The Paris Review Winter, 2009

Ha Jin, The Art of Fiction No. 202


Ha Jin

Ha Jin khởi sự nghề văn [viết một cách nghiêm túc] sau cú Thiên An Môn, 1989, mà ông gọi là sự bắt đầu cuộc đời của ông như là một nhà văn, ‘nguồn của mọi nhiễu nhương’ [‘source of all the trouble’]. Tác phẩm đầu tay bằng tiếng Anh của ông là một bài thơ, “The Dead Soldier’s Talk”, cuộc nói của người lính chết, cho một xưởng thơ, poetry workshop, ở Brandeis. Ông thầy, thi sĩ Frank Bidart, đưa bài thơ cho Jonathan Galassi, lúc đó là tay chủ biên thơ của tờ The Paris Review. Ông này vồ ngay lấy, in liền tút suỵt! Với sự hối thúc của Bidart, Jin xin gia nhập chương trình MFA, học viết giả tưởng, của Đại học Boston. Tốt nghiệp, đi dậy ở Emory University ở Atlanta, vừa dậy học vừa viết truyện ngắn, tiểu thuyết, được mấy cái giải thưởng, PEN/Faulkner Award, the Flannery O’Connor Award dành cho truyện ngắn, một cái Guggenheim fellowship, và The National Book Award.

The Paris Review:
Vào cái thời ông sống dưới chế độ CS, ông có cảm thấy ngột ngạt không?
Không. Tôi cũng bị tẩy não vậy.
Làm thế nào mà trở thành không còn bị tẩy não?
[How did you become un-brainwashed?]
Đó là một tiến trình dài. Thoạt đầu, tôi không thể tưởng tượng thế giới quá biên giới TQ: như hầu hết những người TQ trẻ, tôi trở thành rất ái quốc và tin tưởng ở cái phải, cái đúng của cách mạng và của đảng. Nhưng, trong khi tôi theo học tại Đại học Shandong, tôi bắt đầu đọc một lố văn học Mỹ từ nguyên tác, và dần dần nhận ra có rất nhiều đường hướng giao tiếp, thông cảm, và có những dân tộc sống khác hẳn [người TQ]. Và, viết bằng một ngôn ngữ khác thay đổi tôi.
Ông về lần nào chưa?
Ha Jin:
Chưa.
Không bao giờ về ư?
Chưa về đất liền, nhưng Đài Loan, Hồng Kông thì có. Lúc đầu hăm hở về lắm, để thăm gia đình, bạn bè. Tôi kiếm đủ mọi cách, nhưng 7 năm qua tôi không làm sao gia hạn, renew, thông hành, không làm sao đi ra khỏi Mẽo. Rồi tôi trở thành công dân Mẽo, và tôi chán ngấy cái chuyện trở về. Bạn thử nghĩ coi, sách của bạn thì bị biếm - bạn có thể trở về, nhưng sách của bạn thì không được phép. Tôi không sao chấp nhận cái trò đó.
Tại sao sách của ông bị biếm [banned]?
Tôi viết toàn đề tài cấm kỵ: Tây tạng, chiến tranh Triều tiên, Cách mạng Văn hóa. Sau cú Thiên An Môn, tôi còn la dữ. Những cuốn sách của tôi làm nhà nước bực. Tôi không hề có ý định những gì tôi viết ra có tính chính trị. Nhưng những nhân vật của tôi thì chạy trời không khỏi nắng. Nói vậy để cho thấy, vô phương tránh né chính trị, nhất là ở TQ. Và, lẽ dĩ nhiên, nhà cầm quyền TQ sợ những câu chuyện thực được kể từ quan điểm của cá nhân. Còn vấn đề nữa, tôi là một thứ misfit, không thích hợp. Tôi lại còn to tiếng nữa, outspoken. Tôi viết bằng tiếng Anh, và như thế là bị coi như một kẻ phản bội tiếng mẹ đẻ. Tôi đi Mẽo, vờ phục vụ nghĩa cả, nhiệm vụ của Đảng giao cho. Đối với họ, tôi đúng là một con sâu làm rầu nồi canh, một thí dụ xấu, a negative example.

Ông có bao giờ muốn trở về TQ để đọc tác phẩm của ông?
Không. Ở đó không có cái trò đọc sách trước công chúng. Ở Chợ Sách, tác giả lên đọc sách của mình, nhưng cũng chỉ một hai năm gần đây. Trước có truyền thống đọc thơ, đúng ta phải nói, hát thơ, nhưng nhiều năm rồi người TQ không thể diễn tả chính họ theo kiểu đó nữa. Khi tôi sống ở đó, tôi chưa nghe thấy bất cứ người nào đọc trước công chúng. Tôi sống ngoài TQ nhiều năm và phát triển 1 thứ nhân cách rất cởi mở và rất ăn to nói lớn. Nếu bây giờ trở lại TQ là phải tập giữ mồm giữ miệng. Ðau thần kinh lắm. Tâm thần, tâm lý mà nói, thật khó trở về, căng hơn thể chất nhiều.
Chính trị mà nói, TQ thực sự là 1 nhà nước công an. Thư từ - mọi thứ - đều bị kiểm tra. Ðiện thoại bị  đặt máy nghe lén. Hơn chục năm, có thể 15 năm rồi, tôi không thể gửi sách về TQ. Nhà nước nhận hết. Trước, có lúc tôi dùng tên vợ, nhưng trò này cũng thua rồi.
Có cuốn nào của ông được thong dong ở TQ không?
Chỉ có cuốn Ðợi Chờ. Một dạo tôi cảm thấy vô vọng chuyện được in sách ở TQ. Thế là tôi bye bye chuyện này.
Ngay cả cuốn Ðợi Chờ, họ cho in, nhưng rồi ngưng, và khi cho in, thì họ bèn thiến.
Nếu ông ở TQ, thì sẽ làm gì?
Chắc sẽ trở thành một gã dịch giả. Rõ ràng là như thế thôi. Có thể, tôi cố trở thành 1 ông giáo sư tiếng Anh
Nhưng có tính viết viếc gì không?
Không, không, không.



INTERVIEWER

Are you more influenced by American poetry than Chinese poetry?

[HA] JIN

British poets have had the greatest influence on me. Some American poets too. I love Frost. His action, his sense of his surroundings, the dark parts of them on the surface. His poetry is pastoral, but there is always a dark serenity in his poems. But because I worked on British poetry for my graduate work, I was influenced by poets like George Herbert and Thomas Hardy.

For my doctorate, I worked on Yeats and Auden and Pound and Eliot but basically I focused on the Chinese materials they use in their poetry. I thought it would be more valuable when I returned to China. Pound borrowed so much from Confucianism, and I do feel there might be a connection between his fascism and Confucianism. He talks so much about the ratification of words-to keep names, words right. Words must name things. There should be as few abstract words as possible in the language. But I don't think he was aware of the dark history of that in Chinese politics.

Ông chịu ảnh hưởng thơ Mẽo nhiều hơn, so với thơ Tầu?

Thi sĩ Hồng Mao mới gây ảnh hưởng lớn lao, vĩ đại nhất ở tôi. Vài ông thi sĩ Mẽo nữa. Tôi mê thơ Frost. Hành động của ông, cảm quan của ông về những gì vây quanh ông, cái phần u tối của họ, ở bề mặt. Thơ của ông là thơ đồng quê, nhưng luôn có vẻ thanh thản u tối ở trong đó. Nhưng do tôi làm việc về thơ Anh, để lấy cái bằng, tôi bị ảnh hưởng bởi những thi sĩ như George Herbert và Thomas Hardy.
Ðể lấy cái bằng doctorate, tiến sĩ, tôi làm việc trên những ông Yeats, Auden, và Pound, và Eliot, nhưng cơ bản tôi xoáy vào những chất liệu Tầu mà họ sử dụng trong thơ của họ. Tôi nghĩ như vậy thì mới có giá, so với chuyện, nếu tôi trở về TQ. Pound chôm rất nhiều từ Khổng học, và tôi tin rằng có 1 mối nối giữa tính phát xít của ông ta và Khổng học. Ông ta lèm bèm rất nhiều về “chính danh”, làm sao cho những từ trở nên đúng tên, đúng nghĩa. Từ phải dùng để gọi tên sự vật. Thành thử càng ít từ trừu tượng càng tốt, trong ngôn ngữ. Nhưng tôi không tin ông ta để ý, dòm chừng, cảnh giác đến cái phần lịch sử u tối của điều đó trên chính trị TQ.

INTERVIEWER

Do you do any translations of Chinese literature?

JIN

Recently, I have begun to translate my own work into Chinese. It took me a long time to decide to do so. I went back and forth. Eventually I decided that it's dangerous to completely sever my work from the Chinese language, to cut myself off from my roots. Sometimes the past should be abandoned, yes. Life is a journey, and you can't carry everything with you. Only the usable baggage. But if I didn't keep any connection, that would have been suicidal in the long run. And I firmly believe that my work means more to Chinese readers-that's why the books are banned in mainland China but well received in Taiwan and Hong Kong. Time will prove that I've been doing a significant service for China.

INTERVIEWER

Do you think of yourself as a Chinese writer, or a Chinese American writer? 

JIN

A Chinese American writer-I'm more comfortable with that. I don't think of myself as a dissident, and I'm more of an immigrant than an exile. An exile has a significant past: he often lives in the past, and has to define himself within the context of political power. But an immigrant gets to start from scratch. The past is not essential. He formulates his own frame of reference.

INTERVIEWER

Do you regret anything about coming to the United States?

JIN

No, it's hard to uproot yourself and really become yourself in another soil, but it's also an opportunity, another kind of growth. The United States is a great country. I've been able to survive as an individual and live as a relatively free man. I've been left alone to do my own work, to live my own life. 

But I live in the margin as a writer-between two languages, two cultures, two literatures, two countries. This is treacherous territory. If I’d written War Trash or even Ocean of Words in Chinese and published them in Chinese originally, those books might be embraced as genuine literature in China. But because I wrote them in English they were banned. A writer in my situation has to have a body of work, not just one or two books, to become significant. And in every book I have to find a new style. I would feel more at home if I wrote in Chinese, that's clear. But I've been doing it in English for so long I can't switch. Life's just too short for that.
 

GCC không nhớ PD, suốt thời gian được Mẽo cho tá túc, đã từng ngỏ lời cám ơn, trước khi "di tản" về lại nước VC ?

Ðoạn trên đây, trích phỏng vấn nhà văn TQ Ha Jin. Ðược hỏi, có ân hận gì không khi “di tản” qua Mẽo, ông trả lời:

Không. Thật căng, khi nhổ mình lên và cắm mình trở lại, trên mảnh đất khác. Nhưng đó là 1 cơ hội, một thứ nẩy nở, trưởng thành khác. Mẽo là 1 xứ sở lớn. Tôi có thể sống sót như là 1 cá thể, và sống như là một con người tương đối tự do. Không ai làm phiền tôi, nhà nước Mẽo mặc mẹ tôi làm việc riêng của tôi, sống đời riêng của tôi. Nhưng tôi sống ở ven biên như là một nhà văn – giữa hai ngôn ngữ, hai văn hóa, hai văn chương, hai xứ sở. Ðó là một miền đất tráo trở, bội bạc. Nếu tôi viết War Trash [Rác rến chiến tranh] hay ngay cả Ocean  of Words [Biển chữ] bằng tiếng TQ và in chúng, trong nguyên tác chữ TQ, những cuốn này sẽ được vồ vập như là văn chương TQ thứ thiệt, ở TQ. Nhưng, bởi vì tôi viết bằng tiếng Anh, nên chúng bị biếm. Một nhà văn ở trong hoàn cảnh tôi phải có cả một “bộ tác phẩm”, không chỉ một, hay hai cuốn, thì mới trở nên có ý nghĩa. Và trong mỗi, mọi cuốn như thế, tôi phải kiếm ra 1 văn phong. Rõ ràng là tôi sẽ cảm thấy “ở nhà” hơn, nếu tôi viết bằng tiếng TQ. Nhưng do viết bằng tiếng Anh trong 1 thời gian dài, tôi khó mà chuyển đổi được. Ðời người quá ngắn để làm việc đó.

Ha Jin
Ngôn ngữ của sự phản bội.
The Language of Betrayal

Trong lần ông thăm viếng Ba Lan vào năm 1914 sau 21 năm vắng mặt, Conrad lo bấn xúc xích, mặc dù tiếng tăm quốc tế của ông: ông chỉ sợ quê hương làm mặt lạnh với mình! Khi ở Anh, ông luôn cảm thấy mình là một “khúc ruột ngàn dặm”, tức, một kẻ ngoại quốc, và được coi là như vậy. Đó có lẽ là một trong những lý do ông từ chối những bằng cấp vinh danh, the honorary degrees, của Oxford, Cambridge, và những đại học khác, luôn cả tước Hiệp sĩ của nhà nước Anh (1924). Điều ông thực sự mong muốn, là giải Nobel văn chương , nhưng chẳng bao giờ được đề cử. Về một mặt, những từ chối vinh danh của nước Anh có vẻ như cho thấy quyết tâm của ông được ở cái thế độc lập, về mặt khác, những từ chối như thế còn đề xuất một điều là ông muốn trở thành một nhà văn Âu Châu, như vậy sẽ bao gồm luôn cả hai căn cước Anh và Ba Lan. Nói một cách khác, ông muốn một giải thưởng quốc tế, để khâu dính liền lại thành một, sự phân chia ở bên trong cái gọi là căn cước của ông. Một giải thưởng Nobel còn đem vinh quang tới cho những người Ba Lan, và như thế, nó còn đem sự cứu chuộc đến cho chính ông, khúc ruột ngàn dặm, kẻ bỏ chạy, tên đào ngũ, [tên bồi Mẽo nữa chứ, nếu là trường hợp GNV!]

Sự thực, khó mà nói Conrad đào ngũ, bởi vì nếu ông ở lại, ông sẽ bắt buộc phải thi hành nghĩa vụ quân sự trong đội quân xâm lược Nga.
Cái sự hăm hở chờ Nobel của Conrad xem ra có vẻ ngây thơ. Ông lèm bèm với đệ tử của mình là Jean-Aubry: “Yeats đã được Nobel. Theo Thầy, cho như thế cũng là một cách gián tiếp thừa nhận nhà nước mới Ái nhĩ lan tự do, the new Irish Free State, nhưng thế nào cũng sẽ đến lượt Thầy, trong một, hoặc hai năm tới”. Và Conrad tẽn tò khi giải về tay một nhà văn Ba Lan xoàng hơn ông, Wladyslaw Reymond, vào năm 1924.

Conrad không nhận ra, ông chẳng thuộc một xứ sở nào.

Nhưng, thời gian quả là quá tốt đối với ông. Sau khi chết, Conrad trở thành nhà văn được biết nhiều đến nhất ở Ba Lan. Tác phẩm của ông được đưa vô sách giáo khoa, và ông trở thành một huyền tượng, a mystical figure, trong văn hóa Ba Lan, được vinh danh như là một trong những vị anh hùng của nó, và, có lẽ đây là một trong những vị anh hùng cô đơn và bị hiểu lầm nhiều nhất của quê mẹ Ba Lan!
Ui chao, đọc đến đây, Gấu không thể không nhớ đến trường hợp nhà thơ TTT “lừng lững khốc liệt” [chữ của ông, trong Một Chủ Nhật Khác] đi vô Văn Miếu Mít, ngay giỗ đầu của ông!
Những nhà thơ Ba Lan bị hớp hồn bởi Conrad, lý do là, theo Ha Jin, ông gợi lên trong họ sự mê hoặc tội lỗi của lưu vong.

[Với TTT, sự kiện ông vô Văn Miếu ngồi, mà chẳng hách sao: Sự  trở về của đứa con tư sinh của một miền đất, tên sĩ quan Ngụy, tên tù cải tạo, vân vân, và vân vân!]

[Nguyên văn, Ha Jin viết: Polish poets have been fascinated by him, perhaps because he evokes in them the guilty glamour of exile].

Tiếu lâm nhất là, người cố gắng đem ông vô Văn Miếu, bị lũ ngu si và đố kỵ ở hải ngoại xúm lại xỉ vả, trong có cả bà chị  thân thương của cô