái nghĩa như ông
ta muốn nhắm
tới.
Cái ý
chót của bài viết, (1) theo
Gấu, là của người khác, ông ta đọc rồi tưởng là của ông ta, không phải
có ý
muốn chôm, nhưng đọc của người, rồi thấm vào mình, rồi tưởng là mình
cũng thuộc
1 ca như thế!
Bởi vì cái ý chót của bài
viết [tớ như phi hành gia bị đứt giây thần kinh liên lạc với phi thuyền
mẹ],
chửi bố toàn bài viết, chọc quê tâm nguyện ‘dọn mình để về’ của ông nhà
văn
nhớn Mít này!
Brodsky
là người viết ra ý
đó, trong bài viết "Phận Lưu Vong", nhưng thấm hơn, sâu rộng hơn, và
ông chấp
nhận, đi là đi luôn, nhất quyết không về!
(1)….
Hắn bị ném ra ngoài thế
gian này mà không hề biết tại sao. Hắn như nhà phi hành đi bộ ngoài
không gian
bị đứt dây buộc với phi thuyền mẹ và cứ thế dật dờ trôi giạt mãi về
khoảng
không gian huyền tẫn [?] mịt mù.
Joseph Brodsky: Đi để đừng bao giờ trở về.
I don't
know anymore what
earth will nurse my carcass.
Scratch on, my pen: let's
mark the white the way it marks us.
Brodsky: "The Fifth
Anniversary", 1977
Tôi
không còn biết nữa, mảnh
đất nào sẽ bú mớm cho cái thân xác này.
Cây viết của tôi ơi: Hãy tiếp
tục vạch lên nền trắng, cách mà mi vạch nên chúng ta.
“Kỷ niệm năm thứ năm xa quê
hương”, 1977
… Nếu có gì tốt về lưu vong, thì đó là, nó dậy
cho một con người sự khiêm tốn. Và một con người như thế, có thể dấn
thêm một bước
nữa, và giả dụ, rằng, bài học tối hậu của lưu vong, là bài học về đạo
hạnh. Và bài
học này thì vô giá, nhất là đối với một nhà văn, bởi vì, nó đem đến cho
nhà văn
một viễn tượng dài rộng nhất có thể có được [the longest possible
perpective]. “And
thou art far in humanity”, như Keats nói. (1). Bị mất tăm mất tích
trong nhân
loại, trong đám đông, – đám đông ư? ở giữa hàng triệu triệu con người:
trở thành
cây kim trong đống cỏ, như cách ngôn đã từng nói – nhưng là cây kim mà
mọi người
tìm kiếm – đó là điều mà lưu vong là.
Thì cũng vưỡn ‘vô thường’ thôi,
như 'cô bạn' của Gấu đã từng làm thơ [2], mi là chi đâu, chỉ là 1 hạt
cát ở trong sa
mạc. Hãy so đo, kèn cựa, phách lối, kiêu ngạo, chính Gấu mi, không phải
với mấy
đấng bạn văn quí hoá, mà là với nhân loại vô cùng kia cơ: Đó là cái
điều tệ hại
phi nhân ở nơi một thằng cu Gấu như mi!
Hãy so đo, vì & với cái điều
mi muốn & sẽ nói ra, không phải vì & với ham muốn, hay tham
vọng.
[Mô phỏng 1 đoạn trong
"Phận Lưu Vong" của Brodsky]
(1) Câu
này, gõ Google, nó ra như thế này:
“And thou art distant in
Humanity.
Tạm dịch: Và bạn thì đi xa
trong Nhân Loại
(2) Hồn Đông Phương thất lạc
Buồn Tây Phương...
Dấy lên từ bụi vô
thường,
Ngày qua tháng lại tà
dương kiếp người…
Thơ TKKA
Tình Yêu Như Trái Phá
TRẦN
THIỆN ĐẠO
…. Là
bởi trái phá trong câu
ca từ chỉ là hình ảnh cụ thể phác họa một í niệm chớ không một vật thể
đặt định
nào. Trái phá ở đây dịch là artillery shell, hay grenade, hay smoke
grenade,
hay exploding shell, hay một từ khác chỉ định bom đạn thì cũng có í
nghĩa tượng
trưng ngang nhau. Nhưng nếu như chuyển nó bằng một từ nào thích hạp với
cách
diễn đạt bản năng của người phương Tây thì chắc dễ được họ tiếp thu một
cách
thấm thía hơn. Chẳng hạn sử
dụng í niệm coup de foudre của Pháp, hoặc
love at
first sight (hay coup de foudre lấy nguyên xi tiếng Pháp) của Anh và Mĩ
- cả
hai đều hàm nghĩa sét đánh giống như chúng ta đã nhại theo tiếng Pháp…
Và chắc
còn nhiều từ/thành ngữ sở tại và cách diễn đạt khác nữa mà chúng tôi
không/chưa
nghĩ ra, mà bạn đọc sành Anh ngữ và Mĩ ngữ đã nghĩ tới rồi.
Tạm kết
Trở lên trên là những í kiến
sơ đẳng, nhưng đã được tôi luyện qua kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và
chuyển
dịch Pháp->Việt, Việt->Pháp và Pháp->Anh, Anh->Pháp. Tuy
chỉ chạm
tới những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng chẳng phải vì vậy mà không liên quan
tới
những vấn đề khái quát.
Dịch thuật vốn là một công
việc trần ai, ngoại trừ lối dịch cẩu thả và lấy có, kể cả của mấy dịch
giả danh
tiếng, thường thấy trên thị trường của chúng ta hiện nay. Cho nên câu
chuyện sẽ
còn dài và còn lâu mới (chưa chắc) chấm dứt.
TRẦN
THIỆN - ĐẠO
(Paris,
03/05/2010)
Ông Tây
mũi tẹt này kể cũng
lớn lối, khi lên giọng chê bai những dịch giả khác, nhưng, nếu đọc
những nhận
xét của ông về chỉ hai câu nhạc của họ Trịnh, là Gấu này thấy ông ta
chẳng hiểu
tí chó nào cả, và lý do không hiểu này, y chang 1 tay cùng băng bỏ chạy
của ông
ta, "người của chúng ta ở Paris”, đã từng lầm, khi không phân biệt được
thế
nào là oanh kích, thế nào là pháo kích!
Cái
kiểu viết tiếng Việt “í
kiến” của ông ta cũng làm Gấu này nực!
Đây là cái trò bắt chước
trong nước, nhất là đám Bắc Kít hay sử dụng, cứ ‘y’ dài là bèn đổi
thành ‘i’
ngắn.
Nếu thế, thì Thanh Thúy thành
Thanh Thúi ư?
GNV
này, trong kỳ tới, sẽ chỉ
ra cái ngu ngốc mà muốn làm ông nội của ông Tây mũi tẹt này, khi coi
Tình Yêu
Trái Phá giống như “coup de foudre”!
Chỉ bật
mí sơ sơ, tình yêu
trái phá không thể nào giống ‘cú đờ phút’ được, vì ‘cú đờ phút’ chỉ
đánh trúng
1 thằng, còn trái phá mà nó nổ 1 cái thì là khối thằng bị văng miểng!
Hồi mồ
ma tờ Văn, Gấu này đọc
ông Tây mũi tẹt này dịch Camus, nể quá. Vì tiếng Tây của Gấu thuộc loại
ăn đong,
còn ông này chính gốc Tây, chính gốc Paris, xém 1 tí thì cũng là Tây
đặc, chỉ có
cái mũi tẹt là không giống.
Bây giờ, về già, đọc ông ta
phán bố lếu bố láo, mới hiểu ra, không phải cứ giỏi tiếng Tây, là đọc
được sách
Tây, thí dụ, của Camus.
Nói thế, không phải là chê ông
ta dịch sai.
Dịch đúng, vẫn đếch làm sao hiểu được Camus!
Chán
thật!
Ghi chú
trong ngày
19.11.2010
Cái vụ
cái nhà của nhà toán
học Nobel của xứ Mít không ngờ hậu quả trầm trọng hơn cả cái vụ
cấm ra
khỏi tù của nhà Nobel hòa bình Lưu Hiển Ba, và cấm ra khỏi nhà của bạn
bè của ông [để thay mặt ông nhận Nobel].
Trầm trọng đến nỗi ông Nobel Toán
phải khoá nhà của mình, đếch cho ai vô lèm bèm nữa!
Qua vụ này lại càng nổi lên
Cái Độc, Cái Ác của giới Bắc Kít, mà cái tay Đông B gọi là Bắc Hà!
Đọc
bài viết
của tay này, về vụ NBC nhận cái nhà nhà nước VC phát cho ông, mới thấy…
tởm.
V/v
NBC, Gấu này chỉ tiếc,
giá mà ông bảnh hơn một chút, biết đâu tương lai đất nước thay đổi đi,
nếu ông,
vào đúng lúc vinh quy bái tổ, phán, phải thay đổi chế độ!
Phán vào lúc đó, đồng thời
cho mấy đệ tử quay video, rồi tung hê lên Youtube coi, có ăn khách số 1
không!
Hơn video HTL nhiều, chắc chắn!
Hà, hà!
Còn cái
sự đóng góp của NBC
thì không phải cho Mít, mà cho toàn nhân loại. Gấu này đã từng xưng
tụng ông là
bậc thiên tài chẳng thua gì Einstein. Einstein chỉ cho thấy vật chất là
năng
lượng, thì NBC cũng đâu có thua, chỉ cho thấy hai ngành toán học trước
nay kể
như chẳng thể nào kết nối, thì nay kết nối, và những hệ quả, thành quả
của nó,
thì chắc cũng là vô cùng, như 1 thứ bom nguyên tử trong toán học, và
trong toán
ứng dụng.
Một cái tay Đông B làm sao so
được với NBC.
Viết độc ác như thế, chỉ để
lộ ra cái tâm địa đố kỵ của anh ta mà thôi.
Có vẻ như anh ta rất thù NBC
chỉ vì ông gạch bỏ 1 cụm từ trong lời phát biểu khi vinh qui bái tổ,
nói rõ
hơn, ông nói, ông cám ơn Tây mũi lõ, đã khám phá ra ông, cho ông cơ hội
để phát
triển tài năng thiên bẩm mà, nếu ở xứ Mít, thì vô phương.
Đúng ra đám Mít trong nước
phải hãnh diện vì những phát biểu hết sức dõng dạc, hết sức nhân bản,
nhân hậu,
ân oán phân minh, và phải lấy làm nhục nhã vì cái xứ sở của mình, ngày
1 tệ hại
thêm mãi lên kể từ sau 30 Tháng Tư.
Thay vì vậy chúng ngoạc mồm
ra chửi NBC.
Ở hay Về?
Of
course, it's one hell of a
way to get from Petersburg to Stockholm; but
then for a man of my
occupation the notion of a straight line being the shortest distance
between
two points has lost its attraction a long time ago.
Joseph Brodsky: Acceptance speech for the Nobel Prize in Literature
'Lẽ dĩ
nhiên, một
cách nào đó, con đường từ St. Petersburg tới Stockholm đi qua địa ngục,
nhưng
một con người với nghề nghiệp như tôi, ý niệm đường thẳng - con đường
ngắn nhất
nối hai điểm - đã mất hết sự quyến rũ của nó từ lâu rồi.' (Joseph
Brodsky, Diễn
văn nhận Nobel văn chương)
In
order to rebuild one's
life one has to be strong and an optimist. So we are very optimistic.
Our
optimism, indeed, is admirable, even if we say so ourselves.
Hannah Arendt,
"We Refugees"
Để
xây dựng lại đời mình,
bạn phải mạnh mẽ và lạc quan. Như vậy, chúng ta đều rất lạc quan. Lạc
quan của
chúng ta thì thật đáng mến, ngay cả khi chúng ta lèm bèm giữa chúng ta,
về lạc
quan.
*
THE
WORD nostalgia comes from
two Greek roots-nostos (home) and algia
(longing) - yet this composite
word did not originate in ancient Greece. It is only
pseudo-Greek, or
nostalgically Greek. The nostalgic disorder was first diagnosed by
seventeenth-century Swiss doctors and detected in mercenary soldiers
(Lowenthal
1985: 11).1 This contagious modern disease of homesickness -La
maladie du pays - was treated in a
seventeenth-century scientific manner with leeches, hypnotic emulsions,
opium,
and a trip to the Alps. Nostalgia was
not
regarded as destiny, nor as part of the human condition, but only as a
passing
malaise. In the nineteenth century, the geographic longing was
superseded by
the historical one; maladie du pays
turned into mal du siècle, but the
two ailments shared many symptoms.
SVETLANA
BOYM. ESTRANGEMENT
AS A LIFESTYLE: SHKLOVSKY AND BRODSKY
In
What
Are Masterpieces?
Gertrude Stein said about herself: "I am an American and I have lived
half
my life in Paris, not the half that made me but the half that made what
I
made"
*
The
word
"nostalgia" was invented on 22 June, 1688, by Johannes Hofer, an
Alsatian medical student, by combining the word nostos
("return") with the word algas ("pain") in his medical
thesis Dissertatio medica
de nostalgia, to describe the sickness of Swiss soldiers kept far away
from
their mountains
Cái từ
‘hoài hương’,
nostalgia, được phịa ra vào ngày 22 Tháng Sáu, 1688, bởi Johannes
Hofer, một
sinh viên y khoa người Alsatian, bằng cách kết hợp hai từ nostos
[return: về] với
từ algos [pain; đau], trong luận án y khoa của anh,
Dissertatio medica de nostalgia, để miêu tả căn bịnh, sickness, của
những người lính Thụy Sĩ, bị cách xa những vùng núi non của họ.
Alberto
Maguel: A Reading
Diary.
*
Exile is
strangely compelling to think about but terrible to experience”
Lưu vong, nghĩ thì sướng mê tơi, nhưng thử sống nó coi, mới biết khủng
khiếp là
dường nào. E. Said
"He is a pessimistic
poet made melancholy by an intolerable political exile"
Ông ta
là 1 nhà thơ bi quan
trở thành buồn ơi là buồn, do cái vụ lưu vong chính trị không làm sao
chịu đựng
nổi
NKTV
*
Tình Yêu như Trái Phá
Thấy người sang bắt quàng làm họ, cái vụ nhà
Nobel Toán, ngửi khói
hành lang, biết mình đuợc Nobel, bèn vội vàng xin nhà nước mũi lõ phát
cho quốc tịch Tây, có cái gì giông giống Gấu, khi, vào năm 1954, ở Hà
Nội, khi Ông
Tây chồng bà Me Tây là Cô Dung của Gấu, làm thủ tục kết hôn, và đưa vợ
về nước,
thì Gấu cũng tự nhủ, mình sẽ học tiếng Tây, để làm sao viết cho được 1
cái thư
bằng tiếng Tây, cám ơn 1 ông Tây thuộc địa, bởi vì không có ông, là
không làm
sao có… Gấu Nhà Văn, và thay vì như vậy, thì có 1 thằng Bắc Kít khốn
nạn cũng cỡ
Đông B, chắc hẳn !
Về già, Gấu ngộ ra, giả như Gấu cố học tiếng
Tây, để chuồn, thì chắc hẳn, sẽ
được như, thí dụ, ông Tây mũi tẹt, cách đây mấy chục năm đã từng dịch
Camus !
Thấy người sang bắt quàng làm họ, cái vụ nhà
Nobel Toán, ngửi khói
hành lang, biết mình đuợc Nobel, bèn vội vàng xin nhà nước mũi lõ phát
cho quốc tịch Tây, có cái gì giông giống Gấu, khi, vào năm 1954, ở Hà
Nội, khi Ông
Tây chồng bà Me Tây là Cô Dung của Gấu, làm thủ tục kết hôn, và đưa vợ
về nước,
thì Gấu cũng tự nhủ, mình sẽ học tiếng Tây, để làm sao viết cho được 1
cái thư
bằng tiếng Tây, cám ơn 1 ông Tây thuộc địa, bởi vì không có ông, là
không làm
sao có… Gấu Nhà Văn, và thay vì như vậy, thì có 1 thằng Bắc Kít khốn
nạn cũng cỡ
Đông B, chắc hẳn !
Về già, Gấu ngộ ra, giả như Gấu cố học tiếng
Tây, để chuồn, thì chắc hẳn, sẽ
được như, thí dụ, ông Tây mũi tẹt, cách đây mấy chục năm đã từng dịch
Camus !
Gần bốn
mươi lăm năm trước,
vào tháng 12/1966, khi chuyển dịch xong truyện kể La Chute (Sa đọa –
1954) của
nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960), chúng tôi có bộc bạch như sau: «
Trong
công trình này, chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp khó xử: người Việt
nam ít khi
biểu lộ những thực tại vô hình bằng những khái niệm trừu tượng, mà
thường gợi ý
qua nhiều cách nói vận dụng hình ảnh cụ thể. Mà ép buộc dùng hình ảnh
cụ thể
lại khó bề bám sát ý nghĩa của từ ngữ trừu tượng. Gặp những trường hợp
tương
tợ, chúng tôi đã không ngại tùy cơ ứng biến, cốt sao vừa diễn tả được
trọn vẹn
những ý niệm phát biểu. »
TTD
Cái ông
Camus được ông Tây
mũi tẹt này dịch gần bốn mươi năm trước khác hẳn ông Camus bây giờ, sau
cú
11/9, thí dụ. Ông ta thì vẫn thế, Sa
Đọa của ông thì vẫn thế, nhưng cái
nhìn
của chúng ta, về ông, về tác phẩm của ông, khác đi, khác đi nhiều lắm.
Gấu thực sự không hiểu ông
Tây mũi tẹt, nghĩ gì, khi chọn Camus, và chọn Sa Đọa để dịch, cách đây
mấy chục
năm, vào lúc cuộc chiến Mít "chưa hứa hẹn những điều khủng khiếp", [ông
này chuồn
lẹ lắm, trước tất cả mọi người, kể cả ‘người của chúng ta ở Paris’,
chắc hẳn,
vì khi GNV còn cắp sách đi học, thì đã thấy ông ta ở Paris rồi!]
Cái
chuyện "khó xử" khi dịch
của ông, mang tính 'kỹ thuật', khi chuyển dịch bất cứ 1 ngôn ngữ. Ông
không cho
biết, cái khó xử, kia, khác, khi chọn Camus để dịch?
Hay là
ông lấn cấn khi "bỏ mẹ
tôi", và chọn Đầm làm mẹ?
Đây là
vấn đề tiềm ẩn, có
thể, bởi vì như NMG có lần giải thích, khi GNV hỏi, văn của ông khác
hẳn Dos,
tại sao lại chọn Dos là Thầy, anh trả lời, chính vì khác, nên chọn,
như 1 kẻ mình không làm sao đạt tới, và chỉ đứng xa vái vọng.
Ông Tây
mũi tẹt, do bỏ chạy
mẹ tôi, nên lương tâm của ông cắn ông ta đau quá, nên chọn Camus để
dịch?
Chắc không đâu, vì nghe khẩu
khí của ông, chỉ qua 1 đoạn viết, thì có vẻ ông rất ư là tự mãn. Hơn
thế nữa,
còn giở giọng Thầy ra dậy dỗ, coi độc giả như học trò của ông:
Trở lên
trên là những í kiến
sơ đẳng, nhưng đã được tôi luyện qua kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và
chuyển
dịch Pháp->Việt, Việt->Pháp và Pháp->Anh, Anh->Pháp. Tuy
chỉ chạm
tới những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng chẳng phải vì vậy mà không liên quan
tới
những vấn đề khái quát.
TTD
Đúng
giọng bố chó xồm! Không
có lấy 1 tí khiêm tốn tối thiểu làm thuốc!
1966:
Gấu ăn mìn của VC tại
nhà hàng nổi Mỹ Cảnh ngày 26.6.1965.
Chắc
vào lúc đó, ông Tây mũi
tẹt đang ngồi dịch Camus ở Paris.
Một
trong những chuyện cực thú
của VC, đối với riêng GNV, đó là cách chúng đối xử với đám Miền Nam bỏ
chạy bợ đít
chúng: đếch cho về!
Anh Tây mũi tẹt này, già quá
rồi, sắp chết rồi, chúng mới gật đầu cho về.
Về 1 cái, là lên giọng Thầy, dạy hết
người dịch này đến người dịch kia, cả ở trong lẫn ngoài nước, lại còn
khoe sách
được nhà nước VC cho phép in, sắp cho ra lò!
Chán thật!
Nadine Gordimer chọn Sách Trong
Năm 2007: Camus @ Combat:
Non-fiction - Camus at
"Combat": Writing 1944-1947 by Albert Camus, edited by
Jacqueline Levi-Valensi (Princeton):
editorials and other texts, letters, published at high personal risk by
Camus in
what began as an underground newspaper during the German of Occupation
of
France. Every line totally charged with extraordinary synthesis of
passionate
conviction and objectivity in intellecctual force that distinguishes
Camus's
creative talent in his novels, The Plague and The Outtsider.
As
editor and journalist, he writes on the premiss, good for during the
Occupation
and prescient for our present he did not live to see: " ... the end of
ideologies is upon us, that is, the end of absolute utopias that
destroy
themselves owing to the heavy price they eventually exact when they
seek to
become part of historical reality". After the war, he wrote on Algeria
what held good for other colonial empires as well: "The failure to
peacefully put an end to colonialism in the aftermath of World War II
... a
serious, if not the most serious, failure of French democracy itself'.
… Loại không giả
tưởng, tôi chọn cuốn “Camus tại báo Combat", gồm những bài bình
luận, và những bài viết khác, xuất hiện vào lúc thật nguy hiểm cho
người viết,
trên tờ nhật báo chui tại một nước Pháp bị Nazi chiếm đóng. Mỗi dòng
viết, chứa
trong nó, sự tổng hợp kỳ tuyệt, của niềm tin say mê và của tính khách
quan,
trong một sức mạnh trí tuệ, chính nó làm rạch ròi ra cái tài năng sáng
tạo của
Camus, ở trong những cuốn tiểu thuyết, Dịch Hạch và Kẻ Xa
Lạ. Vừa
là chủ bút vừa là ký giả, ông viết, về tiền đề, tốt cho thời kỳ [nước
Pháp bị]
Chiếm Đóng, và còn là một dự báo cho thời hiện tại của chúng ta mà ông
chẳng
còn sống để chứng nghiệm: “… sự cáo chung của những ý thức hệ đè lên
chúng ta,
nói rõ hơn, sự cáo chung của những không tưởng tuyệt đối, chúng tự huỷ
chúng,
và trong khi tự huỷ, chúng còn đòi cái giá nặng nề khi muốn có phần
trong thực
tại lịch sử”. Sau chiến tranh, ông viết về Algeria, điều được coi là
tốt, không
chỉ cho cựu xứ sở thực dân thuộc địa này mà còn cho những đế quốc thực
dân
thuộc địa khác: “Sự thất bại không kết thúc một cách hoà bình chủ nghĩa
thực
dân thuộc địa, sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt… là một thất bại
nghiêm trọng,
nếu không muốn nói, tối nghiêm trọng, cho chính nền dân chủ của nước
Pháp”.
Nguồn
Tưởng Niệm Camus
Ở trong những tác phẩm sau này
của Camus,
phong cảnh – và trên tất cả, phong cảnh quê ta, miền đất thiên đàng Địa
Trung
Hải của ông - vưỡn hiện diện, thường như là, một ham muốn tàn khốc, an
atrocious
desire, hay một hoài nhớ khủng khiếp, đến trở thành khốn khổ, khốn nạn,
rất ư
là hơi bị thảm hại [y chang Gấu, những ngày sắp lìa đời!], a terrible
nostalgia:
Marthe và bà mẹ của cô, những tên trộm cướp và những tên sát nhân trong
Ngộ
Nhận, làm thịt du khách trong quán trọ, để có một ngày, có đủ vốn
liếng,
tậu được một căn nhà bên bờ biển [Ui chao, chẳng lẽ đây là giấc đại
mộng của
những anh nhà quê Bắc Kít, những anh Cu Sài, xẻ dọc Trường Sơn, hy vọng
vô được
nước Xề Gòn, kiếm tí chiến lợi phẩm, về làng cũ, xây cái nhà gạch nho
nhỏ, sửa
sang phần mộ cho ông cụ, cưới một em ở Xóm Đoài, Xứ Đoài mây trắng
lắm?], và
cái anh chàng Tướng Về Hưu, Jean Baptiste Clemence, sau khi xây dựng
xong Địa
Ngục, bèn đi vào miền Sa Đọa, The Fall, tên một tác phẩm của
Camus, sám
hối, và trong một khoảnh khắc trầm thống, rống lên như một con quỉ, Quỉ
Bắc
Kít, trong một cuộc độc thoại nội tâm: “Ôi, mặt trời Bắc Kịt, ôi bãi
biển Đồ
Sơn, ôi những hòn đảo Hạ Long của những trận gió thương mại, ôi những
hồi ức
của thuở thanh niên, chúng mới làm cho đám Bắc Kít chúng ta chán chường
làm
sao!” [‘Oh, sun, beaches, islands of trade winds, memories of youth
that make
us despair’]: Ở Camus, cái đẹp và cái ấm mà con người được thừa hưởng
từ thiên
nhiên không chỉ thỏa mãn nỗi thèm khát của cơ thể, mà còn là một thứ
thánh dược
thanh tẩy tâm hồn!
Ui chao, những
câu sau đây, trong Lần Cuối Sài Gòn, của
'đại văn hào' Gấu Nhà Văn, mà không phải những "thánh ngôn" 'thanh
tẩy tâm hồn', ư?
Trong mỗi chúng ta đều có một Sài-gòn âm ỉ cháy. Tôi
khơi cục than hồng của
tôi, để cho Sài-gòn của bạn sáng ngời.
Lần thứ nhì bỏ chạy quê hương,
cùng nỗi
nhớ Sài-gòn là sự thật đắng cay mà tuổi già càng làm thêm cay đắng: Một
giấc
mộng, dù lớn lao dù lý tưởng cỡ nào, cũng không làm sống lại, chỉ một
sợi nắng
Sài-gòn.
Trong những đêm chập chờn mất
ngủ, hồn thiêng của thành phố thức
giấc ở trong tôi, tôi tưởng hồn ma của chính mình đang lang thang trên
những
nẻo đường xưa cũ, sống lại cái phần đời đã chết theo cùng với Sài Gòn,
bởi cái
phần đời đó mới đáng kể. Tôi đọc lại Nabokov và lần ra sợi dây máu mủ,
ruột
thịt giữa tác giả-nhà văn lưu vong-con vật đáng thương-nàng nymphette
tinh
quái. Đọc Koestler để hiểu rằng, tuổi trẻ của tôi và của bao lớp trẻ
sau này,
đều bị trù yểm, bởi một ngày mai có riêng một con quỷ của chính nó:
Miền Bắc,
Hà-nội.
Suốt cuộc đời, Camus luôn tỏ ra
trung
thành với niềm tin, rằng con người phải hoàn chỉnh trọn vẹn chính mình,
sống
trọn với bản chất của mình, khi mình tương hợp với thế giới tự
nhiên, khi
cuộc ly dị giữa nó và thế giới tự nhiên sẽ cắt manh mún cuộc hiện hữu
nhân sinh
của nó. Có lẽ, đây là niềm tin, kinh nghiệm của một người lớn lên không
nương
tay nhờ sỏi, đá, bụi bặm, giọt mưa, sợi nắng, và, nó tách Camus ra khỏi
cái đám
đông khốn kiếp ở thành phố, ở Paris, và hơn thế nữa, tách ông ra khỏi
cả một
tầng lớp trí thức cùng thế hệ với ông. Tất cả lũ, nào Mác Xịt, nào Ky
Tô, nào
tự do, nào hiện sinh, đều có một điểm chung: chúng đều thần tượng hoá
lịch sử.
Sartre và Merleau-Ponty, Raymond Aron và Roger Garaudy, Emmanuel
Mounier và
Henri Lefebvre, ít ra đều đồng ý về một điểm: rằng con người là một con
người
xã hội, và, để hiểu nỗi khốn cùng, những khổ đau của nó, và đề ra giải
pháp cho
vấn đề của con người, việc đó chỉ thế xẩy ra, ở trong cái khung lịch
sử. Kẻ thù
ở bất cứ đâu đâu, ở bất cứ điều gì khác, nhưng đám này đều chia sẻ với
nhau một
giáo điều rộng lớn nhất trong mọi giáo điều của thời đại chúng ta: rằng
lịch sử
là chìa khóa cho câu hỏi nhân sinh [that history is the key to the
human
question], là nơi chốn, môi trường, ở đó, trọn số phận của con người
được quyết
định.
Llosa: Albert Camus và đạo đức học của những giới hạn
Bây giờ thì Gấu
hiểu được, vị trí của ông anh nhà văn nhà thơ của Gấu, và cái sự tại
sao ông
không chịu nổi Camus!
GNV này
thường tự hỏi, nhiều
câu lẩn thẩn, thí dụ, trong khi trong 3 triệu Mít chết, thì anh Tây mũi
tẹt này
đang làm gì ở Paris. GNV biết, 1 trong những ông bạn của anh ta, làm
cớm cho
VC, còn anh này thì không biết làm gì
Vẫn
được đi, nhưng chẳng lẽ
cả 1 cuộc chiến đau thương như thế, thoát chết nhờ bỏ chạy, và nay già,
được VC
cho về, chỉ để khoe, tớ rành tiếng Tây, tiếng Anh, và đã làm thầy ở xứ
người?
Vẫn
được đi. Tuy nhiên GNV này không làm sao hiểu được, bằng cách nào anh
ta
đọc, và dịch Camus?
My dad
read me The BFG by
Roald Dahl when I was younger. I'm really fond of that book. Le Petit Prince [by Antoine de
Saint-Exupéry]. I like books that aren't just lovely but that have
memories in
themselves. Just like playing a song, picking up a book again that has
memories
can take you back to another place or another time.
10
Questions
Tôi
thích những cuốn sách
chứa trong nó những hồi ức, giống như chơi 1 bản nhạc, cầm lại nó lên
là
những hồi ức có thể đưa bạn trở lại 1 nơi chốn khác, 1 thời gian khác.
Anh Tây
mũi tẹt này đọc Camus,
thì có được những hồi ức gì? Và chúng đưa anh ta đi đâu, đến thời nào
khác, khi
đọc lại?
Mùi
Nga
NYRB 25
Nov 2010
Note:
Cuốn Du Lịch Nga này, vừa
mới đây được in từng kỳ trên tờ The
New Yorker, GNV mê quá, tính dịch, lấy
hứng, và lấy đà viết về chuyến trở
về Đất Bắc tìm lại cái mùi Bắc Kít, như là GNV tưởng tượng ra, bởi vì
khi đó
còn bé quá, khi nhìn qua cái lỗ hổng trên cánh cửa nhà cầu căn nhà bếp
ở villa
số 60 đường Nguyễn Du, hay khi Gấu cùng đứa em của anh Mỹ, cả hai vợ
chồng cùng làm bồi cho Ông Tây Trẻ, nằm ở kế bên bờ tường căn phòng,
bên
ngoài
là hiên nhà phía trước, và ông bếp già đang hì hà hì hục quần thảo một
bướm Bắc
Kít, vào một buổi tối Thứ Bẩy hay Chủ Nhật, khi ông chủ Tây đi dự tiệc
cuối tuần....
Chắc là
anh Mỹ mách bà cô của
Gấu, và 1 buổi tối, Gấu đang hồi hộp, nín thở, tưởng tượng ra những gì
đang xẩy
ra ở phía bên ngoài hành lang tối mò, thì bị bà cô từ phía sau lưng nắm
tai kéo
dậy, tát cho mấy cái nổ đom đóm mắt, và chẳng thèm nói gì, và bỏ đi!
Khi GNV
về, hỏi thăm, thì ông cậu ghé tai thì thầm, phố đó bây giờ nhờ
ơn
Bác và Đảng được đổi tên là Phố Hàng Lờ rồi.
Frazier
viết: Khi tôi ở đầu
thập niên bốn mươi, thì bị trúng độc, là cái tình yêu Nga [“When I was
in my
early forties, I became infected with a love of Russia”].
Ui chao
Gấu thì còn khốn khổ
khốn nạn hơn ông ta nhiều, vừa đẻ ra 1 cái là đã bị cái độc cái ác của
xứ Bắc Kít
cắn trúng!
Và bạn gọi cái độc cái ác đó
là tình yêu Bắc Kít ở nơi Gấu, thì cũng được!


INTERVIEWER
What is your definition of a
Romantic?
HOUELLEBECQ
It’s someone who believes in
unlimited happiness, which is eternal and possible right away. Belief
in love.
Also belief in the soul, which is strangely persistent in me, even
though I
never stop saying the opposite.
INTERVIEWER
You believe in unlimited, eternal
happiness?
HOUELLEBECQ
Yes. And I’m not just saying
that to be a provocateur.
Source
Định
nghĩa của ông về 1 gã/ả
Lãng Mạn.
Đó là 1 kẻ tin vào hạnh phúc
vô cùng, vô giới hạn, và cái hạnh phúc đó thì thiên thu vĩnh viễn và
còn là mì
ăn liền, nghĩa là ngay lập tức. Tin vào tình yêu. Còn niềm tin vào linh
hồn, lạ
làm sao, cái linh hồn này thì cứ lì lợm ở trong tôi, ngay cả khi bực
quá, tôi
bèn nói ngược lại.
Vậy là
ông tin vào hạnh phúc,
vô vàn, vô giới hạn và thiên thu vĩnh viễn?
Thì đúng thế, nhưng đừng nghĩ
là tôi phán như thế là để chọc quê thiên hạ.
Ghi chú trong ngày
Nous qui vivons à l' "ère de l'Épilogue", sur
les ruines de
l'Auschwitz et du Goulag, devons-nous "réapprendre à être humain"?
Faut-il
inventer un nouvel humanisme?: Chúng ta sống thời kỳ Chung Cuộc, trên
những
điêu tàn của Lò Thiêu và Lò Cải Tạo, liệu chúng ta phải lại học làm
người? Phải
phát kiến ra một chủ nghĩa nhân bản mới?
Francois L'Yvonnet phỏng vấn Steiner, trong
Man Rợ Dịu Dàng, La Barbarie
Douce, thực hiện tại Paris, ngày 3 Tháng Hai, 2000.
Tôi nghi rằng Steiner cũng
tiên đoán ra được sự xuất hiện của con bọ VC, hay hiện tượng Chúa Sẩy Thai.
Ông viết,
chủ nghĩa Marx không giản dị chỉ là một lầm lẫn, mà nó còn là một đánh
giá quá
cao, hơi bị quá chắc mẩm có tính cứu thế [une surestimation
messianique], về
những khả năng của con người, [đúng theo cái kiểu của mấy ông VC: Với
sức người
sỏi đá cũng thành cơm]. Theo ông đây là từ tư tưởng Do Thái giáo mà ra.
Người
Do Thái đã từng lầm lẫn với Chúa
Ky Tô, [Le
Juif s'est trompé avec
le Christ], như nó lầm lẫn với Karl Marx... Nó cứ luôn luôn lầm lẫn,
tất cả là
do, nó đánh giá quá cao con người.
Cái họa con bọ VC theo Gấu là
do những "chúng ông" đánh giá quá cao "chúng ông", chứ
không phải đánh giá quá cao con người, hay nói riêng, con người Việt
Nam.
Một cách nào đó, chúng tôi đã
không "ôm lấy" cuộc chiến đó, cả trong ý nghĩa, "chống lại"
nó.
Chúng tôi tởm nó, trong khi
chúng tôi chỉ có nó, như là phần đời đáng thương nhất, và cũng đáng yêu
nhất,
của chúng tôi.
Thử tính lại đi, bao nhiêu
bạn thân, người thân, đã nằm xuống, vì nó?
NQT: Thư gửi bạn ta
Vậy mà cũng ngoạc mồm ra chửi lũ bỏ chạy bợ
đít VC!
Tình Yêu như Trái Phá
Cái câu hát Tình Yêu như Trái
Phá, đối với riêng Gấu, nó đúng là giống như một cú mặc khải về cái
chết, về tình
yêu.
Gấu đã lèm bèm về nó, nhiều lần,
và cũng bị Gấu Cái cự đòi phen rồi:
Anh viết về nó, OK, nhưng tôi
không hiểu tại làm sao anh lại viết về “nó”, trong 1 bài viết về ông
nội của mấy
đứa trẻ. Hử, hử?
Cả đời viết lách của Gấu, Gấu
Cái chỉ bực, có hai lần, một lần là về cái nick Tuấn Anh. Tuấn là tên
thằng cu
lớn, còn Anh, là tên… cô bạn.
Và lần kia, là về Tình Yêu như
Trái Phá, ở cái đoạn sau đây, trong Tự
Truyện
Ông bị đám người vũ trang thủ
tiêu bằng cách buộc đá bỏ xuống sông, như lời một người bạn tù nào đó
kể lại.
Theo lời kể, cha anh đã không giả ngu giả dại như người khác. Cái tính
lì lợm,
bướng bỉnh nhưng dễ tin người, di truyền tới anh, trở thành ngu ngơ,
khù khờ,
nếu không muốn nói là đần độn. Có lần nghe anh kể tôi thấy tội nghiệp,
đời thuở
nhà ai chỉ vừa nghe nói tới tên cô bạn đã nghĩ ngay đây là người của
mình, rồi
lặn lội lên tận Đà Lạt, tới tận khu nội trú, chỉ để nghe, ở đây có một
cô sinh
viên có tên như thế nhưng đã về Sài-gòn.
Tôi biết anh còn muốn kể lại,
lần đầu tiên anh xuống xe đò, đi lang thang trên con lộ dẫn vào quận
lỵ, khi đi
ngang cây cầu gỗ, rồi tiếng đạn từ chi khu bắn đi nghe chát chúa bên
tai. Đó là
lần đầu tiên anh nhận ra chiến tranh có thật, và tất cả những gì anh
tưởng
tượng về cô bạn đều có thật. Mặt nước sông nhăn nhó để lộ sự giận dữ
của thiên
nhiên, vẻ gớm ghiếc của số mệnh. Cùng lúc anh nhận ra nỗi đau khổ, sự
thông
cảm. Sau mặt nạ đầy hăm dọa của dối trá, anh nhận ra một khuôn mặt
khác, một
cuộc đời khác, đúng không, đúng không?...
*
Khủng khiếp thay là trí tưởng tượng của Gấu!
Vừa nghe đánh ầm một tiếng, quả pháo đầu tiên từ chi khu bắn đi làm mặt
nước sông run lên bần bật, là cái đầu của Gấu cũng ngộ ra là, mình yêu
cô bạn, phải như thế, đúng như thế, nếu không làm sao có chấn động
khủng khiếp đến như thế, vào đúng lúc đó ?
Nhưng có thể, cảnh phiên chợ vội vàng thu vén, chờ đêm xuống, giao lại
cho VC, đã khiến cho tình cảnh thê thảm thêm lên chăng?
Ui
chao, bao nhiêu năm trời, vậy mà đọc Rừng Tràm một phát, là đồng loạt hiện về,
phiên chợ chiều Cai Lậy, cây cầu gỗ, và cô bạn, cô bạn….
NKTV
Ui chao, sao có
người ngu như thế, cô bạn "chửi": Vừa nghe đến tên tui, vậy mà đã mê
rồi, đã yên chí, đây là "cô bạn" của mình rồi, thì đúng là cù lần!
Chờ đợi hàng hàng kiếp kiếp, chỉ để gặp tui, nhìn thấy tui, vậy là bõ
công chờ
rùi, thì đúng là đại cù lần!
*
Ông Tây
mũi tẹt, như ông viết
ra thì GNV này mới biết, chuồn qua Tây, ngay từ khi cuộc chiến chưa
'hứa hẹn những
điều khủng khiếp', và sau đó làm nghề dậy học. Tự khoe, rất rành cả
tiếng Tây
lẫn tiếng Anh.
Tuy nhiên, sự
kiện ông ta dịch Sa Đọa của
Camus, từ những
ngày chủ nghĩa hiện sinh đang ‘hot' đó, và sau đó, bặt tiếng, cho thấy,
ông ta
cũng 1 thứ thời thượng, thấy Camus đang ăn khách, thì dịch, chứ cũng
chẳng biết
gì về Camus, về cái sự, 1 thằng miệt vườn như Camus, tởm Paris, tởm cái
đám Xác Xiệc như thế nào, và chính cái căn cước ‘miệt
vườn’ của Camus đó, làm cho ông trở nên bảnh, và cho đến bây giờ, vẫn
còn đọc được,
và được đọc, đúng như Vargas Llosa nhận xét:
Để hiểu
tác giả Kẻ Xa Lạ, thì chớ
bao giờ quên ba món đặc sản, đúng ra phải nói, ba cái cù lần của ông:
một kẻ
miệt vườn, một tên ven biên, và một gã thuộc cộng đồng thiểu số, a
provincial,
a man of the frontier, and a member of a minority. Cả ba món này, theo
tôi, đã
góp phần tạo nên cách cảm, cách viết và cách nghĩ của ông.
Camus là một gã miệt vườn theo đúng nghĩa thật nghiêm ngặt của cái từ
này, vì
ông sinh ra, được dậy dỗ và trưởng thành ở một nơi thật quá xa thành
phố, khu
thị tứ, chốn phồn hoa, ở một nơi thật xa nước Pháp: Algeria, Bắc Phi.
Khi ông
dời hộ khẩu thường trú vào Paris, ông vào lúc đó là đúng cái tuổi Cụ
Khổng gọi
là tam thập nhi lập, Vargas Llosa viết, yếu tính mà nói, thì ông đã là
cái mà ông sẽ
là suốt cuộc đời còn lại sau đó, he was already in essence what he
would be for
the rest of his life.
Với tất cả những sự kính trọng, chúng ta có thể phán, Camus là một anh
chàng
nhà quê, cù lần, miệt vườn, theo nghĩa tốt nhất, và tệ nhất của những
cái nón
này!
Thứ nhất, bởi vì, không như mấy thằng cha sống ở những thành phố lớn,
ông sống
trong một thế giới mà ‘quang cảnh quê ta’ thì luôn luôn tràn trề, chỉ
có nó, và
nó mới quyến rũ, mới quan trọng làm sao, làm sao xi măng, cát vữa, nhựa
đường…
so với nó cho được! Cái tình yêu thiên nhiên của Camus thì thường trực
ở trong
tác phẩm của ông. Trong những tác phẩm đầu tay – Beteween Yes and No
[Giữa
Ừ và Không Ừ], Noces [Hôn Lễ, Trần Thiện Đạo, trên báo Văn ngày
nào dịch
là Giao Cảm, nếu Gấu nhớ
không lầm], Mùa Hè, Minotaure ou halte d’Oran
[The Minotaur or the Shop in Oran]
- mặt trời, biển, cây cối, hoa lá,
đất cứng,
và những đụn cát nóng bỏng của Algeria là chất liệu thô, nguyên, ròng,
sẵn sàng
chờ được miêu tả, và mở ra suy tưởng.
Chúng là những điểm qui chiếu bắt buộc của tiểu luận gia trẻ tuổi, khi
ông toan
tính định nghĩa cái đẹp, nâng bi cuộc sống, hay lèm bèm về ‘ngứa quá,
ngứa quá’
[thiên hướng nghệ thuật, artistic vocation]. Cái đẹp, cuộc đời, nghệ
thuật,
chúng đan dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau
chuốt, tẩn
mẩn này, và biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên, a sort of natural
religion,
một sự hợp nhất thật bí ẩn với đất, với đá, với những thành phần thiên
nhiên [Ngày
sau sỏi đá cũng cần có nhau, là cũng theo nghĩa này], một sự thánh
hoá
thiên nhiên khiến tôi [Vargas Llosa] nhớ tới José Maria Arguedas, trong
những cuốn
tiểu thuyết của tác giả này cũng xẩy ra tình trạng tương tự.
Có thể
nói, anh Tây mũi tẹt
của Mít chúng ta, có đủ những phẩm chất, y hệt Camus, vậy mà thảm chưa,
suốt 1
đời chẳng làm được cái trò trống gì, chỉ ngửa cổ chờ ‘hồng ân’, nghĩa
là, chờ
VC đại xá, gật đầu cho về, vậy mà cũng hống hách, chê hết người
này đến
người khác, luôn cả những người viết thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư, chẳng
hề
biết "Tình
Yêu như Trái Phá" là gì, nhưng vẫn ưu tư về nó, về 1 câu hát, của
cái thời
đó đó, cái thời mà anh ta bỏ chạy, chẳng biết 1 tí chó gì!
Cái đẹp, cuộc đời, nghệ thuật,
chúng đan
dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau chuốt, tẩn mẩn
này, và
biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên...
Vargas Llosa
Ui chao, đúng là thứ Camus mà
GNV này đã đọc, cảm nhận, và sau đó,
thuổng, và
đẻ ra được tác phẩm đầu tay, nhà thơ TTT đọc một phát, sướng mê tơi, về
khoe
với bà cụ thân sinh, mẹ ơi thằng Trụ nó viết truyện đấy, và nó sẽ còn
đi xa hơn
DNM!
*
Villa
trông ra biển. Tường phía trước thấp. Gió từ
biển tới, vượt khoảng vườn nhỏ, mang những chiếc lá vàng trải lên thềm
nhà. Con
đường nhựa đen đúi, lầm lì chạy mải tới cuối thành phố. Bên kia con
đường, là
bãi biển, cát trắng và nóng. Xa hơn, về phía trái, nơi bắt đầu con
đường, con
sông nhỏ đổ nước ra biển làm đỏ lờ đờ một vùng. Xa hơn nữa, cuối tầm
nhìn, một
ngọn núi nằm trơ trọi, hình dáng nặng nề, thô kệch. Buổi tối, những
người dân
thường đốt rừng làm rẫy, xa trông, như một con rắn đỏ lập lòe.
Một chiếc xe ngựa đậu dưới bóng cây lớn ở trước cổng
ra vào.
Hai dẫy nhà nhỏ chạy dài ra vườn sau. Phòng H. ở cuối
một dẫy.
Những cây phi lao đứng im ở ngoài vườn.
Những
con dã tràng
Gấu có
1 anh bạn văn, tuy viết
cùng thời, có khi còn trước cả Gấu nữa, nhưng vẫn coi Gấu như 1 thứ đàn
anh, cả
về tuổi tác, về kinh nghiệm viết; anh rất mê Những Con Dã Tràng, và nhân vật
ho lao trong truyện.
Anh
phán, thằng cha ho lao ở
trong truyện ngắn đó, 'Camus hơn cả Camus', 'Meursault hơn cả
Meursault', nói
rõ ra, trong nhân vật đó, là cả Camus và Meursault cộng lại. Bởi vì,
ho lao, thì của Camus, chết chóc, của Meursault. Nổ 4 phát vào cái thân
người đã chết ngay từ cú thứ nhất!
Hơn
thế nữa, chất “sex” ở trong truyện mới cực khủng.
Cái xen cô em gái ngồi
võng, đu đa
đu đưa, đúng là một trận làm tình, khan, khô, đầy nóng, đầy
cát, có những con vật li ti, và đầy biển Nha Trang - Địa Trung Hải,
"đưa tới rồi lại đưa
lui", mà lại
ho lao nữa, mới tàn khốc chứ!
Tks,
many tks. Đọc như thế này
thì còn bảnh hơn là viết ra nữa!
Buổi
chiều ngày đầu, Q. nói với
tôi, H. là con gái lớn bà chủ nhà. Chúng tôi đứng ở cuối vườn. Bấy giờ
gió thổi
mạnh, cành lá xào xạc ở phía trên đầu. Đám phi lao ngập ngừng chuyển
mình, nửa
muốn phụ họa gió, nửa muốn kéo dài giấc ngủ im lìm buổi trưa. H. cùng
đứa em
đánh đu ở phía trước. Hàng cây che khuất tầm nhìn của tôi. Mỗi lần
chiếc đu trở
lui về phía sau, thân hình người con gái lại hiện ra giữa hai thân cây
phi lao,
rồi lại mất đi một cách đều đặn. Tiếng cười giòn, nhẹ và ấm vọng tới
chỗ chúng tôi.
Rồi gió thổi mạnh làm át đi tất cả; trong gió có những con vật bé li
ti, những
chiếc lá cây, và những hạt cát. Tôi dựa lưng vào thân cây phi lao, và
bỗng nhận
ra đời sống vô vị, buồn nản của mình, một đời sống không có gì để nhớ,
hoặc để
chờ: tôi chờ những lần chiếc đu trở lui về phía sau và cố nén cơn ho
thường lệ
buổi chiều.
Những
con dã tràng
Cái câu hát Tình Yêu như Trái
Phá, đối với riêng Gấu, nó đúng là giống như một cú mặc khải về cái
chết, về tình
yêu.
Gấu đã lèm bèm về nó, nhiều lần,
và cũng bị Gấu Cái cự đòi phen rồi:
Anh viết về nó, OK, nhưng tôi
không hiểu tại làm sao anh lại viết về “nó”, trong 1 bài viết về ông
nội của mấy
đứa trẻ. Hử, hử?
Cả đời viết lách của Gấu, Gấu
Cái chỉ bực, có hai lần, một lần là về cái nick Tuấn Anh. Tuấn là tên
thằng cu
lớn, còn Anh, là tên… cô bạn.
Và lần kia, là về Tình Yêu như
Trái Phá, ở cái đoạn sau đây, trong Tự
Truyện
Ông bị đám người vũ trang thủ
tiêu bằng cách buộc đá bỏ xuống sông, như lời một người bạn tù nào đó
kể lại.
Theo lời kể, cha anh đã không giả ngu giả dại như người khác. Cái tính
lì lợm,
bướng bỉnh nhưng dễ tin người, di truyền tới anh, trở thành ngu ngơ,
khù khờ,
nếu không muốn nói là đần độn. Có lần nghe anh kể tôi thấy tội nghiệp,
đời thuở
nhà ai chỉ vừa nghe nói tới tên cô bạn đã nghĩ ngay đây là người của
mình, rồi
lặn lội lên tận Đà Lạt, tới tận khu nội trú, chỉ để nghe, ở đây có một
cô sinh
viên có tên như thế nhưng đã về Sài-gòn.
Tôi biết anh còn muốn kể lại,
lần đầu tiên anh xuống xe đò, đi lang thang trên con lộ dẫn vào quận
lỵ, khi đi
ngang cây cầu gỗ, rồi tiếng đạn từ chi khu bắn đi nghe chát chúa bên
tai. Đó là
lần đầu tiên anh nhận ra chiến tranh có thật, và tất cả những gì anh
tưởng
tượng về cô bạn đều có thật. Mặt nước sông nhăn nhó để lộ sự giận dữ
của thiên
nhiên, vẻ gớm ghiếc của số mệnh. Cùng lúc anh nhận ra nỗi đau khổ, sự
thông
cảm. Sau mặt nạ đầy hăm dọa của dối trá, anh nhận ra một khuôn mặt
khác, một
cuộc đời khác, đúng không, đúng không?...
*
Khủng khiếp thay là trí tưởng tượng của Gấu!
Vừa nghe đánh ầm một tiếng, quả pháo đầu tiên từ chi khu bắn đi làm mặt
nước sông run lên bần bật, là cái đầu của Gấu cũng ngộ ra là, mình yêu
cô bạn, phải như thế, đúng như thế, nếu không làm sao có chấn động
khủng khiếp đến như thế, vào đúng lúc đó ?
Nhưng có thể, cảnh phiên chợ vội vàng thu vén, chờ đêm xuống, giao lại
cho VC, đã khiến cho tình cảnh thê thảm thêm lên chăng?
Ui
chao, bao nhiêu năm trời, vậy mà đọc Rừng Tràm một phát, là đồng loạt hiện về,
phiên chợ chiều Cai Lậy, cây cầu gỗ, và cô bạn, cô bạn….
NKTV
Ui chao, sao có
người ngu như thế, cô bạn "chửi": Vừa nghe đến tên tui, vậy mà đã mê
rồi, đã yên chí, đây là "cô bạn" của mình rồi, thì đúng là cù lần!
Chờ đợi hàng hàng kiếp kiếp, chỉ để gặp tui, nhìn thấy tui, vậy là bõ
công chờ
rùi, thì đúng là đại cù lần!
*
Ông Tây
mũi tẹt, như ông viết
ra thì GNV này mới biết, chuồn qua Tây, ngay từ khi cuộc chiến chưa
'hứa hẹn những
điều khủng khiếp', và sau đó làm nghề dậy học. Tự khoe, rất rành cả
tiếng Tây
lẫn tiếng Anh.
Tuy nhiên, sự
kiện ông ta dịch Sa Đọa của
Camus, từ những
ngày chủ nghĩa hiện sinh đang ‘hot' đó, và sau đó, bặt tiếng, cho thấy,
ông ta
cũng 1 thứ thời thượng, thấy Camus đang ăn khách, thì dịch, chứ cũng
chẳng biết
gì về Camus, về cái sự, 1 thằng miệt vườn như Camus, tởm Paris, tởm cái
đám Xác Xiệc như thế nào, và chính cái căn cước ‘miệt
vườn’ của Camus đó, làm cho ông trở nên bảnh, và cho đến bây giờ, vẫn
còn đọc được,
và được đọc, đúng như Vargas Llosa nhận xét:
Để hiểu
tác giả Kẻ Xa Lạ, thì chớ
bao giờ quên ba món đặc sản, đúng ra phải nói, ba cái cù lần của ông:
một kẻ
miệt vườn, một tên ven biên, và một gã thuộc cộng đồng thiểu số, a
provincial,
a man of the frontier, and a member of a minority. Cả ba món này, theo
tôi, đã
góp phần tạo nên cách cảm, cách viết và cách nghĩ của ông.
Camus là một gã miệt vườn theo đúng nghĩa thật nghiêm ngặt của cái từ
này, vì
ông sinh ra, được dậy dỗ và trưởng thành ở một nơi thật quá xa thành
phố, khu
thị tứ, chốn phồn hoa, ở một nơi thật xa nước Pháp: Algeria, Bắc Phi.
Khi ông
dời hộ khẩu thường trú vào Paris, ông vào lúc đó là đúng cái tuổi Cụ
Khổng gọi
là tam thập nhi lập, Vargas Llosa viết, yếu tính mà nói, thì ông đã là
cái mà ông sẽ
là suốt cuộc đời còn lại sau đó, he was already in essence what he
would be for
the rest of his life.
Với tất cả những sự kính trọng, chúng ta có thể phán, Camus là một anh
chàng
nhà quê, cù lần, miệt vườn, theo nghĩa tốt nhất, và tệ nhất của những
cái nón
này!
Thứ nhất, bởi vì, không như mấy thằng cha sống ở những thành phố lớn,
ông sống
trong một thế giới mà ‘quang cảnh quê ta’ thì luôn luôn tràn trề, chỉ
có nó, và
nó mới quyến rũ, mới quan trọng làm sao, làm sao xi măng, cát vữa, nhựa
đường…
so với nó cho được! Cái tình yêu thiên nhiên của Camus thì thường trực
ở trong
tác phẩm của ông. Trong những tác phẩm đầu tay – Beteween Yes and No
[Giữa
Ừ và Không Ừ], Noces [Hôn Lễ, Trần Thiện Đạo, trên báo Văn ngày
nào dịch
là Giao Cảm, nếu Gấu nhớ
không lầm], Mùa Hè, Minotaure ou halte d’Oran
[The Minotaur or the Shop in Oran]
- mặt trời, biển, cây cối, hoa lá,
đất cứng,
và những đụn cát nóng bỏng của Algeria là chất liệu thô, nguyên, ròng,
sẵn sàng
chờ được miêu tả, và mở ra suy tưởng.
Chúng là những điểm qui chiếu bắt buộc của tiểu luận gia trẻ tuổi, khi
ông toan
tính định nghĩa cái đẹp, nâng bi cuộc sống, hay lèm bèm về ‘ngứa quá,
ngứa quá’
[thiên hướng nghệ thuật, artistic vocation]. Cái đẹp, cuộc đời, nghệ
thuật,
chúng đan dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau
chuốt, tẩn
mẩn này, và biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên, a sort of natural
religion,
một sự hợp nhất thật bí ẩn với đất, với đá, với những thành phần thiên
nhiên [Ngày
sau sỏi đá cũng cần có nhau, là cũng theo nghĩa này], một sự thánh
hoá
thiên nhiên khiến tôi [Vargas Llosa] nhớ tới José Maria Arguedas, trong
những cuốn
tiểu thuyết của tác giả này cũng xẩy ra tình trạng tương tự.
Có thể
nói, anh Tây mũi tẹt
của Mít chúng ta, có đủ những phẩm chất, y hệt Camus, vậy mà thảm chưa,
suốt 1
đời chẳng làm được cái trò trống gì, chỉ ngửa cổ chờ ‘hồng ân’, nghĩa
là, chờ
VC đại xá, gật đầu cho về, vậy mà cũng hống hách, chê hết người
này đến
người khác, luôn cả những người viết thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư, chẳng
hề
biết "Tình
Yêu như Trái Phá" là gì, nhưng vẫn ưu tư về nó, về 1 câu hát, của
cái thời
đó đó, cái thời mà anh ta bỏ chạy, chẳng biết 1 tí chó gì!
Cái đẹp, cuộc đời, nghệ thuật,
chúng đan
dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau chuốt, tẩn mẩn
này, và
biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên...
Vargas Llosa
Ui chao, đúng là thứ Camus mà
GNV này đã đọc, cảm nhận, và sau đó,
thuổng, và
đẻ ra được tác phẩm đầu tay, nhà thơ TTT đọc một phát, sướng mê tơi, về
khoe
với bà cụ thân sinh, mẹ ơi thằng Trụ nó viết truyện đấy, và nó sẽ còn
đi xa hơn
DNM!
*
Villa
trông ra biển. Tường phía trước thấp. Gió từ
biển tới, vượt khoảng vườn nhỏ, mang những chiếc lá vàng trải lên thềm
nhà. Con
đường nhựa đen đúi, lầm lì chạy mải tới cuối thành phố. Bên kia con
đường, là
bãi biển, cát trắng và nóng. Xa hơn, về phía trái, nơi bắt đầu con
đường, con
sông nhỏ đổ nước ra biển làm đỏ lờ đờ một vùng. Xa hơn nữa, cuối tầm
nhìn, một
ngọn núi nằm trơ trọi, hình dáng nặng nề, thô kệch. Buổi tối, những
người dân
thường đốt rừng làm rẫy, xa trông, như một con rắn đỏ lập lòe.
Một chiếc xe ngựa đậu dưới bóng cây lớn ở trước cổng
ra vào.
Hai dẫy nhà nhỏ chạy dài ra vườn sau. Phòng H. ở cuối
một dẫy.
Những cây phi lao đứng im ở ngoài vườn.
Những
con dã tràng
Gấu có
1 anh bạn văn, tuy viết
cùng thời, có khi còn trước cả Gấu nữa, nhưng vẫn coi Gấu như 1 thứ đàn
anh, cả
về tuổi tác, về kinh nghiệm viết; anh rất mê Những Con Dã Tràng, và nhân vật
ho lao trong truyện.
Anh
phán, thằng cha ho lao ở
trong truyện ngắn đó, 'Camus hơn cả Camus', 'Meursault hơn cả
Meursault', nói
rõ ra, trong nhân vật đó, là cả Camus và Meursault cộng lại. Bởi vì,
ho lao, thì của Camus, chết chóc, của Meursault. Nổ 4 phát vào cái thân
người đã chết ngay từ cú thứ nhất!
Hơn
thế nữa, chất “sex” ở trong truyện mới cực khủng.
Cái xen cô em gái ngồi
võng, đu đa
đu đưa, đúng là một trận làm tình, khan, khô, đầy nóng, đầy
cát, có những con vật li ti, và đầy biển Nha Trang - Địa Trung Hải,
"đưa tới rồi lại đưa
lui", mà lại
ho lao nữa, mới tàn khốc chứ!
Tks,
many tks. Đọc như thế này
thì còn bảnh hơn là viết ra nữa!
Buổi
chiều ngày đầu, Q. nói với
tôi, H. là con gái lớn bà chủ nhà. Chúng tôi đứng ở cuối vườn. Bấy giờ
gió thổi
mạnh, cành lá xào xạc ở phía trên đầu. Đám phi lao ngập ngừng chuyển
mình, nửa
muốn phụ họa gió, nửa muốn kéo dài giấc ngủ im lìm buổi trưa. H. cùng
đứa em
đánh đu ở phía trước. Hàng cây che khuất tầm nhìn của tôi. Mỗi lần
chiếc đu trở
lui về phía sau, thân hình người con gái lại hiện ra giữa hai thân cây
phi lao,
rồi lại mất đi một cách đều đặn. Tiếng cười giòn, nhẹ và ấm vọng tới
chỗ chúng tôi.
Rồi gió thổi mạnh làm át đi tất cả; trong gió có những con vật bé li
ti, những
chiếc lá cây, và những hạt cát. Tôi dựa lưng vào thân cây phi lao, và
bỗng nhận
ra đời sống vô vị, buồn nản của mình, một đời sống không có gì để nhớ,
hoặc để
chờ: tôi chờ những lần chiếc đu trở lui về phía sau và cố nén cơn ho
thường lệ
buổi chiều.
Những
con dã tràng
Tôi là
một người đàn bà sung
sướng một cách khủng khiếp, một cách tận cùng sâu thẳm
Je ne suis pas un démon, je suis la seule
femme qui a osé publier le
meilleur et le pire de ce qu'elle a vécu.
Tôi không phải là một con quỷ [dâm đãng], tôi là một người đàn bà độc
nhất đã
dám cho in cái đẹp nhất và cái tồi tệ nhất mà người đó đã sống.
À lire : Poser nue à nue à la
Havane.
Anaïs Nin à Cuba,
Wendy Guerra, traduit de l'espagnol (Cuba)
par Marianne Millon, éd. Stock,
« La Cosmopolite » 312 p., 20 €.
*
Mi giống như một con Gấu: Tất cả sự
êm ái dịu dàng được bọc bằng một cái vỏ
cứng cỏi, cùng với sự sần sùi tuyệt vời của nó, khiến ta chảy tan ra.
Ta thật
là buồn vì nhà ngươi chẳng bao giờ chịu khó hiểu ta thêm một chút. Tại
sao mi
không cố hiểu thêm về ta, mà cứ thế ngưng lại, dậm chân tại chỗ?
Chiều hôm qua, ta tự hỏi, làm thế nào, để ta có thể chứng tỏ cho mi
thấy,
là ta yêu thương mi biết là chừng nào. Làm sao chứng tỏ cho mi biết,
bằng một
phương tiện cho dù mắc mỏ cỡ nào đối với ta, rằng ta thương mi?
Và ta chỉ tìm ra được một phương tiện, đó là gửi tiền cho mi, để mi đi
chơi
với con mụ đàn bà nào đó.
Gấu Cái.
Thư của Anais Nin, bồ của Henry Miller, có
sửa đổi chút đỉnh, cho hợp với
tình cảnh vợ chồng Gấu!
[Tu es comme l'ours, Henry: tout de douceur dans une enveloppe de
dureté,
avec une délicieuse rugosité suave qui me fait fondre...]
*
You only live twice
Or so it seems.
One life for yourself
One for your dream
Bạn chỉ sống hai
phùa
Một phùa sống
Một phùa mơ
10
Questions for Ray Kurzweil
Liệu có lầm khi sử dụng những biến cố mới
xẩy ra gần đây như là một phương pháp dự đoán tương lai?
Dự cảm, trực giác của chúng ta
về tương
lai thì đi theo lối đường thẳng, tuyến tính. Nhưng thực tại về kỹ thuật
thông
tin thì lại đi theo lối nhẩy vọt, luỹ thừa, số mũ, và điều này đưa đến
1 sự cực
khác biệt. Nếu tôi đi 30 bước đường thẳng, thì chỉ tới 30. Nếu tôi đi
30 bước
số mũ, tôi tới con số 1 tỉ.
Có 1 cái còm thật
tuyệt: Nếu ông này đi 30 bước số mũ, tới 1 tỉ, và vào thời điểm đó, hỏi
ông ta
10 câu, như trên, thì ông ta cũng vẫn trả lời y chang!
[I think that
Kurzweil may be giving this same interview for next 10,000 years]
Trong
nước, có 1 tay VC [Thái
Dúi, GNV mới check lại], qua blog của anh ta, sử dụng mấy phim ảnh gần
đây của
Hồ Ly Út, để tiên đoán về nước Mẽo, sắp ngỏm rồi, theo anh ta. Nhưng
trong
những phim anh ta đưa ra để minh chứng, có SALT. Phim này nói về Cái Ác
Đỏ, bắt
cóc bào thai từ khi còn trong bụng mẹ, huấn luyện làm điệp viên, rồi
tung vào
Tây Phương, đặc biệt là vào Mẽo. Nó có gì tương tự với Nazi, khi thành
lập
những xưởng đẻ và nuôi con nít, mà Gấu có lần đọc trên một số
L'Express, với "Bắt
Trẻ Đồng Xanh", tên 1 bài viết của Võ Phiến, về chiến dịch lùa con nít
Miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc, nuôi cuộc chiến dù kéo dài 100 năm
cũng OK,
chết bao nhiêu thì cũng kệ, của Bắc Bộ Phủ.
Nếu như
vậy, thì có mắc mớ gì
đến Mẽo và tương lai của nó?
Thái
Dúi là nick của một bạn tù VC của Gấu, những ngày
cải tạo tại nông trường Phạm Văn Cội, Củ Chi.
Khi
Gấu sử dụng cái nick
này cho
ông VC này, là cũng để chứng tỏ, ngầm với mình, biết đâu đấy, đây có
thể là BVVC của
GNV!
Hà, hà!
Anh
ta không làm sao hiểu được, và có lần mail cho Gấu, phán, mi đúng
là 1 tên
vô học!
Những
cái nick như trên, mỗi cái nick là 1 kỷ niệm,
những ngày tù VC của GNV. Nào là Sơn Mê Ô, tức Sơn Méo, đọc theo kiểu
Phá Lang
Xa, nào là Hùng Võ Sĩ, Hùng Ghe, [Hùng Ghẻ], Thành Phăng Tô Ma… ui chao
sao mà
GNV có quá nhiều bạn tù đến như thế, và với mỗi ông bạn là 1 kỷ niệm
thần sầu!
Kỷ
niệm về Thái Dúi, hình như GNV cũng đã có lần lèm bèm
rồi, liên quan tới lần đầu tiên Gấu Cái lên nông trường cải tạo thăm
nuôi Gấu.
Bả
mặc đồ bà ba, và gần như cả đám đàn ông con trai tù đổ xô ra ngắm!
Thái Dúi đi
1 đường bình loạn, lần sau chị đi thăm anh, chị nhớ mặc áo dài, tụi này
thèm nhìn
cái áo dài Sài Gòn ngày nào, để đỡ nhớ nó!
Gấu Cái đỏ mặt, chắc là ngượng, phán, áo dài đâu ra, bán
nuôi tụi nhỏ và nuôi tù hết rồi!
Những kẻ thù quốc gia [Ennemis
publics]
Blog NL
Từ này, thường vẫn được dịch, và
hiểu, kẻ thù của công chúng, với những ông
nổi cộm như Al Capone, thí dụ.
Blog NL được coi là hot nhất, do
mức độ, chất lượng và số lượng ‘còm’ mỗi
ngày, nay đóng cửa tạ khách, cũng là điều đáng buồn.
Có cái gì đó, khiến đám Mít ngày 1
co vòi lại, sau talawas đóng cửa, tới mấy
cái blog « hon hót », như Chu Choa, thí dụ, cũng đóng cửa tạ
khách,
trong khi blog thế giới, tha hồ còm, Trùm hay không Trùm.
Chán thật !
Có vẻ như có 1 chiến dịch tự bịt
miệng, thay vì đợi nhà nước?
Is
there an
aphorism you keep close to your heart?
Liệu có 1 câu "bùa chú" nào ông
ôm ấp ở
trong tim?
"The only measure of success is how much time you have to kill."
Cách độc nhất để đo đếm [đô la] sự thành công, là, bạn cần bao nhiêu
thời giời
gian để tự làm thịt mình.
Tự bịt miệng, thì cũng rứa!
Cõi văn Tây, với riêng Gấu,
chấm dứt với Camus. Cái tay này, Michel Houellebecq, đến mẹ ông ta mà
cũng không
chịu nổi, làm sao chúng ta chịu nổi? Lẽ tất nhiên, đây chỉ là định
kiến, nhưng
biết làm sao được, con người mà! Gấu chưa từng đọc, lấy 1 dòng của ông
ta, nhưng
có đọc, bài phỏng vấn trên The Paris
Review, để biết.
Tôi không thích nhà trường.
Tôi nghĩ nó giống như chiếc giường của Procrustes. Tay này là chủ 1
quán trọ, sau khi đãi khách 1 bữa thật bảnh, thì bèn lùa khách lên 1
cái giường, dài quá, thì chặt bớt, ngắn quá thì căng ra.
Trường học thì cũng như cái giường của tay chủ quán, theo tôi, nó làm
thịt bất cứ một thú vui, trong cái sự biết, và khám phá ra sự vật.
Dần dà, tôi ngộ ra 1 điều, điều mà tôi “care” nhiều nhất, là cái mà
chúng ta đếch biết!
Nếu ông nằm
trên cái giường
Procrustes, thì ông thích cắt hay căng.. cẳng của ông?
Có lẽ cả hai. Có những tuyệt
chiêu mà tôi không có, thành thử phải có người căng tôi ra. Cắt cẳng
của tôi
xẩy ra khi mọi người không coi là nghiêm trọng những gì mà tôi đưa ra
về sự
hiểu biết cơ bản về tính xác xuất, thành thử sau cùng, chúng ta đành
phải chấp
nhận là có những sai sót ngay khi thành lập môn khoa học về xác xuất và
kinh
tế.
Ông bi quan
hay lạc quan.
Đã nói rồi, đây là câu chuyện
về cắt hay là căng cẳng [không biết có cẳng giữa không?]. Tôi lạc quan
ở vài
vấn đề. Có những điều chúng giúp chúng ta bi quan, ngay cả khi trái tim
của bạn
không bi quan. Tôi muốn là 1 viên phi công bi quan, nhưng tôi lại muốn
tay biên
tập sách của tôi lạc quan.
Trong Thiên
Nga Đen, ông
khuyên mọi người nên kiếm một công việc lãnh lương giờ. Trong “Cái
giường của
Procrustes”, ông chống đối những công việc có tính truyền thống. Làm
sao một
người trẻ chọn công việc để đeo đuổi?
Điều đó không đúng. Tôi đã
giải thích vài lần là tôi không tin giai cấp trung lưu vì họ dễ bị tổn
thương,
yếu như sên, không chắc chắn, chẳng có gì bảo đảm, an tâm về họ, và
không cường
tráng, không vững như bàn thạch. Tôi không hề nói, đừng làm những việc
làm đều
đặn, bình thường. Nhưng tôi nói, “Bạn sẽ trở thành 1 tù nhân về mặt đạo
hạnh,
không chỉ về mặt cơ thể, vật chất, một khi bạn làm 1 việc làm chuyên
nghiệp, có
tính trung lưu."
Ông cảnh
báo về một khủng
hoảng tài chính, và đúng như thế. Ông có tiên tri về những khủng hoảng
khác?
Có. Bất hạnh thay, và đó là
khủng hoảng nợ. Thị trường chứng khoán sụp xuống, nhưng mấy ông giám
đốc điều
hành thì lại giầu sụ, vì họ có tiền thưởng, và ‘no maluses’, [từ chuyên
môn, chịu
thua]. Mọi người thất nghiệp vì những lỗi lầm của họ. Khó mà tránh
[khủng
hoảng] ngoại trừ cải tổ thật căng, thật dữ. Nhưng tôi không tin vào
nhân loại,
nếu nói về 1 cú cực cải tổ như vậy.