Trên đầu còn có lời đề tặng.
Tặng Dung. Làm năm 1970
(1) Vụ này, hình như là do một em Bắc Kít,
tác giả
Chuyện Tình Bướm Mít ở Nữu Ước gì gì đó, đã từng chôm thơ của ai đó,
chôm cả thơ
của bạn ta, thì phải?
*
Borges có một câu trứ danh,
Một bài thơ, đúng lúc [tới điểm cực khoái, hay cực khổ của nó?], biến
thành bi
khúc.
Every poem in time becomes an elegy
Borges: Possession of Yesterday [Sở hữu Ngày hôm qua]
Câu này mà áp dụng cho bạn ta thì thật tuyệt:
Và còn có thể áp dụng chung cho mọi bài thơ "in time" của Miền Nam
sau 1975.
*
Trong bài nghiên cứu dài thòng, "Borges và Nghệ Thuật Tưởng Niệm"
(1),
Thomas H. Ogden, M.D. đã dựa vào hai bài thơ xuôi của Borges, cả hai
đều được
viết sau khi ông gặp hai mất mát lớn lao trong đời, và từ đó, đề nghị:
Cái sự tưởng niệm hết đỗi bảnh kia [tác phẩm "Pierre Menard, Author of
the
Quixote" [1941], và "Borges và Tôi" [1941], chúng xoáy vào một
yêu cầu mà chúng ta tự hứa với chúng ta, làm sao tạo ra được một điều
gì đó -
hoặc một hồi nhớ, một giấc mơ, một câu chuyện, một bài thơ, một đáp ứng
cho một
bài thơ, và cái một điều gì đó này sẽ được đẻ ra, sao cho xứng đáng,
sao cho
ngang bằng với cái mất mát khổng lồ kia, hoặc có liên quan tới nó, hoặc
đây
chính là, kinh nghiệm, chính sự mất mát.
(1) Bài viết này, Gấu có. Bi giờ, ai muốn đọc, là phải chìa đít
[credit] ra!
Trong bài đọc Chuyện Kể Năm 2000, khi thiên hạ khen um
lên, một tuyệt tác, Gấu này
đã lên tiếng, cảnh
báo, coi chừng, coi chừng, dựa theo Walter Benjamin, khi ông phán, "Mọi
tài liệu về văn minh đều là một tài liệu về dã man".
Và từ đó, có vẻ như mấy ông Hàn [đã thấm đòn của Benjamin?, hay của
Gấu, khi lập
lại?], bèn thay đổi hẳn cách cho Nobel.
Và Gấu bèn gật gù, đi một đường ngợi khen, chỉ có mấy năm gần đây thôi,
Nobel mới
xứng đáng là giải thưởng văn học số 1 trên thế giới.
Trước đây, Nobel được trao cho những tác giả có những thành tựu khổng
lồ, suốt
đời... Bi giờ, bạn chỉ cần một tác phẩm hách xì xằng, và tác phẩm hách
xì xằng
này, khi được viết ra, cũng chẳng để vinh danh tập thể, đám đông, nhân
loại...
Cao Hành Kiện là một ví dụ tuyệt vời: Lịch sử một cá nhân chống lại
lịch sử cả
một lũ, cả một cộng đồng, cả một dân tộc.
*
Và từ đó, Gấu phân biệt ra được, có một khoảng cách rất lớn giữa tác
phẩm người
tù của Bùi Ngọc Tấn, và của những sĩ quan Ngụy cải tạo như Nguyễn Xuân
Thiệp,
Thanh Tâm Tuyền.
*
Sự tương phản càng nổi bật, khi so sánh những dòng thơ của một "ngục
sĩ"
Nguyễn Chí Thiện – mộc mạc, chơn chất - với những dòng thơ của một sĩ
quan cải
tạo như Nguyễn Xuân Thiệp trong "Tôi Cùng Gió Mùa". Như "hắn"
và ông Thanh Vân, ‘mỗi người một mặt bằng khác nhau’, số phận của
Nguyễn Chí
Thiện nghiệt ngã hơn nhiều: ông từ chối những chói lòa của thơ văn cách
mạng, từ
chối làm cai tù, chấp nhận làm ngục sĩ liên miên. Ông đâu biết trút nỗi
đau của
ông vào đâu, nên đành cứ nhè ông Hồ mà "vạc", nhè chế độ mà "chửi",
rồi quăng vào tòa đại sứ, hy vọng những lời chửi của ông vọng tới thế
giới bên
ngoài. "Tã trắng thắng cờ hồng", một ẩn dụ thơ như thế là từ đời sống
mà ra. Hy vọng "tã trắng thắng cờ hồng" của ông, là trông vào một Miền Nam
ông chưa từng biết tới. Hãy nhớ lại nỗi đau của ông, khi nghe tin Miền Nam
thất trận.
Còn những
dòng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát của Nguyễn Xuân Thiệp, là do đằng sau
ông có cả
một đồng đội, cả một chân lý, lẽ phải, chính nghĩa mà chỉ khi vào tù
ông mới có
được. (Hãy nhớ lại giấc mơ của "nhân loại", khi Cộng Sản Miền Bắc còn
che giấu được mục đích chiếm đoạt Miền Nam, bằng cuộc kháng chiến
thần
thánh chống Mỹ cứu nước, thống nhất hai miền: Mơ sáng ngủ dậy, thấy
biến thành
người Việt!)
Văn nào,
thơ nào? Ngay cả những dòng thơ của Paul Celan mà còn bị lạm dụng.
Nhưng đây
không phải lỗi của ông, như nhà thơ Auden đã từng nói: "Không một thi
sĩ
nào có thể ngăn cấm, thơ của mình bị người đời sử dụng như là một trò
phù thuỷ."
Bài thơ "Điệu Tango của Thần Chết" của Celan, sau chiến tranh, đã đem
đến cho người Đức một niềm khuây khỏa lớn lao, kỳ diệu, chẳng thua gì
câu chuyện
"khôi hài đen", một nghệ thuật lớn vốn thịnh hành cùng lúc đó:
"Người Đức sẽ chẳng bao giờ có thể tha thứ cho người Do Thái về
Auschwitz!". Chính vì thế, mà Adorno cảnh cáo tiếp: Hãy coi chừng! Ngay
cả
nỗi đau lớn, khi được đưa vào thành tứ thơ, khổ thơ, phổ thành vần
thành điệu,
thì vẫn làm cho hiện tượng kia có thêm sự huyền nhiệm, về một điều có
thể chấp
nhận được – a mystery of acceptability – (Phỏng vấn G. Steiner). Đây
cũng là lý
do tại sao những vần thơ mộc mạc của Nguyễn Chí Thiện vẫn chuyển tải
được Cơn
Kinh Hoàng của thế kỷ: nó vẫn còn đúng với thực tại Việt Nam:
Còn Đảng là còn Khổ,
Hết Đảng là có Phở!
Đọc muộn thơ bạn
Tôi Cùng Gió Mùa
Tôi Cùng Gió Mùa, in dưới bảng hiệu nhà xb Văn Học. Khi đó
Gấu làm công cho NMG, ông
bèn thẩy cho một cuốn.
Thành thử chẳng có lời đề tặng.
Nhưng cái duyên văn nghệ nó lại mắc mớ đến tờ VHNT của PCL, mà trụ sở
của nó ở Texas.
Lần bà chủ báo lấy chồng, có mời vợ chồng Gấu.
Bèn quyết định đi dự, nhân tiện gặp NXT luôn. Khi đó anh làm một tờ báo
văn học
[Phố Văn?] và Gấu có gửi bài đăng.
Nhưng chuyến đi phải huỷ, vào phút chót, vì cái dịch cúm gà cúm vịt gì
đó, phát
tác tại thành phố Gấu đang ở.
Đi, chẳng lẽ mang virus theo, gieo họa cho bè bạn ?
Giả như trong đám cưới, có người biết, trong số khách mời có người đến
từ
"thành phố bị vây hãm", làm sao họ dám tới dự?
*
Vì vậy, gọi là bạn, cũng hơi cường điệu.
Nhưng thực sự, Gấu tin, NXT coi Gấu là bạn.
Ấy là vì một cái thư anh gửi, cám ơn, khi nhận được cuốn sách Gấu gửi
tặng. Lời
lẽ trong thư khiến Gấu tin như vậy.
*
Bạn văn. Dựa hơi bạn bè.
Sao nghe cứ ra dựa lưng nỗi chết?
Tình trạng của Gấu mới thảm. Hồi mới lớn, mê văn chương, chưa ghê bằng
mê bạn.
Hoặc hai cái mê đó là một.
Thế rồi, gặp thảm họa, rớt xuống bùn đen. Mấy ông bạn quí mừng quá!
*
Cái cay đắng của mấy đấng bạn thân, bạn quí, bạn hiếm của Gấu, về già
Gấu hiểu
ra được, nhân một ông cũng tốt nghiệp cử nhân triết, Đại học Văn Khoa
Sài Gòn,
phán, Gấu không phải thuộc lớp khoa bảng [như ông ta?].
Đó là do họ đều học triết, và đều nghĩ, chỉ có họ mới có quyền nói về
triết, về
hiện sinh, về phận người, về Camus, về Sartre...
Mấy ông Mít học trường Tây, thì lại nghĩ khác: Mày có biết tiếng Tây
không đấy,
mà đòi đọc?
*
Ông anh nhà thơ của Gấu chẳng đã từng thực sự ngạc nhiên, khi nghe Gấu
nói, mê
cuốn Buồn Nôn của Sartre, và đã từng bật cười khi nghe thằng em hét: Sẽ
viết về
thơ của ông anh.
-Ừ thì viết đi!
Nhưng với ông, là vấn đề 'ngộ' hay không 'ngộ', một tư tưởng triết học.
Một cõi
thơ.
Hiểu, với ông, có nghĩa là đốn ngộ, là... mặc khải!
*
Thành thử, về già, gật gù nói, thằng đó bạn tao, nó khác rất nhiều, so
với khi
còn trẻ.
*
Trở lại chuyện tra từ điển.
Nhà văn Lâm Chương có lần cho biết, ông không biết nghĩa của từ hận
thù, cho
tới khi đi tù VC.
Cũng theo ý đó, Léon Bloy viết:
L'homme a des endroits de son pauvre coeur qui n'existent pas encore et
où la
douleur entre afin qu'ils soient.
Trái tim đáng thương của con người có những vùng chưa hề có, cho đến
khi đau
thương tiến vào. Và tạo ra chúng.
[W.G. Sebald trích dẫn, làm đề từ cho bài viết "Sự Hối Hận Của Con Tim:
Về
Hồi Ức và Sự Độc Ác trong Tác Phẩm của Peter Weiss", The Remorse of the
Heart: On Memory and Cruelty in the Works of Peter Weis, trong "Lịch sử
tự
nhiên về huỷ diệt, On the natural history of destruction", nhà xb
Vintage
Canada, Anthea Bell dịch, từ tiếng Đức].
Oanh kích vs
Pháo kích
Câu của Bloy, ứng vô trường hợp của Gấu. Có
tí khác:
Có những kỷ niệm, hồi ức, mà bạn quên hẳn chúng, chỉ tới khi đau thương
bất ngờ
thọi cho bạn những cú chết người, và làm bật chúng ra!
*
9- Paul Eluard: Nhà thơ phải
là công
dân có ích nhất trong tập thể của y. Thơ không phải một đồ mỹ thuật
nhưng là
một đồ vật hữu dụng. Thơ thành ra cách bài trí…Thơ giao tranh để đoàn
kết mọi
người.
Nguồn
Thú thực, Gấu rất ớn những câu phán vô tội vạ
như thế
này. Bởi vì không có nguyên tác đi kèm, thành thử, không làm sao kiểm
chứng
được. Tin Văn luôn cố làm sao, có ngay kèm câu tiếng Việt, nguyên tác,
hoặc một
bản dịch, không phải tiếng Việt, của nó.
Những từ đáng ngờ ở trong câu trên là "công dân có ích nhất trong tập
thể
của y", "thơ là đồ vật hữu dụng... Thơ giao tranh..."
Quái đản quá!
Tuy nhiên, Gấu post lại câu trên, là vì nó có
liên
quan tới bài viết, về thơ của NXT.
Thảo nguyên vs Trại tù.
*
Since its publication, in 1923, “The Prophet”
has sold
more than nine million copies in its American edition alone. There are
public
schools named for Gibran in Brooklyn and Yonkers.
“The Prophet” has been recited at countless weddings and funerals.
Kể từ khi được xuất bản vào năm 1923, Nhà Tiên Tri bán được hơn
9 triệu
cuốn, chỉ tính phần Mẽo in mà thôi. Có những trường công lập tên Gibran
ở khu
Brooklyn, và Yonkers.
Nhà Tiên Tri được hát lên ở những đám cưới,
và khóc lên ở
những đám ma.
*
Ui chao, Tôi cùng gió mùa thật xứng đáng, hoặc hát lên, hoặc
khóc lên, y
chang! Với, chỉ người Việt hải ngoại mà thôi.
Nhưng, ở trong nước, có thể ngược lại: Hát lên ở đám ma, và khóc lên, ở
đám
cưới!
Mấy
anh VC bốc phét, cú Xô Viết Nghệ Tĩnh là Tổng Diễn Tập cho cú Cách Mạng
Tháng
Tám; Tết Mậu Thân, Thực Tập Lớn cho Đại Thắng Mùa Xuân 1975.
Giả như học tập tốt, lao động tốt, thực hành tốt, bài bốc phét trên,
chúng ta
có thể coi Tôi cùng gió mùa, Thơ ở đâu xa, cái mầm của
chúng là từ
khí hậu Miền Nam?
Rằng: Chỉ có một cuộc sống như thế, thì, khi
gặp hiểm nguy, thì, mới có cứu
rỗi?
Đúng
như thế. Đây đúng là ý của Holderlin, khi phán:
Nhưng chỉ ở nơi mà có hiểm nguy,
Thì chính ở đó, có cứu rỗi.
"Mais où est le péril, là
Croit aussi ce qui sauve"
Những "où", những "là" đó, là nói về, chỉ một nơi chốn.
Bởi thế, mà Heidegger, trong "Tại sao thi sĩ, trong thời điêu đứng?",
coi Rilke là thi sĩ của đêm đen, của mạt kỳ, của thời điêu đứng.
Chỉ có triết gia, thì mới lèm bèm về thơ, tới chỉ, và chỉ có Heidegger,
với
kinh nghiệm, đã từng phò Nazi, thì mới phán về thơ thời mạt kỳ, tới
chỉ. Bài
"Tại sao thi sĩ trong đời điêu đứng?", quả là bảnh nhất trong những
bài phán về thơ, và nhất là, thơ tù.
*
Giả như không có những ngày tháng điêu đứng, cay nghiệt đó, liệu anh có
yêu em
nhiều như vậy không?
Cầm
Dương Xanh
Đặng
Tiến đọc thơ NXT
Trăng khuya như một loài chim quý
Bay
suốt nghìn năm hót một
lần.
Dưới mái chùa tây văng tiếng kệ
Vị sư già đã thức, chuông ngân.
Âm thanh như một làn hương sữa
Chảy xuống hồn ta đã lặng dần
Hạt lệ muối rơi, giờ đọng lại
Trăng nguyệt cầm ơi, ngọc mới đông (...)
Giữa cuộc vui này ta có mặt
Sao tâm xao xuyến những trời xưa
Đếm sao, nào biết sao mờ tắt
Trận bão mùa qua đã dứt chưa...
(1980, tr.98)
Không uyên bác thì
không làm được thơ như vậy.
Từng hình ảnh một, không có gì mới ; lối so sánh ánh trăng lưỡi liềm
với cánh
chim cũng đã có người dùng. Nhưng cách liên hoàn những hình ảnh thì
sáng tạo và
bất ngờ, vì nó phục vụ cho ý hướng riêng tập thơ : khổ nạn của lịch sử,
và đời
người, chỉ là cơn bão rớt, trong khi con người trong nhân loại và dân
tộc, là
một khoảng trời xanh miên viễn. Tư tưởng ấy, tự nó không cao siêu,
nhưng sống
trọn vẹn nó qua những thảm kịch lớn lao của đất nước và cá nhân, thì
phải cao
cường. Thơ Nguyễn Xuân Thiệp chứng tỏ
con người có đủ sức mạnh tinh thần để vượt
qua những trầm luân, và thi ca là một thành tố của năng lực kia. Thi ca
hiểu
theo nhiều lớp lang : cách nhìn đời, lối tiếp cận và lối diễn đạt, nói
chung là
cách sống. Ngôn ngữ, thi pháp giúp Nguyễn Xuân Thiệp sống trọn vẹn và
tràn đầy
ý thức và tâm cảm. Thơ Nguyễn Xuân Thiệp mới ở đó, ở chỗ không giống
ai. Nó
mạnh một khi đã đủ sức từng trải gian truân. Và hay nhờ tài năng cấu
tứ, sử
dụng từ pháp và âm pháp, trong kiến thức rộng rãi và xúc cảm sâu xa.
Borges có một câu
trứ danh, “Một bài thơ, đúng lúc [tới điểm cực khoái, hay cực khổ của
nó?],
biến thành bi khúc.”
Every poem in time
becomes an elegy
Borges: Possession of Yesterday [Sở hữu Ngày Hôm Qua]
Câu này mà áp dụng cho bạn ta thì thật tuyệt
Và còn có thể áp
dụng chung cho mọi bài thơ "in time" của Miền Nam
sau 1975.
*
Trong bài đọc Chuyện
Kể Năm 2000, khi
thiên hạ khen um lên, một tuyệt tác,
Gấu này đã lên tiếng, cảnh báo, coi chừng, coi chừng, dựa theo Walter
Benjamin,
khi ông phán, "Mọi tài liệu về văn minh đều là một tài liệu về dã
man".
Và từ đó, có vẻ như mấy ông Hàn [đã thấm đòn của Benjamin?, hay của
Gấu, khi
lập lại?], bèn thay đổi hẳn cách cho Nobel.
Và Gấu bèn gật gù, đi một đường ngợi khen, chỉ có mấy năm gần đây thôi,
Nobel
mới xứng đáng là giải thưởng văn học số 1 trên thế giới.
Trước đây, Nobel được trao cho những tác giả có những thành tựu khổng
lồ, suốt
đời... Bi giờ, bạn chỉ cần một tác phẩm hách xì xằng, và tác phẩm hách
xì xằng
này, khi được viết ra, cũng chẳng để vinh danh tập thể, đám đông, nhân
loại...
Cao Hành Kiện là một ví dụ tuyệt vời: Lịch sử một cá nhân chống lại
lịch sử cả
một lũ, cả một cộng đồng, cả một dân tộc.
*
Và từ đó, Gấu phân biệt ra được, có một khoảng cách rất lớn giữa tác
phẩm người
tù của Bùi Ngọc Tấn, và của những sĩ quan Ngụy cải tạo như Nguyễn Xuân
Thiệp,
Thanh Tâm Tuyền.
*
Mấy anh VC bốc phét, cú Xô Viết
Nghệ Tĩnh
là Tổng Diễn Tập cho cú Cách Mạng Tháng Tám; Tết Mậu Thân, Thực Tập Lớn
cho Đại
Thắng Mùa Xuân 1975.
Giả như học tập tốt, lao động tốt, thực hành tốt, bài bốc phét trên,
chúng ta
có thể coi Tôi cùng gió mùa, Thơ ở đâu xa, cái mầm của
chúng là từ
khí hậu Miền Nam?
Rằng: Chỉ có một cuộc sống như
thế, thì,
khi gặp hiểm nguy, thì, mới có cứu rỗi?
Đúng như thế. Đây đúng là ý của
Holderlin,
khi phán:
Nhưng chỉ ở nơi mà có hiểm nguy,
Thì chính ở đó, có cứu rỗi.
"Mais où est le péril, là
Croit aussi ce qui sauve"
Những "où", những "là" đó, là nói về, chỉ một nơi chốn.
Bởi thế, mà Heidegger, trong "Tại sao thi sĩ, trong thời điêu đứng?",
coi Rilke là thi sĩ của đêm đen, của mạt kỳ, của thời điêu đứng.
Chỉ có triết gia, thì mới lèm bèm về thơ, tới chỉ, và chỉ có Heidegger,
với
kinh nghiệm, đã từng phò Nazi, thì mới phán về thơ thời mạt kỳ, tới
chỉ. Bài
"Tại sao thi sĩ trong đời điêu đứng?", quả là bảnh nhất trong những
bài phán về thơ, và nhất là, thơ tù.
*
Giả như không có những ngày tháng điêu đứng, cay nghiệt đó, liệu anh có
yêu em
nhiều như vậy không?
Cầm
Dương Xanh
Tay
văn sĩ Tây này, Gấu cũng tự mình khám phá ra
[mình], lần mò mẫm khu sách Tây trong một thư viện Toronto, "vô tình"
nhặt lên cuốn L’inespérée, và biết ngay đây là cuốn sách viết
về cô bạn.
Bài
Cầm Dương Xanh ra đời, đúng khi vừa đọc xong câu
văn:
Gấu
viết kể từ khi Cô Bạn đọc
Chữ sao muộn màng, so với cuộc đời của chúng ta. (1)
Sau
khi gặp Con K. về [tên cô bạn cũng bắt đầu bằng
chữ K!], bi giờ viết thêm, vưỡn còn kịp! (2)
(1)
J'écris depuis que
tu me lis.
Les mots sont en retard sur nos vies.
Christian Bobin: L’inespérée.
(2)
Gấu có một kỷ niệm tuyệt tuyệt cú mèo, về cô bạn, kỷ niệm này liên quan
đến
Yanni, những ngày đầu đến xứ lạnh, cái dĩa CD đầu tiên được nghe, và
“Sách
Huyền”:
Anh vưỡn còn nghe Yanni?
Cứ
nhủ thầm với mình, viết ra đi, viết đi, đọc vậy đủ
rồi, nhưng viết ra rồi, có khi lại tiếc, liệu thế nhân mắt trắng có tay
nào xứng
đáng đọc nó không!
Hà,
hà!