Ghi
chú
trong ngày
Ha
Jin
Chủ nghĩa tư
bản làm tha hóa con người?
NHQ Blog VOA
Bài viết này,
và những lập luận của Thầy Cuốc thật là nhảm. Cái sự kiện con người
quần tụ thành
nhóm, thành làng, thành đô thị, phố xá đông vui… thì là tự nhiên như
lịch sử loài
người từ thời thượng cổ đến giờ, đâu có phải do đô thị hoá, thương mại
hoá khiến
con người trở nên vô cảm?
Cái sự kiện người
Tầu "vô cảm" không liên quan tới tư bản, cộng sản. Theo nhà văn Ha
Jin, do người Tầu không tin có Ông Trời.
Trong bài viết Phát ngôn viên và bộ lạc,
ông viết về trường hợp lưu vong của
Solzhenitsyn, sự kiện Solz. không muốn có mặt trong lễ nhận thẻ công
dân Mẽo, đến giờ chót
mới thay đổi ý kiến... rồi ông so sánh với trường hợp lưu vong của 1
bậc
thầy văn
học Tầu, là Lâm Ngữ Ðường…
Ðoạn sau đây, ông giải
thích 1 trong những tính tình
rất đặc trưng của người Tầu:
Throughout the years of exile,
her husband "never wanted to,
and did not, become a US citizen, since he could not imagine himself to
be a
citizen of any country except Russia (not the USSR!)." During the early
eighties, at
the height of the Afghan war and at a time of failing hopes for
short-term
change in the USSR, Solzhenitsyn did in fact experience a moment of
some doubt,
but ultimately he decided to "remain stateless- right up until Russia's
liberation from communism, an event for which he had always hoped."
This explanation sounds reasonable. Nonetheless, it cannot explain
away the fact that Solzhenitsyn almost became a U.S. citizen and had
for some
time lost "the animal indifference" and "the writerly
assuredness" he eulogized in his fiction (10). He must have been sick
of
the long wait, sick of being a refugee without a country, and sick of
the role
of a spokesman for a country that could not hear him and would pay no
heed to
his service. Above all, as a father and a husband, he must have sought
the best
way for his family to live.
Like any individual, he was entitled to have
self-doubt and
to give up his native land if need be. Yet for a writer of his stature
and
social role, Solzhenitsyn could not have afforded to become a citizen
of
another country. If he were a U.S. citizen, his return to Russia would
have
been much more complicated and frustrating, because his opponents, even
some
ordinary Russians, would have treated him as an American and raised
doubts
about his allegiance.'! Such a move would have undercut his credibility
when he
kept propounding the necessity of nationhood, a core value in his
thought.
Fortunately, he was coolheaded enough to restrain himself from
attending the
naturalization ceremony.
This episode in Solzhenitsyn's life shows that
despite the
writer's careful construction of his relationship with his tribe, his
role
remains susceptible to change-any accidental, sometimes necessary, step
might
easily undermine the construction and force it to drastic revision. By
writing
about Solzhenitsyn's attempted naturalization, I do not intend just to
point
out the folly this great man almost fell into. What I mean is to
illustrate the
fragility of his identity as a spokesman for his people.
In fact, I am always moved by Solzhenitsyn's bravery
and his
acceptance of isolation as the condition of his work. "All my life
consists of only one thing-work," he once said. The village of
Cavendish
didn't even have a doctor at the time, according to his biographer D.
M.
Thomas, and, because of sciatica, the aging Solzhenitsyn would stand at
a
lectern when writing. What made him so tenacious, I believe, was not
only his
dedication to work but also his Christian faith, which had inculcated
in him a
sense of continuity beyond this life. The belief in the afterlife can
enable
one to live this life fearlessly. At an interview before departing for
Russia,
Solzhenitsyn was asked if he feared death, and he replied with obvious
pleasure
on his face: "Absolutely not! I t will just be a peaceful transition.
As a
Christian, I believe there is life after death, and so I understand
that this
is not the end of life. The soul has a continuation, the soul lives on.
Death
is only a stage, some would even say a liberation. In any case, I have
no fear
of death." In another context he said, "The goal of Man's existence
is not happiness but spiritual growth."l That may account for the
spiritual strength with which he completed his work in exile.
His words remind me of my meeting with a group of
Chinese
poets in River Falls, Wisconsin, in the summer of 2001. One of them was
my
former schoolmate. He greatly admired the small Midwestern town because
its
climate and landscape brought to mind the northeast of China where we
were both
from. I asked him, "If possible, would you mind living in this town
alone
so that you can concentrate on writing poetry?" He answered, "I need
a friend at least." That was a typical Chinese answer. The Chinese mind
does not rely on a power beyond humanity for spiritual sustenance. This
explains why very few Chinese exiles in North America have lived in
isolation
and why most of them have been city dwellers. Gregariousness
is only a
surface characteristic, and deep down it is the absence of the
religious belief
that produces a different outlook on life. (1)
Cioran cũng
tin rằng, chính cái sự huỷ diệt Ông Trời của CS là nguồn cơn của...vô
cảm.
Một khi thần thánh hóa
Lịch Sử, bất tín nhiệm Thượng Đế,
chủ nghĩa Marx chỉ thành công, là làm cho Thượng Đế trở nên xa lạ, và
trở thành
một ám ảnh khôn nguôi.
En divinisant l'Histoire pour discréditer Dieu, le
marxisme n'a réussi qu'à rendre Dieu plus étrange et
obsédant.
Cioran: Nga xô và con vi-rút tự do,
La Russie et le virus
de la liberté, trong Lịch sử và Không tưởng, Histoire et Utopie
Người dân Miền
Bắc ngày xưa tin vào Trời Phật. Họ tin có đời sau, tin làm điều lành
thì có lợi
cho đời sau, cho con cái, "đời cha ăn mặn đời con khát nước", thí dụ.
Khi CS thắng
thế, họ làm thịt Trời Phật, thay thế vào đó, là Ðảng. Một khi
Ðảng làm bậy,
thì hết thuốc chữa.
(1)
Tôi
luôn bị xúc động bởi sự can đảm của Solz, và sự chấp nhận đơn độc như
là điều
kiện làm việc của ông. “Cả đời tôi chỉ xoáy vào 1 chuyện – làm việc”,
ông có lần
nói. Cái làng Cavendish vào lúc đó không có bác sĩ, theo người viết
tiểu sử của
ông, D. M. Thomas, và do đau thần kinh tọa, nhà văn Solz
có tuổi phải đứng ở 1 cái bục để viết. Ðiều làm
ông kiên trì đến như thế thì không chỉ là do ông dâng hiến mình vào
việc viết,
nhưng mà còn là do niềm tin Ky Tô giáo của ông, chính niềm tin này tạo
ở nơi ông
một sự kế tục quá khỏi cuộc đời này
Niềm
tin vào đời sau có thể khiến cho 1 con người sống cuộc đời này không sợ
hãi.
Trong một cuộc phỏng vấn trước khi rời Nga, được hỏi, có sợ chết, Solz
trả lời
với nụ cười trên mặt: "Tuyệt nhiên không! Chỉ là 1 sự chuyển đổi nhẹ
nhàng, bình
an. Như 1 tín hữu Ky Tô, tôi tin rằng có cuộc đời sau cái chết, và vì
thế tôi
không tin chết là chấm dứt cuộc đời. Linh hồn có 1 sự tiếp tục, vẫn
sống
tiếp.
Chết chỉ là 1 giai đoạn, có người còn nói, một giải thoát. Trong bất cứ
trường
hợp, tôi đếch sợ chết.” Trong 1 đoạn khác, ông nói, “Mục đích của Con
Người không
phải là hạnh phúc mà là sự tăng trưởng, nẩy nở tinh thần”. Ðiều này cho
thấy sức
mạnh tinh thần mà với nó, ông hoàn tất tác
phẩm của ông khi lưu vong.
Lời
nói của ông làm tôi nhớ đến 1 cuộc gặp gỡ của tôi với một nhóm nhà thơ
Tầu ở
River Falls, Wisconsin, vào mùa hạ, 2001. Một trong số họ là 1 bạn học
cũ của tôi.
Anh rất thích thành phố nhỏ Midwestern, vì khí hậu và cảnh sắc của nó
làm anh
nhớ tới vùng Ðông Bắc Tầu, nơi cả hai chúng tôi đều từ đó
tới. Tôi hỏi
anh ta: "Nếu có thể, ông có tính ở lại thành phố đó một mình để chú tâm
vào việc
làm thơ?” Anh trả lời: “Tôi cần ít nhất 1 người bạn”.
Ðúng
là 1 câu trả lời rất Tầu. Ðúng kiểu Tầu. Tâm hồn người Tầu không trông
mong vào
một quyền lực vượt quá con người, như là 1 nguồn nuôi dưỡng tinh thần.
Ðiều này
giải thích tại sao rất ít người Trung Hoa lưu vong ở Bắc Mỹ sống tách
biệt, riêng
lẻ, và tại sao hầu hết họ cư ngụ tại những thành phố. Tính bầy đàn chỉ
là mặt nổi
của vấn đề, ở dưới sâu là sự thiếu vắng một niềm tin tôn giáo, chính nó
tạo ra
1 cái nhìn khác biệt về cuộc đời.

THE ART OF
WAR
The Prix
Goncourt goes to a first-time novelist for a book about French identity
Nov 4th
2011, 10:57 by S.P. | PARIS
LAST year
the Prix Goncourt was awarded to a superstar author, Michel
Houellebecq, for
his fifth novel, "La Carte et le Territoire". He had been passed over
for France’s top literary prize before, and it was widely thought that
it was
his due. This year, by contrast, the French are rather delighted that
the
prize, announced on November 2nd, has been awarded to a 48-year-old
first-time
novelist, Alexis Jenni, for "L’Art français de la Guerre". A
self-described “Sunday author”, Mr Jenni is a high-school biology
teacher from
Lyon who does most of his writing in local cafés.
The 630-page
novel is part adventure, part reflection on the role war has played in
shaping
French national identity. The story, told by a war veteran to the
anonymous
narrator, explores the way France’s various colonial and post-colonial
military
campaigns, from Indo-China and Algeria to the first Gulf war, have
battered the
country’s sense of itself. This is not an easy book, as these are
uncomfortable
issues for the French. Bernard Pivot, a French critic and member of the
Goncourt jury, called the novel “sublime”. Tahar Ben Jelloun, a
Moroccon author
well read in France and a member of the jury, described it as “a
beautiful
literary work that touches the history of France”.
Mr Jenni,
whose name rhymes in French with the word genius (génie), told Le Monde
that he
had written two other unpublished manuscripts. After working on "L’Art
français de la Guerre", he posted it off to just one publisher,
Gallimard,
which accepted it earlier this year for publication—just in time for
the
literary-prize season.
Năm ngoái
GC
về tay 1 siêu sao, [hình như sư phụ của NL thì phải], năm nay, ngược
lại, chưa được đời biết đến, 48 tuổi, tiểu thuyết đầu tay,
Nghệ Thuật Chiến Tranh [của Tây].
Alexis Jenni, tác giả, chuyên ngồi
quán cóc, và viết văn. Tên tiếng Tây, Jenni, đọc theo tiếng Anh, là
thiên tài genius
(génie).
Tahar Ben
Jelloun, trong ban giám khảo, phán, một "tác phẩm văn chương đẹp, đụng
tới
lịch sử Tẩy"

Viết
thêm về… ăn cướp.
Trên
Blog THT có giới thiệu cuốn trên, và có lời “cảnh báo”, ai muốn
trích lại
những entries thì phải nói qua với “khổ chủ”.
Cho đến nay, trang TV có mặt trên net trên 10 niên, và
chưa từng
được một ai trích dẫn mà hỏi xin phép “khổ chủ” cả.
Cuốn
trên, Miền Nam trước 1975, Lý Quốc Sỉnh đã dịch, là, “Những cuộc phiêu
lưu trên
lưng ngỗng”.
Ðây
là 1 cuốn mà Gấu hơi bị ấn tượng suốt 1 thời mới lớn.
Trong
có mấy xen nhớ đến già. Thí dụ, cái xen Nils cố cứu con đại bàng, hay
chim ưng
Góc Gô [?] gì đó, bị con người săn bắt được, nhốt trong Sở Thú, cho con
nít
coi, hình như vậy. Và anh đại bàng, thay vì bay trên trời cao, vượt
đỉnh trời
này tới đỉnh trời khác, khi bị nhốt, cũng vẫn bay, nhưng ở trong những
giấc đại
mộng, và khi Nils cố cắt lưới, cho anh đại bàng ra được bên ngoài với
tự do,
thì anh thoạt đầu lắc đầu... Anh Góc Gô đó, là Gấu, cho đến khi ra được
hải ngoại.
Xen thứ nhì
là Nils lạc vào 1 thành phố ở dưới biển, đi lang thang shopping, và
khi thấy 1 món đồ kỷ niệm đẹp quá, tính mua, thì gần như tất cả cư dân
của nó mở
mắt lớn ra nhìn, nhưng sau cùng Nils lắc đầu, vì quên bóp ở nhà!
Hoá
ra đây là 1 thành phố bị Chúa nguyền, vì tha hoá, và chỉ 1 khi có 1
người nào bỏ
tiền ra mua, chỉ 1 món đồ, do cư dân của nó lao động làm ra, thì lời
nguyền của
Chúa mới được gỡ bỏ.
Cả hai xen
trên, theo Gấu, đều như nhắm vào cái xứ Bắc Kít, và những
con người
của nó, không phải đám thứ dân, hay những kẻ nghèo khổ mà là tầng lớp
tinh anh, gần như ai cũng có tí mùi chiến lợi phẩm....
Ðể
bóp ở nhà mà bắt người khác phải xin phép!
30.4.2010
Si tu lis les premières pages
du Manifeste communiste, c'est le
plus fameux éloge du capitalisme qu'on ait jamais vu.
Nếu bạn đọc những trang đầu tiên của Tuyên ngôn CS, thì
đó là những trang vinh
danh hiển hách nhất chủ nghĩa tư bản mà người ta đã từng đọc.
Hannah Arendt
Cái cú 30 Tháng Tư 1975, ngay
VC thổi nào là
những đỉnh cao thời đại, bước ngoặt lịch sử…. gì gì đi nữa, cũng chưa
xứng với
nó!
Dân Mít, Bắc Kít, đúng hơn, được ông Trời cho phép có mặt ở trên cõi
đời này,
là để có giấc mơ này, và làm sao thực hiện nó.
Chỉ đến khi thực hiện được nó, thì mới hỡi ơi, vì đúng lúc đó, mất nó!
“Nó” liên quan đến cái cực tốt,
và cái cực xấu của cái gọi là Bắc
Kít.
Cái cực tốt của Bắc Kít tạo ra hình ảnh Thiên Sứ của Sến Cô Nương. Nhờ
nó có
giống dân Bắc Kít, ở kế ngay tên Đại Hán[g] Gian Ác mà vẫn trường tồn!
Cái cực xấu, là Cái Ác Bắc Kít, tạo ra Lò Cải Tạo!
Tạo ra… Anus Mundi, mang cái thúi Bắc Kít đi reo rắc cùng khắp
thế giới,
biến cả thế giới thành bãi đánh hàng, khiến cả thế giới khiếp sợ gọi là
họa
Hoàng Quỉ.
Và sau cùng hủy diệt giống Mít!
Giống dân nào, được nhân loại
nằm mơ, sáng ngủ dậy, biến thành nó:
Bắc Kít.
Giống dân nào, ngủ dậy thấy mình biến thành bọ: Bắc Kít!
Biến cả thế
giới thành bãi đánh hàng; “bầy chim bỏ xứ” đếch ai chứa, Mẽo chứa, đến
lúc VC giơ
bịch tiền đô ra nhử là bỏ về, không 1 tiếng cám ơn; mở blog thì dùng
server chùa,
ngay đến cái Nobel thì cũng được mũi lõ nuôi nấng dậy dỗ mà có được,
vậy mà phải
xin phép khổ chủ đấy nhé!
Coi blog của
tụi mũi lõ, có thằng nào khốn nạn như thế không? Chúng chỉ yêu cầu, nếu
lấy,
thì nhớ ghi nguồn.
Tờ NYRB, trước, cho đọc hết tờ báo giấy, sau bị giới báo giấy cằn nhằn,
mới
thôi.
Chúng muốn nói, thằng nào có tiền, mua, OK, thằng nào muốn đọc free,
tha hồ.
Cái cuộc chiến
vừa qua, ngay đám Bắc Kít, thì cũng chưa có một tên nào nhìn ra cái đẹp
thần sầu
của nó. Cái đẹp thần sầu này là kết tinh của tất cả những gì làm nên
con người
Mít, và khiến cho giống dân này còn trường tồn cho đến ngày này, trong
khi nhiều
giống dân bảnh hơn nó, tạo ra những nền văn minh hiển hách hơn nhiều so
với cái
thứ văn minh sông Hồng, đỉnh cao của nó là cái Nobel Toán, vậy mà cũng
chìm vào
quên lãng.
Chính cái
làm cho nó không bị tiêu diệt, đến đúng ngày 30 Tháng Tư, trở thành cái
tiêu diệt
nó, hai mặt của một đồng tiền, là vậy.
Moi, je
traine le fardeau de la faute collective, dis-je, pas eux.
Jean Améry
viết, trong Vượt quá tội ác và hình phạt, Par-delà le crime et le
châtiment.
Gấu cũng có
thể nói như thế [Bảnh thật!]: Tớ mang cái gánh nặng của Cái Ác Bắc Kít,
đâu phải
chúng!
Gấu đọc ba
cái “nhìn lại cuộc chiến” của chúng là thấy tởm, là vậy!

"HE
GRABBED THE BOY AND TOSSED HIM ... INTO THE AIR."
THE
WONDERFUL ADVENTURES OF NILS
… there was
a city on this shore, called Vineta. It was so rich and so fortunate,
that no
city has ever been more glorious; but its inhabitants, unluckily, gave
themselves up to arrogance and love of display. As a punishment, says
Bataki,
the city of Vineta was overtaken by a flood, and sank into the sea. But
these
inhabitants cannot die, nor is their city destroyed. And one night in
every
hundred years, it rises in all its splendour up from the sea, and
remains on
the surface just one hour."
"Yes,
it must be so," said Thumbietot, "for this I have seen."
"But
when the hour is up, it sinks again into the sea, if, during that time,
no
merchant in Vineta has sold anything to a single living creature. If
you,
Thumbietot, had only had ever so tiny a coin to pay the merchants,
Vineta might
have remained up here on the shore; and its people could have lived and
died
like other human beings."
"Herr
Ermenrich," said the boy, "now I understand why you came and fetched
me in the middle of the night. It was because you believed that I
should be
able to save the old city. I am so sorry it didn't turn out as you
wished, Herr
Ermenrich."
He covered
his face with his hands and wept. It wasn't easy to say which one
looked the
more disconsolate – the boy, or Herr Ermenrich.
Source
GCC lướt
internet, mò ra cái xen nói trên. Hoá ra là anh cu Nils có “mission”
cứu thành
phố Hà Lội, bị Chúa nguyền phải sa xuống “đáy địa ngục” [chữ này của Tạ
Tỵ],
nhưng "vấp ngã" [chữ này của cớm & biên khảo gia & nhà thơ],
chán thế!
Oe, lần đi
Stockholm lãnh Nobel, cứ nghĩ mình đang ở trên lưng một chú ngỗng, như
Nils.
Người được
trao cho sứ mạng, cứu, không chỉ 1 thành phố Hà Lội, hay Xề Gòn, mà cả
1 dân tộc,
đất nước Mít, là ông có cái "bỉu bói" Nobel.
Chỉ ông ta, "đỉnh của đỉnh" của văn
minh Sông Hồng, mới làm được điều này.
Nhưng không hiểu sao, Bắc Bộ Phủ biết được,
ra đòn trước, bằng cách lấy cái nhà ra nhử, thế là ô hô ai tai.
Trả lời Minh
Tran Huy, DTH cho biết, bà cũng được Nguyễn Văn Linh đưa cái nhà ra
“dzụ”,
nhưng bà lắc đầu.
Ðường Lippincott,
Toronto. Căn nhà bên kia đường, phía trước mặt, kế bên sân chơi của 1
ngôi
trường, là nơi tạm trú đầu tiên của vợ chồng Gấu.
Gặp lại cô
bạn ở đó. Cô tháo bao tay, bắt tay Gấu tự nhiên như người Hà Lội, nhưng
Gấu lại
nhớ đến cái lần cầm tay đầu tiên, trong 1 rạp chớp bóng Xề Gòn, khi
“sắp
sửa” đi lính,
[trình diện Trung Tâm Ba tuyển mộ nhập ngũ Quang Trung], được cô thương
tình nhận
lời đi ciné…
Thế là run lên như… con thằn
lằn đứt đuôi [hình ảnh này chôm của Kiệt, trong Một Chủ Nhật Khác, của TTT, khi
chàng
lên cơn sốt, chạy dưới mưa, vô Bưu Ðiện Ðà Lạt, đánh cái điện cầu cứu
cô học trò
Oanh, SOS, SOS!...].
Gấu Cái giận run lên…
Hà, hà!
Căn nhà thuộc 1 cơ sở từ
thiện, chuyên lo tiếp nhận người tị nạn. Có
lần, cũng
đã lâu lắm, Gấu có ghé, đứng bên ngoài nhìn vô, thấy thấp thoáng mấy
người tị nạn
vùng Ðông Âu có thể, tính vô gạ chuyện tào lao, hoặc nếu có thể đi lên
lầu, vô căn phòng ngày nào chứa vợ chồng Gấu, đúng vào 1 đêm cực lạnh,
sờ vô cái ống sưởi rất xưa, nhưng ngại sao đó, bèn bỏ đi.
Con phố nhỏ, ăn
ra, phía trước mặt người đàn bà trong hình, con phố College, một phố
chính của downtown Toronto. Có tiệm sách cũ mà Gấu vẫn thường ghé, từ
những ngày đầu tới thành phố, 1994.
Lần này, ghé,
chủ yếu là để kiếm cuốn này. Sách mới xb, chỉ ở đây mới có, của những
người cần
tiền, mua xong, đọc xong, là phát mại liền, để lấy lại vốn.
Cuốn này tác
giả của nó, cũng là 1 cư dân của Toronto.

Cuốn trước Bịnh
Nhân Anh, quá hay, không biết ở trong nước có dịch?
Cuốn này cũng thật tuyệt, theo giới điểm sách.
Và chắc là tuyệt thật.
Thực sự mà nói, Gấu không
khoái Murakami. Không hiểu sao trong nước, và luôn cả
thế giới mê ông này quá.
Một phần
không ưa, là do không khoái những màn tả sex. NTV có lần nhận xét,
không hề có
tí hôn hít gì trong truyện của ông. Gấu bèn "phản biện", có cái xen cô
học trò đang
ăn, môi bóng nhẫy, Gấu thèm quá, hỏi xin, cô láu lỉnh trả lời:
Trời đánh còn tránh
bữa ăn!
Bụi
Gấu tò mò đọc ông, chỉ vì
cái câu, mà sau này biết, em Minh Tran Huy
cũng rất
mê, và viết cuốn tiểu thuyết đầu tay để vinh danh:
Nói rộng
hơn, quyển tiểu thuyết là để vinh danh Murakami,
và nhất
là, những gì người Nhật gọi là "mono no aware", “nỗi buồn cháy da,
cháy thịt của những sự vật”; (1) đó là cảm nhận xâm chiếm tâm hồn khi
nhìn lá
thu rơi, hay khi người thân đi tới một chỗ quẹo rồi biến mất. Tôi muốn
câu chuyện
«Cô Công Chúa và chàng chèo thuyền» gợi lên một cảm nhận buồn man mác
của những
gì đã có và bây giờ không còn.
Phỏng vấn MHT
Tôi cho rằng, chúng ta sống
trong một thế giới, cái thế giới “này”
(“ce” monde), trong khi còn có những thế giới khác cận kề ngay bên cái
thế giới
“này” đó. Nếu bạn thực tình mong muốn, bạn có thể chui qua tường, nhập
vào một
vũ trụ khác. Một cách nào đó, có thể vượt cái thực, cõi thực này. Đó là
điều
tôi cố gắng làm, ở trong những cuốn sách của tôi. Đây là một quan niệm
rất Đông
phương, rất Á châu, theo như tôi hiểu được. Ở Nhật Bản, ở Trung Quốc,
người ta coi
như có hai thế giới song song, và có những chiếc cầu nhỏ cho phép,
không khó
khăn là mấy, qua lại giữa hai bên. Ở Tây Phương, làm gì có một quan
niệm như
vậy, thế giới-này là thế giới-này, thế giới-kia là thế giới-kia. Sự
cách biệt
thật là quyết liệt, thật là khắt khe, tôi muốn nói giữa “này” với “kia”
đó. Bức
tường quá cao, làm sao vượt, làm sao trèo qua? Nhưng trong văn hóa Á
Châu, khác
hẳn. Và “mono no aware” diễn tả, theo như tôi cảm nhận được, tình huống
này.
Trong Bài ca của sự bất khả,
có sáu nhân vật. Ba sống sót, ba biến mất
và qua
thế giới bên kia - họ tự tử. (1)
Ba kẻ còn lại trong thế giới này, sau cùng biết, hiểu ra là, cũng nhấp
nha nhấp
nhổm (instable), vô thường, tạm bợ mà thôi. Đó là một hình thức của
“mono no
aware”. Điều lạ, là, khi tôi bắt đầu viết Bài ca của sự bất khả, tôi có
ý tưởng
theo đó, ba trong sáu nhân vật sẽ biến mất, nhưng không biết là ai.
Trong khi
viết tôi tự hỏi chính mình, ai sống, ai chết.
Murakami trả lời Le Magazine Littéraire
Minh Trần Huy phỏng
vấn Murakami
*
(1) Thanh Tâm Tuyền, chắc chắn
chẳng hề biết, và, chưa từng đọc
Murakami, khi viết Một Chủ Nhật Khác,
nhưng đã để nhân vật Kiệt của
ông, đưa
tiễn người tình, Hiền, tới "chỗ đó", rồi lại trở về. Độc giả Một Chủ
Nhật Khác, dù tò mò cách mấy, cũng không hiểu được, và đều như
Duy, bạn
của
Kiệt, đều muốn hỏi Kiệt, Hìền đâu rồi.
*
Sau này Duy hiểu buổi tối ấy đang hồi nguy kịch của đôi tình nhân. Họ
quyết
định chia tay vĩnh viễn. Họ đã không thể bình thường từ biệt nhau. Cũng
không
ai đủ can đảm rời bỏ trước. Mọi quyết định đều gian nan. Duy giúp họ
lìa tách
làm hai. Để họ một mình với quyết định đau đớn chưa rõ những ngày cuối
của cuộc
tình ấy như thế nào. Họ có thể liều lĩnh nhắm mắt lao tới như kẻ ngu
ngốc,
nhưng họ cũng có thể tháo lui vội vã như kẻ tội lỗi. Cả hai đường đều
tồi tệ,
phủ nhận những ngày họ đã sống, phủ nhận điều mà họ đã tin là tình yêu
của họ
qua bao năm tháng. Duy nghĩ thế...
Em là đàn bà, em hãy tưởng
tượng về một người đàn bà… Nàng đã đi
rồi, không bao giờ trở lại. Không bao giờ, thật như thế… Nàng đã trả
anh về cho
em. Nàng giữ anh cho em, nếu không anh đi mất đất rồi. Nàng đẩy anh trở
về, còn
nàng ở lại, nàng ở lại một mình… Anh chỉ đưa nàng đến đó, còn anh trở
về với
em, trở về mãi mãi với em. Anh hy vọng em hiểu….
Một Chủ Nhật Khác
Lạ, là, sau
khi BHD đi rồi, thì Gấu mới biết ra được, cái nỗi buồn cháy da cháy
thịt, khi mất
em.
Vào lúc mất
em, thì chỉ tính bợp cho em vài cái, rồi bỏ đi.
Cái lần gặp sau cùng ở
cổng trường
Ðại Học Khoa Học, Sài Gòn.
Gấu phát hiện
Murakami, là do đọc 1 bài viết về ông, trên tờ Người Nữu Ước, nhân lần bản tiếng
Anh Ký Sự Chim Vặn Cót ra mắt
độc giả. Khi đó, trong nước, và thế giới
chưa mê ông
như bây giờ.
Oe lúc đầu cũng chê Murakami, mãi sau này, mới chịu nổi,
khi Murakami viết về những vấn đề xã hội Nhựt thực sự đang phải đương
đầu.
The Opium Wars
Chiến tranh nha phiến
Be careful what you wish
for
Hãy cẩn thận điều anh mong ước
“Who controls the
past
controls the future. Who controls the present controls the past.”
Kẻ nào nắm quá khứ, nắm tương lai. Kẻ nào nắm hiện tại, nắm quá khứ.
George Orwell
Note: Bài điểm thú quá.
Cái hình lại càng thú!

Trân trọng
giới thiệu
Ở
trên, khi nhắc đến
lòng nhân đạo, trung tâm của đạo đức, tôi cố tình nhắc đến Khổng
Tử và
Karl Marx, hai người được xem là có ảnh hưởng lớn và sâu đậm nhất trong
văn hóa
Trung Quốc, một ở thời cổ đại và trung đại, và một ở thời hiện đại.
NHQ,
Blog VOA
Ðộc giả ngu
ngốc bi giờ đã hiểu Thầy Cuốc “cố tình” dạy chưa?
Cái này là
Viết sau, sau… gì nhỉ?
Ðúng là Tổ
Sư Bồ Ðề!
Bởi vậy cụ Tổ
Sư Tẫu, Khổng Tử, mới dạy lũ con cháu, cả Tẫu lẫn Mít, Tiên học Lễ, Hậu
học Văn, một "điển phạm" 'trung tâm của đạo đức'!

Không biết
cái tít “Sát thủ đầu mưng mủ” ở đâu mà ra, liên quan tới cái chi, riêng
GCC thì
lại nghĩ đến những lần bị nổ ống khói,
hay, đầu súng bị... mưng mủ!
Cái tít của 1 entry của Blog NL, “Cười như đười ươi xóc lọ”, nghĩ đến
những
lần... tự sướng!
“Chán như con gián”, tưởng tượng ra “con
gián”,
con bọ, của Kafka.
Trên tờ TLS
số Oct 7, 2011, có bài viết về cô em gái út mà Kafka thương nhất,
Ottla, và thư
từ của ông anh viết cho cô em gái, may sao còn, được trưng bày ở
Bodleian Library. Lần trưng bày trước, Thư viết
cho Milena, một tư nhân mua trọn, và giấu biệt, chẳng còn ai được
nhìn
thấy nữa.
Cô út này, đúng ra không bị đưa đi Lò Thiêu, vì có chồng là 1 “Aryan”
[Ðức thuần chủng] nhưng, vào ngày 5 Tháng 10, 1943, tình nguyện đi theo
1 chuyến
xe lửa chở trẻ em Do Thái tới Auschwitz, và chết chung với chúng.
THE BEST
TIME,
AND PLACE, TO BE ALIVE: RUSSIA, 1870S-1900S
“The
Devil took me to be born in Russia,” wrote Alexander Pushkin.
Tuyệt
cú mèo!
Quỉ
bắt Gấu phải sinh ra ở xứ Bắc Kít!
Cái
mục Tạp Ghi với cái tít, "Thời đẹp nhất, nơi số 1 để ‘đang còn sống’'",
quả là thú vị.
Quỉ
bắt Gấu sinh ra ở cái làng Thanh Trì phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây, nhưng
cái nơi
chốn, cái thời gian đẹp nhất "còn đang sống", thì phải là “Những Ngày
Mậu Thân”,
tại “Thành Phố Sài Gòn”.
Ui
chao tới bây giờ, lâu lâu Gấu còn mơ thấy cảnh phóng xe Honda từ Chợ
Lớn về Sài
Gòn, về Ðài Liên Lạc VTD, số 5 PDP.
Con đường Hồng Thập Tự, về khuya, đèn hiệu để
chế độ “đồng bộ”, bạn đi đúng vận tốc chỉ định, thì cứ mỗi lần tới 1
ngã tư là đèn
tự động đổi qua màu xanh.
Chạy
xe như điên
trên đường phố Sài Gòn
Cho kịp giờ
giới nghiêm
Cô bạn thân ơi,
nẻo về tuyệt lối
Hồn tôi điên
cuồng réo gọi
HANDWRITING:
AN ELEGY
Note: Bài viết này làm Gấu
nhớ thời gian mới bắt đầu đi làm
Bưu Ðiện, tại Trung Tâm Cơ Xưởng VTD, số 11 Phan Ðình Phùng, Sài Gòn.
Tên thợ máy Bưu Ðiện, là
Gấu Nhà Văn, làm ở phòng Réception,
tức là nơi nhận, và sửa máy thu, receiver, từ các đài địa phương gửi
về. Mỗi lần
cần phụ tùng mới, để thay cái bị hư, thường là đèn điện tử [khi đó chưa có bán dẫn, semi-conductor, hay transitor], điện
trở, resistance, tụ điện, condensator… thì đến gặp tay thư ký
phòng. Ông này, thường ở tuổi sắp về hưu, một đời phục vụ Tây thực dân,
chỉ quãng
xế chiều là được hạnh phúc có Sếp Mít, bèn lấy 1 tờ “fơi” [phiếu lãnh
đồ], dùng
cái ngòi bút bằng sắt, chấm vô lọ mực, và viết ra 1 thứ chữ mà mỗi con
chữ chẳng
thua gì 1 bức tranh nho nhỏ, đưa Gấu Thợ Bưu Ðiện, chàng
bèn cầm đưa cho ông Trưởng Xưởng, ký vô 1 phát, rồi cầm xuống kho lãnh
đồ.
Gấu đi làm sớm
lắm, trong khi Thất Hiền, thí dụ bạn Chất, bạn Tín, vẫn còn đang khổ sở
với cái
bằng Tú Tài II. Một bữa, xế chiều, hai bạn không biết làm gì, bèn tới
thăm Gấu. Ðến cổng, đề
nghị xin cho gặp ông NQT, chuyên viên, Cán Sự Bưu Ðiện, ông già gác
cổng bèn phán,
muốn gặp thằng Trụ hả, chờ đó, tao vô kiếm, biểu nó ra cho tụi mi gặp.
Ui chao, hai
bạn thích quá, nhắc hoài, muốn gặp thằng Trụ hả!
How Haruki Murakami's
'1Q84' Was Translated Into English
By Alex Hoyt
Oct 24 2011,
8:14 AM ET 2
Philip
Gabriel on how he helped make the Japanese author accessible to
American
readers
In 1988, as
a graduate student at Cornell, Philip Gabriel translated the first
Haruki
Murakami story to be published in the U.S., "The Kangaroo
Communique." Since then he's brought three of the author's novels into
English—including Kafka on the Shore , for which he won the
PEN/Book-of-the-Month Club Translation Prize—as well as two works of
non-fiction, a short story collection, and stories published in the New
Yorker
and Harper's. A professor of East Asian studies at the University of
Arizona,
Gabriel has also translated the fiction of Nobel Prize-winner Kenzaburō
Ōe.
Here he discusses his work on 1Q84, Murakami's much anticipated
1,000-page
three-book novel, which he translated with Jay Rubin.
How many
pages did you translate on average each day? How long was the revising
process?
Usually I
work five days a week and finish a rough draft of four pages per day.
Twenty
pages a week, 80 pages a month—that's always my goal. With writers
whose prose
is trickier, I might do only three pages a day, but Murakami is pretty
straightforward and logical. It took about ten months to come up with a
rough
draft of Book 3 of 1Q84, and then I spent two months
revising it. The first
step in revising is to go back and check, line by line, the original
with the
translation. After the first pass the editor and I of course made some
revisions, deciding, for example, to put most of the internal monologue
in
italics, and to put some passages that were in present tense into past.
This is
the part I don't like so much. My eyes feel ready to pop out. It's more
fun to
do the final run-through before I send it out to the editor. Here I
simply read
the whole translation again as a novel in English and try to improve
the
phrasing.
When
translating 1Q84 and other
Murakami works, do you feel any obligation to be
respectful of the voice and feel of Jay Rubin's and Alfred Birnbaum's
translations?
Do you feel that you all are creating Murakami's English oeuvre,
and that it
ought to feel unified, or are you more focused on each book in
isolation?
I admire
Jay's and Alfred's translations, but I just do my own thing, my own
take on
what Murakami should sound like in English. We each have our own
styles--Jay,
for instance, tending to use fewer contractions than I do. I'm the only
one of
the three Murakami translators who's worked with the other two
translators on
projects. When Alfred and I did Underground,
and Jay and I did Blind Willow,
Sleeping Woman, we didn't try to intentionally create anything
unified, but
with 1Q84 the editor, at
least, did try to smooth out any major differences,
which makes sense since it's a single novel. Because my portion of the
novel
came last, the editor had by then decided how to handle certain
stylistic
points, so I went along with them. (Thus, to get back to the earlier
point, my
part has fewer contractions than I usually use.)
You've
mentioned that the nuances of Japanese food are sometimes obscured in
translation. What else gets lost or warped?
I hope
nothing important gets obscured in translation, of course, though in
1Q84 even
the title itself presents a challenge since in Japanese the number 9 is
pronounced
"kyuu." Also some day-to-day things that Japanese take for granted
were difficult--the nuances of how one addresses another person, the
suffixes
(-san and -kun in particular) that are affixed to names, and the level
of
intimacy they convey. Not to mention plays on words.
Jay Rubin,
in Making Sense of Japanese,
broaches the stereotype that Japanese is more
imprecise and mysterious than English.
There's a
generalization out there that Japanese is somehow imprecise or vague
compared
to English. I don't buy it. Japanese communicate as well as anyone, and
a
writer like Murakami—though the overall atmosphere of his work may be
dreamlike
or surreal at times—lays out his ideas clearly.
Is there a
Western language that's at all analogous in structure and cadence?
German, in
that the verbs come at the end?
It's unlike
any other language I've studied, and I've studied Russian, Chinese,
French, and
German. With Japanese verbs coming at the end I sometimes feel that
translating
Japanese into English is like giving away the punch line.
Did Murakami
resist or revise any parts of your translation?
At one point
Jay, Murakami, and I got into the question of the nickname of one of
the cult's
security detail. I originally called him "Skinhead," thinking of a
menacing right-wing figure, but Jay preferred "Buzzcut." Murakami
said he liked the latter—the military connotations it carried—so that's
what we
went with.
Gabriel
Garcia Marquez allegedly told Gregory Rabassa that his English
translation of One Hundred Years of
Solitude was better than the Spanish original. Is it
possible for a translation to improve on the original? Do you think
you've ever
done so?
Can a
translation improve on the original? It would be nice to think so, but
I don't
usually get that feeling. When I finished translating the novel Somersault, by
Kenzaburo Oe, he sent me notes for a few short passages he wanted cut
out of
the translation, as well as three handwritten pages of text he wanted
to put
in. Apparently he'd rethought parts of the story in the meantime. He
told me
that with these changes my translation would be closer to the way he
now wanted
the novel to be than the original. What I got from it is how writers,
Murakami
included, often tinker with and rework their stories. There is an
authoritative
text—but maybe only for the moment.
Note: Sẽ dịch hầu độc giả
TV.
[Nhờ cái link của giáo sư kinh tế THD].
Một bài về dịch thuật thật "mả"!
Những bản dịch qua tiếng Việt của PVT, theo tôi, cũng thật OK. NQT
Hình như
Gabriel Garcia Marquez thổi cái tay Gregory
Rabassa, dịch Trăm Năm Cô Ðơn qua tiếng Anh, bản dịch của ông
bảnh hơn
nguyên tác tiếng Tây Bán Nhà của tôi. Liệu có chuyện bản dịch “nâng bi”
nguyên
tác? Ông đã từng làm được kỳ tích này?
Nếu
thế thì bảnh quá. Nhưng tôi thấy khó mà nuốt nổi câu này.
Borges cũng
nói vậy, nếu
Gấu nhớ không lầm. Ông đọc Ðồng
Qui Xốt bản tiếng Anh trước, sau đọc nguyên tác, tiếng Tây Bán
Nhà, thấy dở hơn bản dịch!
Nhận định
"bản dịch trung thực hơn nguyên tác" của Borges, là do thuở nhỏ, ông
học tiếng Anh trước khi có thể đọc được tiếng Tây Ban Nha. Ông sống
trong cả
hai ngôn ngữ: tiếng Anh là để nói chuyện với bố mẹ, tiếng Tây Ban Nha,
trong cuộc
sống thường nhật. Chính vì vậy, sau này, khi đọc Don Quixote bằng
nguyên bản
Tây Ban Nha, ông thấy đây là một bản dịch dở, so với bản tiếng Anh của
thời thơ
ấu. (When later I read Don Quixote in the original, it sounded like a
bad
translation to me). Và, "thừa thắng xông lên", ông bèn coi tác phẩm
Don Quixote, của Cervantes, là một tác phẩm giả. Ông chứng minh, đồ
"zin", là của một tác giả tên là Pierre Menard (do ông bịa ra). Ông
được coi là một trong những người kể chuyện vĩ đại nhất của thế kỷ 20:
một người
viết những bài điểm sách, về những cuốn sách không hề có, của những tác
giả
"giả" (a man who wrote book reviews of nonexistent books by imaginary
authors).
Làm sao 1
nhà văn như Y Ban, sản phẩm của xã hội đó, bỗ bã hơn cả cái xã hội bỗ
bã đó, viết,
nếu không có một cú “biến chuyển tâm linh” nào đó?
Ðọc lại, Gấu
tự hỏi, “cái gì” đã khiến Gấu viết như vậy. Chỉ đến khi tình cờ đọc bài
viết trên
TLS, 1 số cũ thật cũ, đọc trong khi chờ internet OK trở lại, Gấu mới
thực sự hiểu
ra cái nghĩa “tiềm ẩn” ở trong câu trên: Trong 1 xã hội tha hóa đến
cùng cực, sức
tưởng tượng của nhà văn “rất nhiều khi” không theo kịp thực tại.
Cái sự không
theo kịp này, thì cũng có nhiều lý do. Thiếu đọc, thiếu sống, thiếu
lòng trắc ẩn…
Liệu có
nhà
văn Tẫu nào tiên liệu ra được cái cú em bé hai tuổi chết “xe cán hai
lần”?
Liệu bà Y
Ban có tưởng tượng ra được cái cảnh người đi đường tranh cướp tiền bị
cướp hai
lần?

The Rogue
Genius
Malaparte:
Vies et Légendes by Maurizio Serra.
Paris:
Grasset, 637 pp., €23.00 (paper)
Kaputt
by Curzio
Malaparte, translated from the Italian
by Cesare
Foligno, with an afterword by Dan Hofstadter. New York Review Books,
437 pp.,
$16.95 (paper)
The Skin
by Curzio
Malaparte, translated from the Italian by David Moore.
Northwestern
University Press, 344 pp. (1997)
Edmund White
NYRB Oct 27,
2011
Cùng số báo
có bài điểm mấy cuốn của Malaparte, "nhà văn dấn thân trước khi có từ
dấn thân",
theo Kundera, trong Gặp Gỡ, Encounter.
Ông này, Gấu có dịch, trước 1975, cuốn The Skin, từ bản
tiếng Pháp, La Peau, Làn Da,
thành Thượng Ðế Ðã Chết Trong Thành
Phố
được ông Nguyễn Văn Lục gán cho Koestler, và phụ chú, cuốn này bị
VC cấm, vì là sách phản động!
Trang thơ Tomas Transtromer
Nobel 2011
Night
Thoughts
Những suy tưỏng
trong đêm
The poetry
of Tomas Tranströmer.
Thơ TT
by Dan
Chiasson
October 31,
2011 .
According to
the London bookies, the favorite to win the Nobel Prize in Literature
this year
was Bob Dylan. Instead, the Swedish Academy placed a call to Tomas
Tranströmer,
now eighty and the greatest living Scandinavian poet. Tranströmer
suffered a
stroke in 1990 that robbed him of speech and impaired the use of his
right arm.
Rather than delivering the customary laureate’s address, he will play a
piece
on the piano using only his left hand, a form of self-expression he has
perfected since the stroke. But Tranströmer’s primary form of
expression is the
taciturn, enigmatic poetry he has been writing for sixty years. The
poems are
usually short and muted. His oeuvre, collected in “The Great Enigma”
(translated from the Swedish by Robin Fulton; New Directions; $17.95)
and,
courtesy of various translators, in two reissued volumes, “For the
Living and
the Dead” (Ecco; $15.99) and “Selected Poems” (Ecco; $14.99), is
probably
smaller than any previous laureate’s. Much of Tranströmer’s work feels
like a
dreamed metaphor for what dreams do, stranding us in the alien
stretches of our
own minds. There have been, among poets, many psychiatric patients;
psychologists are scarcer. Tranströmer worked for years as a
psychologist,
mainly with juveniles. Born in 1931 and brought up by his mother in
Stockholm,
he learned piano as a boy, and his poems match the virtues of music to
the
virtues of psychological analysis. His fascination with the unconscious
ignites
his fear of its fickleness, its ruthless and random devastations; few
poets
have made so much of spooking themselves. Tranströmer seeks not the
“deep
image,” but the elusive surface of things. The stroke and the poems
that
Tranströmer has written from inside its cruel sentence have only
dramatized
what was always there in him; the sensation of being arrested by
silence, the
hope that poetry can make small gains upon it.
Theo đám cá
cược London, cơ may đợp Nobel Văn Học 2011 là con gà nòi Bob Dylan.
Thay vì vậy,
thì là gà nhà, 1 con gà già, nhà thơ bị liệt Tomas Trantromer, năm nay
đúng tám
bó, nhà thơ lớn lao nhất hiện chưa ngỏm của Thụy Ðiển. Ông bị tim quật
cho 1 cú
thật nặng vào năm 1990, trấn lột tiếng nói, liệt cánh tay phải. Thay vì
đi một
đường diễn văn cám ơn đời và Hàn Lâm Viện TD, ông sẽ chơi một mẩu dương
cầm,
theo kiểu “độc thủ đại hiệp” Vương Vũ ngày nào, một tuyệt chiêu học
được sau cú
bị tim quật.
Nhưng tuyệt
chiêu, độc chiêu, primary, diễn tả của ông, là thơ, một thứ thơ lầm lì,
bí hiểm,
ông chơi với nó suốt 60 năm. Những bài thơ thì thường ngắn, và câm nín.
Gia tài
thơ 60 năm thì hơi bị khiêm tốn, nhét gọn cái túi quần sau, có thể nói
như thế,
mượn cách diễn tả của tay thư ký Nobel. Tác phẩm của TT, rất nhiều, làm
chúng ta cảm
nhận, như là một ẩn dụ mơ tưởng, về phần việc của những giấc mơ: ngăn
chặn chúng
ta ở những vùng với dài xa lạ của cái đầu, quá
đó là bỏ
mẹ, là “đâu cái điền”. Trong số những thi sĩ, có rất nhiều bịnh nhân
tầm thần. Những
nhà tâm lý học thì là của hiếm. TT làm việc như là 1 nhà tâm lý học,
chủ
yếu là
với đám thanh thiếu niên. Sinh năm 1931, được mẹ nuôi nấng, ở
Stockholm, khi còn
nhỏ học piano, và những bài thơ của ông thì giống như 1 cuộc hôn phối
giữa đức
hạnh của âm nhạc và của nghiên cứu tâm lý học. Bị tiềm thức mê hoặc, và
ông chỉ sợ
tiềm thức tóm lấy ông, gây họa, vì tiềm thức vốn cà chớn [hay thay
đổi, không
kiên định], tàn nhẫn, và tình cờ, ẩu tả [random, hai người yêu nhau rất
tình cờ.
TTT].
Ít thi sĩ nói cà chớn như thế về mình. TT tìm kiếm, không phải
“hình ảnh
sâu xa”, nhưng mà là cái bề mặt lẩn tránh của sự vật.
Cú tim quật và những bài thơ TT
viết, từ bên trong câu thơ độc ác của nó, chỉ làm thê thiết thêm điều
luôn luôn
có ở trong ông: cái cảm giác bị VC tóm bằng câm lặng, [nhét giẻ vô
miệng nó cho
ta, không thấy giẻ thì nhét kít!], và hy vọng, biết đâu đấy, nhờ vậy,
nhờ bị VC
nhét giẻ vô miệng mà làm thơ lại có tí bồi đắp, chăng?
THMN rồi, hà,
hà! [To K]
Gió O tuần
này giới thiệu 3 nữ tác giả của chúng tôi. Một Y Ban lẫy lừng
trong nước.
Một Nguyễn Thị Khánh Minh trội bật với dòng thơ nữ phiêu lưu vào những
gốc chân
triết lý đời sống. Và đặc biệt cây bút trẻ Trangđài Glassey-Trầnguyễn
đang
phiêu lưu vào cõi thơ văn tiếng Việt trên mạng trong thời gian gần đây.
Chữ
nghĩa cẩn trọng chọn lọc và các trục ý thức như là một trí tuệ phiêu
lưu,
Trangđài Glassey-Trầnguyễn là một phiêu lưu sáng tạo với văn chương
Việt đầy hứa
hẹn vì tính chất độc lập và bản lĩnh chọn lựa của cô.
Tôi đọc sáng
tác của ba tác giả này và lấy làm phấn chấn và khích động, hơn là đọc
bài thơ của
ông gì đó ở Thụy Điển vừa nhận giải Nobel Văn Chương. Bây giờ dăn dúm
thời gian
rồi tôi mới nhận ra rằng trong bất cứ tiến trình hội nhập thế giới nào
mà thiên
hạ đang nói về như hiện nay, thì cũng chỉ là anh yếu cơ phải quỵ lụy và
theo
đuôi anh mạnh. Tôi có thể theo phò ông Trắng được giải văn chương gì
đó, nếu
tôi thấy ông có những điểm tôi gần gũi và học hỏi để giúp cho thế giới
riêng của
tôi giàu có thêm. Nhưng rất tiếc tôi thấy ông ta là “Kẻ Lạ” và là “Vật
Lạ”. Tại
sao tôi phải đọc và nói về ông ta khi tôi không thấy giữa tôi và ông ta
có cái
gì gần nhau cả. Thay vì vậy tôi đi đọc thơ tiếng Việt của Trangđài
Glassey-Trầnguyễn
Nguyễn Thị Khánh Minh và Y Ban tôi còn thấy hào hứng hơn.
LTG, Gió O
Giả như bây
giờ có 1 độc giả Việt, đọc cả ba tác giả tiếng Việt "của chúng tôi", mà
bà Huệ khen nức nở đó, và
nhờ biết tiếng của tụi Trắng, đọc được luôn cả cái ông mới được Nobel,
và cũng
khen nức nở, cũng cảm thấy có cái gì gần gần, thì sao?
Tại sao không
thêm ông Trắng Nobel?
Tại là vì cứ
thua cơ người ta mãi?
Bà LTH đã từng
đọc ông TT?
Tôi tin là chưa.
Ông TT, chỉ đến khi được Nobel thì mới được tụi Trắng bắt đầu tìm đọc,
bởi thế mà
cái tay điểm
sách của tờ Người Kinh Tế Mới viết, ông ta kể từ bây giờ sẽ được đọc.
Liệu, những dòng tuyệt vời
viết về thơ TT, ở trên, của 1 ông Trắng, trên tờ Người Nữu Ước, làm ông TT gần gần
với chúng ta, giống Mít da vàng, trong có bà LTH?
Sến Cô Nương,
khi bị chê, [hay khen?], truyện có mùi Cáp Ca, trả lời, bởi vì Cáp Ca
là 1
tên Mít.
Theo nghĩa đó,
1 tác giả được Nobel thì là người của thế giới, như Vargas Llosa đã
mừng rỡ phán,
khi nghe tin mình trúng quả.
Khi được 1 tờ
báo bằng tiếng Tây Bán Nhà hỏi, tại làm sao mà chúng ta cứ phải đọc
những vị thần
của chúng ta, Faulkner, thí dụ, bằng thứ tiếng xái xảm, nghĩa là
đọc qua
bản dịch, và liệu có khi nào bản dịch ngang hàng với nguyên tác,
Bolano, trả lời,
cái đó có, và, cũng có những tác
phẩm không
làm sao dịch được, nhưng vưỡn phải dịch. (1)
Đó cũng là lý
do chúng ta cứ phải đọc ông Trắng vừa được Nobel.
Đọc những dòng
của bà LTH, Gấu lại nhớ đến lần điểm Nỗi
bơ vơ của bầy ngựa hoang, của THT, trước
1975, cùng cái tâm lý nhược tiểu da vàng, bù lại, là cái không khí, cái
tự hào,
nhân loại ngủ dậy thấy biến thành Bắc Kít!
Trong hai cái
khốn nạn, Gấu không chọn cái nào, thành thử không bao giờ thua cơ bất
cứ ai, bởi
vì có so cơ với họ đâu mà sợ?
Riêng cá
nhân tôi, NQT, đọc ba nhà văn “của chúng tôi”, mà LTH lọc ra đó, chẳng
chịu được
1 bà nào cả. Bà Y Ban thì đầu hàng từ lâu. Văn chợ búa, xã hội, chưa
từng làm
chủ được ngòi viết, vì có bao giờ đặt ra vấn nạn tĩnh/động đâu, bởi vì
1 xã hội
như thế, khi viết về nó, là phải tĩnh như núi, phải là “mắt bão”, bà
này làm
sao hiểu được những điều như thế?
NHT viết được mấy cái truyện ngắn là cũng nhờ “úp mặt vào núi”, tạo 1
khoảng
cách giữa ông và thế giới. Và khi xuống núi, thì cũng tẩu hoả nhập ma,
chỉ viết
ra ba thứ "gạ tình lấy điểm", thí dụ.
Làm sao 1 nhà văn như Y Ban, sản phẩm của xã hội đó, bỗ bã hơn cả cái
xã hội bỗ
bã đó, viết, nếu không có một cú “biến chuyển tâm linh” nào đó?
NTKM, làm thơ cũng đã lâu, nhưng Gấu chưa chọn được 1 bài, 1 ý, 1 hình
ảnh thơ.
Còn nữ tác giả thứ ba, mới quá, không có ý kiến.
Đọc câu văn bà H khen, Gấu đếm được 4 chữ phiêu lưu, và tự hỏi, liệu có
khi
nào, họ hết phiêu lưu, thì cái viết của họ sẽ đứng lại được?
(1)
"LITERATURE IS NOT MADE FROM
WORDS ALONE"
INTERVIEW BY HECTOR SOTO AND MATIAS BRAVO
FIRST PUBLISHED IN CAPITAL, SANTIAGO, DECEMBER 1999
Thật là bực
mình khi
nghĩ rằng chúng ta đọc rất nhiều những vị thần của chúng ta (James,
Stendhal,
Proust), qua bản dịch, qua những... xái xảm? Ðó là văn chương ư? Nếu
chúng ta
lèm bèm hoài về vấn đề này, liệu có thể đưa đến kết luận: từ ngữ không
có một
đồng đẳng, ngang hàng?
Tôi nghĩ,
có. Hơn nữa, văn chương đâu chỉ làm
bằng từ ngữ không thôi. Borges phán, có những nhà văn không thể dịch
được. Tôi
nghĩ ông ta coi Quevedo như là 1 thí dụ. Chúng ta có thể thêm vô
Garcia
Lorca và những người khác. Tuy nhiên, Don Quixote có thể cưỡng
lại ngay
cả những đấng dịch giả tồi tệ nhất. Như là 1 sự kiện, nó có thể cưỡng
lại tùng
xẻo, mất mát nhiều trang, và ngay cả một trận bão khốn kiếp. Nghĩa là,
nó cưỡng
lại mọi thứ ở trên đời chống lại nó - dịch dở, không đầy đủ, hay huỷ
diệt - bất
cứ một bản văn Don Quixote nào vẫn có nhiều điều để mà nói ra,
với một
độc giả Trung Hoa, hay Phi Châu. Và đó là văn chương. Chúng ta có thể
mất mát
rất nhiều ở dọc đường, chắc chắn như thế, nhưng đó là định mệnh của nó.
Có còn
hơn không, thì cứ nói như vậy có tiện việc sổ sách.
Source
Julian Barnes Wins The Man Booker Prize
2011
Julian
Barnes thắng Man Booker với cuốn tiểu thuyết “The Sense of an Ending”
[tạm dịch,
theo nghĩa đen: “Ý nghĩa của sự chấm dứt”, còn dịch phóng, nhảm, đại,
thì là, ”Mùi ly biệt”]. Trùm giám khảo thổi, cuốn sách có “những sự làm
ra một
cuốn tiểu thuyết cổ điển của văn chương Anh.” “Phúc bất trùng lai”,
nhưng ông
này, phúc tới bốn lần lận. Ba lần trước đã xém đợp giải rồi.
Giải thưởng
này, hình như cũng có bàn tay Mafia Do Thái dính vô, vì, tụi khốn này
chê, giải
chỉ trao cho ba thứ cà chớn, thứ đọc được, "readability", thay vì thứ
thiên tài, genuine quality, kiểu NTHL của xứ Mít!
Hà, hà!
All
literature carries exile within it, whether the writer has had to pick
up and
go at the age of twenty or has never left home.
Mọi văn
chương, nếu đúng là văn chương, đều cưu mang trong nó, cái gọi là lưu
vong, cho
dù nhà văn khăn gói lên đường bỏ chạy quê hương vào lúc hai mươi, tóc
còn xanh
mướt, hay cả đời chưa rời nhà.
Whereas a
writer outside his native country seems to grow wings.
Nhà văn ở
ngoài quê nhà của mình, thì đều mọc cánh.
Roberto
Bolaño: Exile
Ghi
chú
trong ngày
"Biết
điều gì viết điều đó", quả đúng là trường hợp viết Tạp Ghi của Quỳnh
Giao.
Đa số các cây tạp ghi khác ở hải ngoại, thì cũng viết đấy, nhưng toàn
đi chôm,
ăn cắp, thuổng, ngoài ra còn giở cái giọng đạo đức nữa chứ. Hoặc cái
giọng chửi
thật độc,thật ác, thật dơ.
Nhưng mà chửi
ai?
VC chứ còn
ai!

Trân trọng
giới thiệu.
Bà này mới xứng
đáng lời khen tặng ‘nhân hậu và cảm động’ một vị độc giả Tin Văn tặng
GCC!
"Biết điều gì
viết điều đó", quả đúng là trường hợp viết Tạp Ghi của Quỳnh Giao. Đa
số các cây
tạp ghi khác ở hải ngoại, thì cũng viết đấy, nhưng toàn đi chôm, ăn
cắp, thuổng,
ngoài ra còn giở cái giọng đạo đức nữa chứ. Hoặc cái giọng chửi thật
độc,thật ác, thật
dơ.
Nhưng mà chửi ai?
VC chứ còn ai!
Nhân hậu? GCC, kẻ thù đông
như kiến, làm sao dám nhận hai từ "nhân hậu"? Hơn nữa Gấu gần như mất
mẹ niềm tin vào con người, nhất là cái giống có tên là Mít, thì lấy đâu
ra... nhân? (1)
Cảm động? Có
đấy, có tí ti, ngoài ra thì đen thui, như 1 vị độc giả khác nhận xét về
trang
TV
Bởi vì, cô học trò ngày
nào của TTT phải nhân hậu
lắm thì mới viết ra được những dòng sau đây:
-Quỳnh Giao:
Thực sự khi bắt đầu viết mục này, tôi thấy mỗi người mà tôi viết đến
thường tôi
thích, nên tôi viết với lòng trân trọng lắm. Mình đặt người đó như một
hình ảnh,
một thần tượng của mình và mình muốn độc giả hiểu được người nhạc sĩ,
ca sĩ đó.
Tỉ dụ như tôi gọi danh ca Anh Ngọc là một “giọng hát trượng phu,” tại
vì tôi
luôn luôn nghe giọng Anh Ngọc, tôi nghe ra là một người trượng phu,
không phải
là một người yếu mềm, tình cảm lãng mạn. Chất giọng của ông là trượng
phu, rất
đàn ông tính. Cũng như khi tôi viết về giọng hát cô Thái Thanh thì tôi
nói là
luôn luôn tôi nghe tình cảm Thái Thanh to hơn tình đôi lứa. Ðó là cái
tình của
tình người, tình nhân ái, chất xã hội trong giọng hát Thái Thanh. Những
người
ngoại quốc tôi viết tôi cũng ái mộ họ, cũng đi xem tận nơi để về viết
bài, để
có cảm nhận trực tiếp thẳng đến người đó, chứ không chỉ xem trên đĩa.
-NV: Tạp ghi
này không có lời giới thiệu mở đầu của một nhà văn, nhạc sĩ nào khác,
mà chính
tác giả là người viết luôn lời mở đầu. Ðiều này có ý nghĩa như thế nào
với Quỳnh
Giao?
-Quỳnh Giao:
Tôi nghĩ có lẽ không ai giới thiệu tôi được vì nếu họ giới thiệu tôi
thì một là
người nhạc sĩ đó sẽ có cái nhìn về một người ca sĩ. Nếu là một nhà văn
thì tôi
không phải là nhà văn, tôi không nhận là nhà văn để nhờ nhà văn viết về
mình.
Bảnh thật.
Hách thật.
Ðúng là Thầy
nào, Trò đó!
(1)
Người phỏng
vấn:
Trong Chết
như là Cách Sống, Death as a Way of Life, ông phán: “Tôi không thuộc về
số người
coi Lò Thiêu là một sự kiện đặc thù Do Thái”.
David Grossman:
Tôi không nghĩ, người ta có thể tách "tính Do Thái", the Jewishness,
ra khỏi Lò Thiêu, the Shoah, nhưng đây là một sự kiện mắc mớ đến toàn
nhân loại.
Mọi người, bất cứ một người, ai cũng nên đặt ra cho chính mình, một vài
câu hỏi
liên quan tới Lò Thiêu.
Một trong những
câu như vậy, là:
Đối diện với
chủ nghĩa "mặc kệ nó" toàn diện như thế đó, làm sao tôi có thể khăng
khăng nghĩ
mình, như là một con người?
Điều gì, cái
gì, cái phần nào, trong tôi, không thể nào thiến bỏ được?
Ui chao, đọc
một cái là biết liền tù, cái phần đếch thể nào thiến bỏ được của anh cu
Gấu, là
tật cù lần, quá mê BHD, mỗi lần gặp em là há hốc mồm, mặt thộn ra!
Hà, hà!
Mi đừng có
lôi ta ra làm trò hề, nhất là ở một chuyện nghiêm túc như Lò Thiêu!
Source
David
Grossman, nhà văn Do Thái, là 1 cas đặc biệt rất ư đặc biệt, viết văn
rồi, cũng
nổi tiếng tí ti rồi, thì mới kiếm ra Thầy. Ông này làm Gấu nhớ 1 ông,
tiếc hùi
hụi, vì lỡ quên không nhớ tên. Cũng nổi tiếng, được đời thổi um lên,
cho đến 1
bữa tình cờ vớ được 1 ông chưa từng được Thầy Cuốc xoa đầu, thế là cứ
chìm vào
quên lãng. Ðọc 1 phát, ông la lớn, ui chao, giá mà tôi kiếm ra ông này,
trước
khi viết, thì tác phẩm của tôi khá hơn rất nhiều rồi.
Hoá ra chẳng
ông nào, trong hai ông, tự hào về cái “đầu tiên” của họ cả. Chán thế!
Phỏng vấn
viên:
Trong Nụ Cười
của Cừu Non, The Smile of the Lamb, Uri [nhân vật chính] nói, “Nhà ở
đâu, nói
cho cùng?”, và Abner trả lời, nhà là khoảng trống rỗng giữa đầu cây
viết và tờ
giấy, home is the empty space between the tip of his pen and the paper.
Đó là
điều ông cảm nhận ư?
Grossman:
Nhà là nơi
mà những người tôi yêu thương ở đó, home is where the people I love
are. Càng về
già, thế giới đó càng lạ lẫm, alien, và hơn thế nữa, tỏ ra thù nghịch
đối với
tôi. Câu chuyện mà tôi đang viết là một cái nhà khác, cho dù phải mất
từ hai
cho đến ba năm nó mới trở thành nhà. Tôi chẳng bao giờ cảm thấy cô đơn,
trơ cu
lơ một mình, khi tôi có câu chuyện của tôi, khi tôi biết giọng điệu, the tonus,
của mọi nhân vật và ngôn ngữ.
Giọng điệu?
Giọng điệu,
sức căng của bắp thịt, the tension
of the muscles. Liền lập tức tôi cảm thấy
mình được nối kết, connected,
với những xao động, the emotional
vibrations, của
những con người ở Israel, điều mà tôi không thể cảm thấy khi ra nước
ngoài.
Tuy nhiên,
có vẻ như ông rất bị ảnh hưởng bởi những nhà văn của thế hệ Do Thái Lưu
Vong
[Jewish Diaspora]?
-Khi bạn sắp
sửa ló dạng ra, như là một nhà văn, mọi người sẽ nói cho bạn biết, văn
của bạn
giống, hay, thôi thì nói đại, chôm của ai. Khi còn trẻ, tôi ngoan ngoãn
lắm, và
đồng ý với bất cứ điều gì mà người ta bảo tôi. Một tay làm việc cho đài
truyền
hình Do Thái, một người mới tới, a newcomer, từ Ba Lan, một bữa gọi
điện thoại
cho tôi, và cho biết, cuốn The Smile
of the Lamb của tôi hiển nhiên là chịu ảnh
hưởng của Bruno Schulz. Tôi nói, có thể. Tôi chưa từng đọc Bruno
Schulz, và chẳng
lẽ nói với tay đó, là mình dốt ư?
Ngay từ phút
đầu tiên đọc Schulz, tôi cảm thấy như bị điện giật! Mỗi đoạn văn là một
sự bùng
nổ của những thực tại khác nhau - mộng, mị, ác mộng, tưởng tượng, quái
tưởng,
fantasy. Đọc ông ta khiến tôi muốn sống hơn, sống nữa, reading him made
me want
to live more. Rồi tôi đọc những câu chuyện về cái chết của ông. Ông ta
được một
sĩ quan Đức bảo bọc. Ông này đã từng giết một nha sĩ Do Thái của một
viên sĩ
quan Đức khác. Viên sĩ quan này bèn đi kiếm Schulz và bắn ông ta chết
ngay trên
đường phố. Bạn giết tên Do Thái của tớ thì tớ giết tên Do Thái của bạn.
[Trên
TV có một ấn bản khác nữa, nhưng cả hai
đều xác nhận chuyện Schulz bị một viên sĩ quan Đức khác giết, và khi
anh này
nói với tay sĩ quan bảo trợ Schulz, hắn ta xua tay, nhằm nhò chi, để
kiếm thằng
Do Thái khác thay thế].
Khi đọc điều
này, tôi cảm thấy quá đỗi thê lương. Tôi chẳng còn muốn sống trong một
thế giới,
nơi một chuyện như thế có thể xẩy ra, khi con người có thể thay thế, có
sẵn đó,
tùy nghi sử dụng, replaceable, disposable. Tôi cảm thấy tôi phải làm
cái gì đó
để cứu chuộc cái chết không cần thiết, và tàn nhẫn của ông ta [I must
redeem
his needless, brutal death]. Thế là tôi viết See Under: Love.
Tôi có thể
nói cho bạn biết, trong hầu hết ngôn ngữ cuốn sách của tôi được dịch –
chừng 14
thứ tiếng- trong vòng chừng 1 năm hay cỡ đó, là có một lần tái bản câu
chuyện về
Schulz. (1)
Ui chao thật
là ngọt ngào, thật là dễ thương đối với tôi, khi biết rằng cuốn sách
của mình
đã làm được một điều gì đó cho ông ta, sau khi ông ta làm điều cho tôi.
Ai, ngoài
Schulz ra, ảnh hưởng tới ông?
Kafka, tuy
nhiên, thật khó mà kiếm thấy một nhà văn không bị ảnh hưởng bởi Kafka,
ngay cả
khi người này không viết cùng một cái văn phong như của Kafka.
Kafka là một
giai đoạn văn học mà bạn bắt buộc phải vuợt qua [Kafka is a literary
stage you
have to go through]. Tôi luôn luôn tưởng tượng ra cái xen, Kafka đứng,
hai tay
trên bờ cửa sổ, nhìn bên trong vào cuộc đời [looking inside into life].
Như thể
ông nhìn ra phía bên ngoài từ cái chết, ngay cả khi ông đang còn sống.
Tôi chưa
tìm ra điều này, ở bất cứ nhà văn nào khác.
Cái khúc GCC
gạch dưới, thật tuyệt!
Có thể nói, toàn câu, quá tuyệt.
(1) Coetzee
có 1 bài tuyệt cú mèo về Schulz. Ðọc, Gấu nhớ tới Hoàng Ngọc Tuấn, của
“Thư về
Ðường Sơn Cúc”. Nhờ đọc bài của Coetzee, Gấu mới vỡ ra, tại làm sao HNT
không
làm sao làm được điều, 1 tay viết truyện nhi đồng, 1 tay viết biếm văn
như 1 số
ông Mít, trước 1975. Và sau 1975, ông “đành” chịu thua văn chương, làm
1 tay viết
bình luận bóng đá để kiếm sống cho qua ngày.
Tác giả
‘Tạp
Ghi Quỳnh Giao’:
'Biết điều gì thì viết
điều đó'
Tuesday,
October 18, 2011 8:13:32 PM
Ngọc Lan/Người
Việt
LTS. “Tạp
Ghi” là tên tập sách của người phụ trách mục “Tạp Ghi Quỳnh Giao” trên
nhật báo
Người Việt, sẽ ra mắt độc giả vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, 23 Tháng
Mười, tại
hội trường nhật báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 92683.
Tác giả
Quỳnh Giao tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Ðoan Trang, sinh quán tại Vĩ
Dạ, Huế.
Bà bắt đầu sự nghiệp ca hát khi lên 7 tuổi với tên Ðoan Trang và với
nghệ danh
Quỳnh Giao từ năm 15 tuổi. Sau năm 1975, Quỳnh Giao tiếp tục sự nghiệp
ca hát
và dạy nhạc tại Hoa Kỳ. Năm 1986, bà bắt đầu viết tùy bút, tiểu luận và
truyện
ngắn cho một số tạp chí văn học ở hải ngoại. Từ năm 2005, Quỳnh Giao
giữ mục Tạp
Ghi hằng tuần cho nhật báo Người Việt. Nhân dịp ra mắt “Tạp Ghi,” nhật
báo Người
Việt có cuộc phỏng vấn cùng nữ tác giả này, do phóng viên Ngọc Lan thực
hiện.
Tác giả Quỳnh
Giao cùng tập sách “Tạp Ghi Quỳnh Giao” sẽ ra mắt độc giả vào chiều Chủ
Nhật,
23 Tháng Mười. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)
-Ngọc Lan
(NV): Quỳnh Giao đã bắt đầu con đường ca hát của mình từ lúc nào?
-Quỳnh Giao:
Tôi bắt đầu con đường ca hát của mình từ lúc còn trẻ lắm. Từ lúc 7
tuổi, đã hát
cho ban Tuổi Xanh của hai cặp nghệ sĩ Kiều Hạnh và Phạm Ðình Sĩ, đó là
song
thân của nữ ca sĩ Mai Hương.
Sau đó, lúc 15 tuổi, mẹ tôi là nữ ca sĩ Minh
Trang bị mất giọng vì chứng bệnh hen suyễn nên Quỳnh Giao thế cho mẹ
hát chuyên
nghiệp từ năm mới 15 tuổi. Từ đó đến nay cũng đã nửa thế kỷ rồi.
-NV: Ngoài
ca hát, Quỳnh Giao còn là người dạy dương cầm?
-Quỳnh Giao:
Nghề đó mới là nghề chính khi sang Mỹ. Năm 1975, khi ra khỏi nước sang
đây thì
sinh hoạt ca hát tại hải ngoại hơi hiếm nên mình không thể sống bằng
nghề đó.
Thực ra thì Quỳnh Giao tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc từ năm 1963. Năm
1968 đã dạy
nhạc ở Việt Nam rồi, thành ra qua đến đây thì nghề chính là nghề dạy
đàn, rồi
sau đó có dạy cả luyện giọng.
-NV: Sau nghề
ca hát, Quỳnh Giao lại được độc giả quan tâm theo dõi hằng tuần qua mục
“Âm Nhạc
Quỳnh Giao,” sau này đổi lại là “Tạp Ghi Quỳnh Giao.” Nguyên do nào đưa
Quỳnh
Giao đến với công việc viết lách này?
-Quỳnh Giao:
Như tôi đã trình bày, tôi ra hải ngoại từ năm 1975, nỗi niềm nhớ nước
cứ nung nấu
trong lòng mình những năm đầu, nhiều lắm. Ðó là động lực khiến cho tờ
báo Văn Học
hải ngoại từ những ngày đầu, trong số đặc biệt làm về nhạc sĩ Phạm Duy,
đã mời
tôi viết, và đó cũng là bài đầu tiên tôi viết cho văn học hải ngoại. Từ
đó, anh
Nguyễn Mộng Giác là người chủ bút của tạp chí văn chương đó mời tôi
cộng tác,
anh nói Quỳnh Giao viết được thì cứ thỉnh thoảng viết cho văn học một
vài bài.
Tôi nhớ là tôi không viết nhiều đâu, cứ đến xuân thì tôi mới viết một
bài, tức
một năm chỉ viết chừng một, hai lần thôi.
Nhưng có lẽ
anh Ðỗ Ngọc Yến của tờ Người Việt có để ý, có đọc nên 20 năm trước đây,
khi ảnh
gặp tôi, ảnh có nói cô mà già một tí thì mời cô viết cho Người Việt,
còn bây giờ
cô còn hoạt động, còn bận quá!
Anh Yến nói
thế là nói đùa thôi, nhưng không ngờ là có lẽ Quỳnh Giao già thật nên
người ta
mới mời viết. Quỳnh Giao viết cho Người Việt mục Tạp Ghi này từ năm
2005 đến
nay, mỗi tuần vào ngày Thứ Năm. Mới đầu đó là mục “Câu Chuyện Âm Nhạc,”
nhưng
sau đó tôi đề nghị là âm nhạc Việt Nam chỉ có 70 năm thì bây giờ đã hết
đề tài
rồi, viết về ngoại quốc thì cũng ít lâu sẽ hết, nên hãy cho tôi viết
tạp ghi
thì tôi sẽ viết cả về điện ảnh, cả về đời thường, về những gì mình có
cảm nhận,
có kinh nghiệm thì mình viết ra, thành mục là tạp ghi.
-NV: Quỳnh
Giao có thể giới thiệu rõ hơn những bài viết, những nhân vật mà mình đã
viết
trong tạp ghi.
-Quỳnh Giao:
Thực sự khi bắt đầu viết mục này, tôi thấy mỗi người mà tôi viết đến
thường tôi
thích, nên tôi viết với lòng trân trọng lắm. Mình đặt người đó như một
hình ảnh,
một thần tượng của mình và mình muốn độc giả hiểu được người nhạc sĩ,
ca sĩ đó.
Tỉ dụ như tôi gọi danh ca Anh Ngọc là một “giọng hát trượng phu,” tại
vì tôi
luôn luôn nghe giọng Anh Ngọc, tôi nghe ra là một người trượng phu,
không phải
là một người yếu mềm, tình cảm lãng mạn. Chất giọng của ông là trượng
phu, rất
đàn ông tính. Cũng như khi tôi viết về giọng hát cô Thái Thanh thì tôi
nói là
luôn luôn tôi nghe tình cảm Thái Thanh to hơn tình đôi lứa. Ðó là cái
tình của
tình người, tình nhân ái, chất xã hội trong giọng hát Thái Thanh. Những
người
ngoại quốc tôi viết tôi cũng ái mộ họ, cũng đi xem tận nơi để về viết
bài, để
có cảm nhận trực tiếp thẳng đến người đó, chứ không chỉ xem trên đĩa.
Thực ra
trong “Tạp Ghi” này có 67 bài, trong khi một năm có 52 tuần lễ, thì 67
bài chỉ
mới có hai năm đầu thôi, được xếp theo thứ tự xuất hiện trên báo.
-NV: Như vậy
sau tập tạp ghi này sẽ có tiếp những tập tạp ghi khác?
-Quỳnh Giao:
Nếu độc giả yêu thích, mến chuộng thì Quỳnh Giao nghĩ là mình sẽ có
những tập
tiếp tục.
-NV: Tạp ghi
này không có lời giới thiệu mở đầu của một nhà văn, nhạc sĩ nào khác,
mà chính
tác giả là người viết luôn lời mở đầu. Ðiều này có ý nghĩa như thế nào
với Quỳnh
Giao?
-Quỳnh Giao:
Tôi nghĩ có lẽ không ai giới thiệu tôi được vì nếu họ giới thiệu tôi
thì một là
người nhạc sĩ đó sẽ có cái nhìn về một người ca sĩ. Nếu là một nhà văn
thì tôi
không phải là nhà văn, tôi không nhận là nhà văn để nhờ nhà văn viết về
mình.
Tôi dùng chữ
“Trước Khi Mở Sách” như một tâm tình nho nhỏ, một nhịp cầu bắc giữa độc
giả với
tôi, để họ theo dõi cuốn sách này. Nhiều người nghĩ đó là một sự đơn
giản, mà
tôi thì lại là người thích sự đơn giản, tôi không thích trịnh trọng
giới thiệu
tôi nhiều quá mà đôi khi nó không to tát đến như vậy. Thành ra người
nhạc sĩ
hay văn sĩ giới thiệu mình, họ không biết nói điều gì, mà có khi họ nói
quá
lên, mà trong khi mình muốn sự đơn giản thôi. Thực sự tôi không phải là
nhà
văn, tôi chỉ là người biết điều gì thì viết điều đó, tôi không dám viết
những
điều gì mà mình không biết.
-NV: Xin Quỳnh
Giao giới thiệu thêm với độc giả Người Việt về buổi ra mắt sách sắp tới
sẽ diễn
ra lúc nào, diễn giả có những ai?
-Quỳnh Giao:
Gấp rút lắm, vào Chủ Nhật này, 23 Tháng Mười, lúc 2 giờ chiều, tại nhật
báo Người
Việt, có buổi gặp gỡ bạn đọc và thân hữu để chung vui với Quỳnh Giao và
Quỳnh
Giao sẽ ngồi ký tặng sách cho những độc giả muốn có chữ ký.
Thành phần
diễn giả bao gồm những người Quỳnh Giao quý trọng trong nghề nghiệp, từ
những
người lớn tuổi, biết Quỳnh Giao từ trước 1975, như nhà văn Nguyễn Ðình
Toàn, kịch
sĩ nhà văn Lê Tuấn, hay nhà văn Huy Phương, nhà báo Phạm Xuân Ðài.
Về thành phần
nghệ sĩ cũng toàn những thân hữu của Quỳnh Giao như Kim Tước, Lê Hồng
Quang, Phạm
Hà là những nghệ sĩ mà bao lâu nay Quỳnh Giao hát chung một sân khấu,
hát chung
rất nhiều.
Quỳnh Giao
mong là độc giả đến với Quỳnh Giao trong buổi chiều Chủ Nhật tới vào
ngày 23
Tháng Mười tại hội trường nhật báo Người Việt.
-NV: Cám ơn
Quỳnh Giao và chúc mừng ra mắt quyển “Tạp Ghi” đầu tiên.
THE BOOK OF
ILLUSION
“Ðại Gia Gát
by” của me-xừ dịch giả Trịnh Lữ vưỡn ăn khách số 1, và là chân dung của
Mẽo
đương thời.
Gấu không mê
"Ðại gia Gát By", mà mê "Cuộc Tình Bỏ Ði". Ðọc “Một Chủ Nhật
Khác” của TTT là nhớ đến “Cuộc Tình Bỏ Ði, Tender Is The Night, Dịu
dàng như
đêm”. Còn Gatsby thì từ Anh Môn mà
ra. Frédéric Beigbeder, tác
giả cuốn Bảng Phong Thần Cuối Cùng Trước
Khi Cúng Bà Hoả, tự hỏi, liệu nhà văn nổi tiếng Mẽo, Scott
Fitzgerald đã từng
đọc Anh Môn, trước khi viết Gatsby?
“Bạn nào biết, làm ơn viết thư
cho tôi hay liền, bởi vì những tương tự giữa hai cuốn làm phiền tôi lắm
lắm…”.
Thế hệ bỏ
đi, cuộc tình bỏ đi.
Thế hệ bỏ
đi, như Hemingway kể lại, trong Paris là
một ngày hội, gốc gác của nó, là của một tay chủ gara, nơi Stein
thường sửa
xe. Một lần, "em" mang xế tới, thằng thợ trẻ tỏ ra không sốt sắng lắm
trong vụ phục vụ người đẹp. Thế là em méc tay chủ. Tay này mắng thằng
nhóc.
Stein sử dụng
đúng từ này để đập Hemingway, đám viết lách cà chớn như mấy ông là một
thế hệ vứt
đi, vì đã được thải ra từ cuộc chiến, theo nghĩa:
-Tụi mày cứt
quá, nên cuộc chiến đếch thèm giết.
-Tụi mày tuy
sống sót cuộc chiến, nhưng thế nào cũng có bộ phận bị thương tổn đến
không còn
hoạt động được nữa.
Ui chao,
tới
giờ thì Gấu mới ngộ ra, là, sau cuộc chiến đó, mà lành lặn thì mới khốn
khổ, khốn
nạn.
Thai đố về “điển
phạm” của tờ TLS số Sept 23, 2011. (1)
Nhà văn nào là người đầu
tiên sử dụng điển phạm
phê bình nổi tiếng, famous critical term, “objective correlative”, của
T.S.
Eliot, và sau đó, không bao giờ sử dụng nữa?
Câu trả lời
của TLS: T.S. Eliot.
Tác phẩm sau
cùng của Hemingway sau đó ông tự tử, vào năm 1961?
Paris là 1 ngày hội, xb 1964?
Sai. Hai
chuyện Noel, Two Christmas Tales,
1959, do 1 nhà xb nhỏ. Cuốn hách nhất của Hemingway sau cùng, the last
major
work of fiction, là Ngư Ông và Biển Cả,
1952.
Số NYRB mới,
13 Oct 2011, có bài về Hemingway, thú lắm: Hemingway Now, của James
Salter, điểm
cuốn viết về Hemingway của Paul Hendrickson: Chiếc thuyền của H: Mọi
thứ ông ta
yêu ở trong đời, và mất, Hemingway's
Boat: Everything He Loved in Life, and Lost, 1934-1061.
(1)

The lost
books
Let us begin
with a quiz. Which writer employed T. S. Eliot's famous critical term
"objective correlative" for the first time, and never used it again?
(Answer: T. S. Eliot.) What is wrong with the title of Eliot's book Ara Vus Prec (1920)? (The Vus should be Vos.) Which Nobel Prizewinning American novelist wrote
books called God Rest You Merry Gentlemen (1933) and Voyage to Victory (1944)? (Ernest
Hemingway.) What was the title of Hemingway's final book before his
suicide in
1961? No, not A Moveable Feast (1964)
but Two Christmas Tales, issued by a
small firm in 1959. Hemingway's last major work of fiction was The Old Man and the Sea (1952).
These
matters arise from the forthcoming Sale at Sotheby's in New York of The
Library
of an English Bibliophile, Part II. Many admirers of Papa are likely to
be
unaware of the three books mentioned above, all of them brief. God Rest You Merry Gentlemen, a short
story, was published in a run of 300. The estimate for the numbered
copy (47)
on sale on October 20 is $1,500-2,000. Voyage
to Victory is a "first-hand account of the D-Day Landing at Omaha
Beach on the first day of battle on June 6 1944". Scheduled for
Collier's
magazine in July that year, it was published separately as a
promotional piece.
"Real war is never like paper war", Hemingway wrote in the prologue.
"But if you want to know how it was on D-Day when we took Fox Green
Beach
... then this is as near as I can come to it." The periodical and
separate
volume together have an estimate of $20,000-25,000.
Two Christmas Tales was intended as a
seasonal gift for
friends. "No copies were sold", the catalogue says, but omits to
mention the fact that it appears to be the writer's last publication in
book
form. Hemingway belongs to that peculiar literary club whose members
have more
posthumous publications than those from their lifetimes. Raymond Carver
is
another, Jack Kerouac yet another. Two Christmas Tales is estimated at
$1,200-1,500.
On a related
Hemingway topic: in NB of July 15, we wrote about a French translation
of his
second book, the lower-case in our time, originally published in Paris
in 1924.
"The collection has been only once reprinted (in an academic
volume)", we said. Readers could now buy it in a parallel-text edition,
in our time / de nos jours.
This drew a
response from James Fenton:
"You
surprise me. I have a distinct recollecton that I edited an edition of
Hemingway's short stories for Everyman, in which both versions were
given, one
after the other ... one of its boasts was that you could see in our time in its first experimental
form". The Everyman edition (1985) did indeed include the two
collections
Hemingway published under that title - one lower case, the other upper
case.
Our meaning was that in our time had been "only once reprinted" in a
discrete volume. A copy of the original is in the sale see right -
estimated at
$35,000-40,000.
Hemingway's
Boat: Everything He Loved in Life, and Lost, 1934-1961
by Paul
Hendrickson.
Knopf, 531
pp., $30.00
James Salter
Ernest
Hemingway, the second oldest of six children, was born in Oak Park,
Illinois,
in 1899 and lived until 1961, thus representing the first half of the
twentieth
century. He more than represented it, he embodied it. He was a national
and
international hero, and his life was mythic. Though none of his novels
is set
in his own country-they take place in France, Spain, Italy, or in the
sea
between Cuba and Key West-he is a quintessentially American writer and
a
fiercely moral one. His father, Clarence Hemingway, was a highly
principled
doctor, and his mother Grace was equally high-minded. They were
religious,
strict-they even forbade dancing.
From his
father, who loved the natural world, Hemingway learned in childhood to
fish and
shoot, and a love of these things shaped his life along with a third
thing,
writing. Almost from the first there is his distinct voice. In his
journal of a
camping trip he took with a friend when he was sixteen years old, he
wrote of
trout fishing, "Great fun fighting them in the dark in the deep swift
river." His style was later said to have been influenced by Sherwood
Anderson,
Gertrude Stein, Ezra Pound, journalism, and the forced economy of
transatlantic
cables, but he had his own poetic gift and also the intense desire to
give to
the reader the full and true feeling of what happened, to make the
reader feel
it had happened to him. He pared things down. He left out all that
could be
readily understood or taken for granted and the rest he delivered with
savage
exactness. There is a nervy tension in his writing. The words seem to
stand
almost in defiance of one another. The powerful early stories that were
made of
simple declaratives seemed somehow to break through into a new
language, a
genuine American language that had so far been undiscovered, and with
it was a
distinct view of the world.
He wrote
almost always about himself, in the beginning with some detachment and
a touch
of modesty, as Nick Adams in the Michigan stories with his boyish young
sister
in love with him, as Jake Barnes with Lady Brett in love with him, as
the
wounded Frederic Henry with Catherine Barkley in love with him, Maria
in For Whom the Bell Tolls, Renata in Across
the River and Into the Trees. In
addition to love, he dealt in death and the stoicism that was necessary
in this
life. He was a romantic but in no way soft. In the story "Indian
Camp" where they have rowed across the bay and are in an Indian shanty
near the road:
Nick's
father ordered some water to be put on the stove, and while it was
heating he
spoke to Nick.
"This
lady is going to have a baby, Nick," he said.
"I
know," said Nick.
"You
don't know," said his father. "Listen to me. What she is going
through is called being in labor. The baby wants to be born and she
wants it to be born.
All her muscles are trying to get the baby born. That is what is
happening when
she screams."
"I see," Nick said.
Just then the
woman cried out. "Oh, Daddy, can't you give her something to make her
stop screaming?" asked Nick.
"No. I don't have
any anesthetic," his father said.
"But her screams are not important. I don't hear them because they are
not
important."
The husband in the
upper bunk rolled over against the wall.
The birth, the agony, the
Caesarean, and the aftermath are
all brilliantly described in brief dialogue and a few simple phrases.
But every
word, every inversion or omission is important. Of such stuff were the
first
stories made. "My Old Man" was chosen for Edward O'Brien's Best Short
Stories of 1923. "Up in Michigan," another story, was-for its time-so
frank and disturbing that Gertrude Stein called it un-publishable. …
In 1954 he
was given the Nobel Prize.
Gabriel
Garcia Marquez, still a journalist, caught sight of Hemingway and his
wife in
Paris one day in 1957 walking along the Boulevard Saint-Michel.
Hemingway was
wearing old jeans and a lumberjack's shirt. He had long been one of
Marquez's
great heroes, for his myth as well as his writing. The Old Man and the Sea had
hit Marquez "like a stick of dynamite"; he was too timid to approach
Hemingway but also too excited not to do something. From the opposite
side of
the street he called out, "Maestro!" Hemingway raised a hand as he
called back "in a slightly puerile voice," "Adios, amigo!"
….
Hemingway's
declining health and psychological problems were more serious at the
end of the
1950s. He had shock treatments at the Mayo Clinic and believed the FBI
was
following him. (In fact FBI agents had compiled a large file on him.)
He was
delusional and slurring his speech. It was kept from the public. He was
unable
to write as much as a single sentence. In chilling detail Hendrickson
gives the
almost step-by-step account of his final hour when he rose early one
morning in
Ketchum, Idaho, put on his slippers, and went quietly past the master
bedroom
where his wife was sleeping. The
suicide could be seen as an act of weakness,
even moral weakness, a sudden revelation of it in a man whose image was
of
boldness and courage, but Hendrickson’s book is testimony that it was
not a
failure of courage but a last display of it.
Hemingway's
Boat is a book written with the virtuosity of a novelist,
hagiographic in the
right way, sympathetic, assiduous, and imaginative. It does not rival
the
biographies but rather stands brilliantly beside them-the sea, Key
West, Cuba,
all the places, the life he had and gloried in. His commanding
personality
comes to life again in these pages, his great charm and warmth as well
as his
egotism and aggression.
"Forgive
him anything," as George Seldes's wife said in the early days, "he
writes like an angel." +
The New York
Review of Books, Oct 13. 2011
Truyện ngắn
đầu tiên mà Gấu đọc của H. đúng là Làng
Da Ðỏ, trên có nhắc tới. Một trường hợp đẻ khó. Người đàn
bà đau
quá, la thấu trời, anh chồng hết chịu nổi bèn cứa cổ họng của mình
để khỏi
phải nghe!
Về già, mỗi lần thấy Gấu
Cái ca cẩm khiếp quá, Gấu nhớ đến thằng
cu Gấu đi theo vị bác sĩ trong truyện, và có lần, Gấu kể cho Gấu Cái,
và hăm:
-Mi than khủng quá, ta hết
chịu nổi, là ta bắt chước tên mọi da đỏ!
Giai thoại
Garcia Marquez gặp Sư phụ ở Paris cũng thật tuyệt.
1954 H. được
Nobel.
Garcia
Marquez khi đó là ký giả, nhìn thấy bóng H. trên đường phố Paris, tính
chạy lại “vỗ
vai”, hay “xoa đầu”, nhưng bẽn lẽn quá, bèn đứng xa la to:
-Sư Phụ!
H. giơ
tay vẫy vẫy:
-Adios,
Amigo!
Giai thoại
này, GCC đọc rồi, do chính GM [không phải Gỗ Mun, cũng không phải
General
Motor] kể, trong 1 bài viết trên Người Nữu
Ước, nếu nhớ không lầm.
À, thấy trên
Blog GM có bài “Hôm nay không sách”, đố bạn biết “sách” ở đây là gì?
Trả lời của… TLS: Là Séc. Sex.
Duyên do thế này: Một lần Gấu gặp 1 em ở Trại Tị Nạn, em khoe mới xem
phim Séc
với mấy thằng quản giáo người Thái. Gấu hồi đó ngu quá, không hiểu
Séc là
gì. Khi đến được đất nước tự do, thì mới biết, và cùng lúc được
thưởng thức,
và còn được 1 ông Mít ra đi từ Miền Bắc gọi là “chim mồi”.
Lạ, là
ông này
Bắc Kít mà lại rành chim mồi, thổ ngữ Nam Kít!

"In
selecting St.-John Perse to receive the Nobel Prize for Literature
[1960] the
committees have chosen to honor the work of the most senior of European
poets.
Since the death of Boris Pasternak it is hard to think of any other
major poet
whose characteristic published work stretches from 1909 (Images a Crusoe) to
the present day (Chronique),
and this in itself is not without significance in
any estimate of his achievement. St.-John Perse is often (and rightly)
described as an epic writer- a rare phenomenon these days .... The
poetry of
St. John Perse is the monument he has raised to his own fame and to a
difficult
humanism. Honoring him, we honor ourselves."-Encounter
Tập thơ song
ngữ đọc thật tuyệt, vì nếu không hiểu bên này, thì qua trang bên kia,
hà hà!
Biết
hai thứ tiếng vậy mà có lợi thật. Thủng thỉnh TV sẽ lai rai trích dịch
thay vì đọc
chơi vài bài ca ca dao!
Dù cho bạn thất tình khốn
khổ khốn nạn cỡ nào, thì cũng vưỡn có 1 thằng cha/con
mẹ khốn khổ hơn bạn
It’s always nice to know
that no matter how badly you’ve screwed up
your love life, someone else has done far. Far worse
Neal Pollack
Hai cuốn trên, nhặt từ 1
tiệm sách cũ. Cuốn triết gia vấp ngã đường tình
vừa mới ra lò, 2011.
Ðọc thú lắm.
Hoá ra Gấu chỉ đứng số 2,
vì số 1... đếch có!
Ôi giấc
mộng đã tan...
Mới cách đây
vài chục năm thôi, mùi của đột ngột giàu là mùi thấy được ngay khi
những
công-ten-nơ hàng chậm đánh theo đường biển được khui ra. Cái mùi ấy, ai
đã ngửi
một lần vào thời gian khó, vĩnh viễn không bao giờ quên được. Nó là mùi
bên
trong các thùng hàng chuyển về từ Liên Xô và các nước Đông Âu, hay được
dỡ
khung gỗ ngay ở sân các khu tập thể, đi kèm với tiếng “lách tách” của
bọn trẻ
con dùng ngón tay bấm vỡ những nút ny lông của các tấm lót quấn quanh
xe máy
Simson, xe đạp Mifa và rất nhiều nan hoa cùng nồi áp suất. Mùi thì thăm
thẳm
sâu sắc và âm thanh thì nhí nhách rộn ràng, dấu vết oanh liệt của cái
thuở cho
đến giờ vẫn được rất nhiều người nhớ nhung.
Blog NL
Ðược, được!
[thuổng Mai Thảo]
Thể nào thì
cũng đi đường hoài nhớ về mùi Hà Lội!
NQT
Note: Không
làm sao post còm được, ở cả Gỗ Mun lẫn NL. Ðành về ao nhà vậy. NQT
(Phải cố lắm
tôi mới không đánh sai tên bác thành Transformers - người máy biến
hình; hay ta
cứ gọi bác là Transformers đi cho tiện.)
GM
Gì thì gì, gọi
chệch tên người khác là thiếu sự tôn trọng tối thiểu.
GM: Nói đôi lời tử tế.
How?
Gửi đứa bé
mà tôi sẽ chẳng bao giờ dám mang bầu
*
Nguyễn
Huy Thiệp: Đời hay lắm chứ
Có 1 thời Gấu
cứ nghĩ ông nhà văn Bắc Kít này, trong thời gian "úp mặt vào núi", (1)
khi
làm 1 ông thầy dạy học trên 1 bản làng miền cao, đã linh cảm ra được
cái mầm mống của Tội
Ác Mít,
và mơ mòng tưởng tượng ra một vị hoàng đế Nguyễn Huệ cất công đem
quân ra xứ
Bắc, chỉ để nhét kít vô miệng sĩ phu Bắc Hà, để họ tỉnh ra, nhằm ngăn
ngừa cái
tình trạng cái ác lan tràn như hiện nay.
Hóa ra không
phải.
Người hoá ra
cũng thường thôi.
Chỉ có Gấu là tẽn tò!
(1) "Úp
mặt vào núi", là từ giai thoại "dí thơ vào núi", hay "dí
núi vào thơ", trong bài NHT viết về thơ Ðồng Ðức Bốn, nếu Gấu nhớ
không
lầm. NQT
Nguyễn
Huy Thiệp: Đời hay lắm chứ
Cứ cuống cuồng
lên
Gần đây,
chúng ta nói nhiều tới sự gia tăng tội ác trong xã hội khiến tôi lại
nhớ đến
truyện ngắn "Tội ác và trừng phạt".
Báo chí lâu
nay nói hơi nhiều về tội ác. Trong một ngôi nhà, nếu không khí âm u
phiền não
thì tất cả mọi người sống ở trong đấy sẽ rất nặng nề. "Nghĩ chính phiền
não trừ, nghĩ tà phiền não đến. Chính tà đều chẳng thiết, thanh tịnh
đến vô
cùng...".
Phải hiểu những
tội ác cũng là một sự thường khi xã hội phát triển. Điều quan trọng là
phải biết
để tìm cách diệt nó, không thể nào lờ nó đi được. Sẽ còn có những tội
ác ghê gớm
hơn nữa.
NHT
Note: Không
hiểu NHT muốn nói tới “Tội Ác và Trừng Phạt” của Dos? Nếu đúng thế, thì
đâu phải truyện ngắn.
Ðọc bài viết
mới hỡi ơi. NHT không làm sao hiểu được nguyên nhân cái tội ác trong xã
hội Mít
hiện nay, thành ra Người mới phán cũng là 1 sự thường khi xã hội phát
triển.
Cái tội ác
bi giờ ở xứ Mít nó khủng khiếp, và chẳng giống trước, chẳng phải chuyện
xã hội
phát triển, thì tất nhiên tội ác cũng có tăng trưởng tí ti!
Nguyên nhân
của tội ác xứ Mít có gì tương tự vụ phát sinh Lò Thiêu ở Âu Châu. Lò
Thiêu là hậu
quả của thời kỳ Ánh Sáng; như thế, nó là con đẻ của đỉnh cao chói lọi
của văn
minh Âu Châu, nguồn La Hy.
Tội Ác xứ Mít
là con đẻ của văn minh sông Hồng, và đỉnh cao của nó là chiến thắng 30
Tháng Tư,
1975.
Có 1 thời Gấu
cứ nghĩ ông nhà văn Bắc Kít này, trong thời gian "úp mặt vào núi", (1)
khi
làm 1 ông thầy dạy học trên 1 bản làng miền cao, đã linh cảm ra được
cái mầm mống của Tội
Ác Mít,
và mơ mòng tưởng tượng ra một vị hoàng đế Nguyễn Huệ cất công đem
quân ra xứ
Bắc, chỉ để nhét kít vô miệng sĩ phu Bắc Hà, để họ tỉnh ra, nhằm ngăn
ngừa cái
tình trạng cái ác lan tràn như hiện nay.
Hóa ra không
phải.
Người hoá ra
cũng thường thôi.
Chỉ có Gấu là tẽn tò!
(1) "Úp
mặt vào núi", là từ giai thoại "dí thơ vào núi", hay "dí
núi vào thơ", trong bài NHT viết về thơ Ðồng Ðức Bốn, nếu Gấu nhớ
không
lầm. NQT


Note: Bài về
Kertesz trên TLS Sept 2011, tuyệt.
Viết, sau Lò
Thiêu, thì cứ phải bám chặt lấy câu phán của Camus: Phải tưởng tượng
Sisyphus hạnh
phúc.

Cực
khó hiểu,
tại làm sao, tội ác lan tràn xứ Mít lại làm NHT nhớ đến… Dos?
Số Granta Winter, 2004, về
Mẹ, có bài viết của Ryszard Kapuscinski, When there is talk of 1945 [Nói về
năm
1945 khi nào], thật là tuyệt, với Mít, vì 1945 đúng là cái năm
khốn khổ khốn
nạn của nó.
Ðây là 1 hồi ức về tuổi
thơ của ông, lần đầu nghe bom nổ, đâu biết
bom là gì, chạy đi coi, bị mẹ giữ lại, ôm chặt vào lòng, và thì thào,
cũng một điều
đứa bé không làm sao hiểu nổi: “Chết ở đó đó, con ơi, There’s death
over there,
child”.
Những năm tháng chiến tranh trùng hợp với ấu thời, và rồi, với những
năm
đầu của tuổi trưởng thành, của tư duy thuần lý, của ý thức. Thành thử
với ông,
chiến tranh, không phải hòa bình, mới là lẽ tự nhiên ở đời, the natural
state. Và
khi mà bom ngưng nổ, súng ngưng bắn, khi tất cả im lặng, ông sững sờ.
Ông nghĩ
những nguời lớn tuổi, khi đụng đầu với cái im lặng đó, thì bèn nói, địa
ngục chấm
dứt, hòa bình trở lại. Nhưng tôi không làm sao nhớ lại được hòa bình.
Tôi quá trẻ khi đó. Vào lúc chiến tranh chấm dứt, tôi chỉ biết địa
ngục.
Một trong những
nhà văn của thời của ông, Boleslaw Micinski, viết, về những năm đó:
Chiến tranh
không chỉ làm méo mó linh hồn, the soul,
của những kẻ xâm lăng, mà còn tẩm độc nó, với thù hận, và do đó, chiến
tranh còn làm
biến dạng những linh hồn của những kẻ cố gắng chống lại những kẻ xâm
lăng”. Và
rồi ông viết thêm: “Ðó là lý do tại sao tôi thù chủ nghĩa toàn trị, bởi
vì nó dạy
tôi thù hận”.
Trong suốt
cuộc chiến, hình như Bắc Kít chưa từng quên hai chữ thù hận. Nhưng hết
cuộc chiến,
vẫn không bao giờ quên cả. Thành thử, cái còn lại muôn đời của cuộc
chiến Mít,
theo GNV, chỉ là thù hận.
Một người
như Kỳ Râu Kẽm, “bó thân về với triều đình”, như thế, mà đâu có yên
thân. Chuyện
ông bị đám hải ngoại chửi thì còn có lý, vì rõ là phản bội họ. Nhưng
khốn nạn
nhất là lũ VC chiến thắng, chúng vẫn giở cái giọng khốn nạn ra,
thôi tha
cho tên tội đồ. Cái “gì gì” đứa con hư đã trở về nhà.
Cái còn lại
chỉ là thù hận, nhưng khủng nhất thì vẫn là giữa những đấng Bắc Kít.

When
There
Is Talk of 1945
Ryszard
Kapuscinski
When there
is talk of the year 1945, I am irritated by the phrase, 'the joy of
victory'.
What joy? So many people perished! Millions of bodies were buried!
Thousands
lost arms and legs. Lost sight and hearing. Lost their minds. Yes, we
survived,
but at what a cost! War is proof that man as a thinking and sentient
being has
failed, disappointed himself, and suffered defeat.
When there
is talk of 1945, I remember that in the summer of that year my aunt,
who
miraculously made it through the Warsaw Uprising, brought her son,
Andrzej, to
visit us in the countryside. He was born during the uprising. Today he
is a man
in late middle-age,
and when I
look at him I think how long ago it all was! Since then, generations
have been
born in Europe who know nothing of what war is. And yet those who lived
through
it should bear witness. Bear witness in the name of those who fell next
to
them, and often on top of them; bear witness to the camps, to the
extermination
of the Jews, to the destruction of Warsaw and of Wroclaw. Is this easy?
No. We
who went through the war know how difficult it is to convey the truth
about it
to those for whom that experience is, happily, unfamiliar. We know how
language
fails us, how often we feel helpless, how the experience is, finally,
incommunicable.
And yet,
despite these difficulties and limitations, we should speak.
“Niềm vui
chiến thắng”. Niềm vui nào, khi nói về cái ngày 30 Tháng Tư 1975 đó?
Bao nhiêu
con người chết, để được 1 nước Mít băng hoại, sa đọa, không còn một
chút tự hào
nào về giống Mít.
Ðúng, chúng
ta sống sót, nhưng biến thành 1 cái giống quái gì, ngay 1 tên VC nằm
vùng như
DH mà còn nghĩ là có thể do ăn nhằm phải 1 thứ gì đó mà VC biến thành
ruồi...
Tại sao VC sống
dai như thế?
Tạ lỗi Trường Sơn, tại sao?
Trên
tờ TLS, số Sept 16, 2011, có bài viết, Tại sao Hitler sống dai như thế,
Why
Hitler lasted so long, của Jane Caplan, điểm cuốn Chung Cuộc, The End:
Hitler’s Germany,
1944-45, của Ian Kershaw.
Quái
một cái là những lập luận của tác giả bài điểm sách, nếu áp dụng vô xứ
Mít, đúng
ngay chóc, nhưng phải sửa lại, thay vì giải thích thất bại của chế độ
Nazi, thì là chiến thắng của VC.
Bài thơ Tạ Lỗi Trường Sơn của Ðỗ Trung Quân,
nhìn 1 cách nào đó, cũng nằm trong dòng suy tưởng này.
Tác
giả Jane Caplan mở ra bài viết, bằng trích dẫn Thomas Mann. Những gì
ông nhà văn Ðức này phán,
về Hitler và sự thất trận của Nazi, y chang về VC, nếu chúng ta thay
"thất
trận Nazi", bằng "chiến thắng VC"!
Sự lì lợm kéo
dài cuộc chiến của Hitler, hy sinh đến người Ðức cuối cùng, giọt máu
cuối cùng, dù có phải huỷ diệt nước Ðức,
có gì cực giống đám VC, khi chúng thà chấp nhận 1 nước Mít bị huỷ diệt
vì chiến
thắng còn hơn là chấp nhận trò chơi dân chủ.
On March 20,
1945, Thomas Mann delivered one of his last BBC broad casts to Germany
and
occupied Europe, ringing as usual with his contempt for the Nazis and
his
despair at what they had wrought on Germany and Mann's fellow Germans:
It might be said that
we are judging Germany by an unfair standard if we refuse to admire its
current
desperate struggle, its refusal to accept defeat, its resistance to the
last
man, the last bullet and the last drops of blood, or to recognize the
heroism
enshrined in this. History has always celebrated this kind of ultimate
resistance
as memorable and heroic - and now all of a sudden, for Germany, it is
held to
be meaningless or criminal. This line of argument is false. The
perpetuation of
the war by Germany beyond defeat to annihilation has nothing to do with
heroism, but is in fact a crime committed against the German people by
its
leaders. The people's suicidal struggle is not voluntary but has been
extorted
through moral and physical terror - by rulers who pretend that the
Germans are
bleeding for their honor and self-preservation, when the fact is that
they are
giving their utmost and more for the survival of the scoundrels who
drove them
into this war and who refuse to abdicate at any price, including that
of
Germany's absolute ruination.
Số Granta về
Mẹ, có bài viết của Ryszard Kapuscinski, When there is talk of 1945 [Nói về
năm
1945 khi nào nhỉ?], thật là tuyệt, với Mít, vì 1945 đúng là cái năm
khốn khổ khốn
nạn của nó.
Ðây là 1 hồi ức về tuổi
thơ của ông, lần đầu nghe bom nổ, đâu biết
bom là gì, chạy đi coi, bị mẹ giữ lại, ôm chặt vào lòng, và thì thào,
cũng một điều
đứa bé không làm sao hiểu nổi: “Chết ở đó đó, con ơi, There’s death
over there,
child”.
Những năm tháng chiến tranh trùng hợp với ấu thời, và rồi, với những
năm
đầu của tuổi trưởng thành, của tư duy thuần lý, của ý thức. Thành thử
với ông,
chiến tranh, không phải hòa bình, mới là lẽ tự nhiên ở đời, the natural
state. Và
khi mà bom ngưng nổ, súng ngưng bắn, khi tất cả im lặng, ông sững sờ.
Ông nghĩ
những nguời lớn tuổi, khi đụng đầu với cái im lặng đó, thì bèn nói, địa
ngục chấm
dứt, hòa bình trở lại. Nhưng tôi không làm sao nhớ lại được hòa bình.
Tôi quá trẻ khi đó. Vào lúc chiến tranh chấm dứt, tôi chỉ biết địa
ngục.
Một trong những
nhà văn của thời của ông, Boleslaw Micinski, viết, về những năm đó:
Chiến tranh
không chỉ làm méo mó linh hồn, the soul,
của những kẻ xâm lăng, mà còn tẩm độc nó, với thù hận, và do đó, chiến
tranh còn làm
biến dạng những linh hồn của những kẻ cố gắng chống lại những kẻ xâm
lăng”. Và
rồi ông viết thêm: “Ðó là lý do tại sao tôi thù chủ nghĩa toàn trị, bởi
vì nó dạy
tôi thù hận”.
Trong suốt
cuộc chiến, hình như Bắc Kít chưa từng quên hai chữ thù hận. Nhưng hết
cuộc chiến,
vẫn không bao giờ quên cả. Thành thử, cái còn lại muôn đời của cuộc
chiến Mít,
theo GNV, chỉ là thù hận.
Một người
như Kỳ Râu Kẽm, “bó thân về với triều đình”, như thế, mà đâu có yên
thân. Chuyện
ông bị đám hải ngoại chửi thì còn có lý, vì rõ là phản bội họ. Nhưng
khốn nạn
nhất là lũ VC chiến thắng, chúng vẫn giở cái giọng khốn nạn ra,
thôi tha
cho tên tội đồ. Cái “gì gì” đứa con hư đã trở về nhà.
Cái còn lại
chỉ là thù hận, nhưng khủng nhất thì vẫn là giữa những đấng Bắc Kít!
Antwerp by
Roberto Bolaño – review
Roberto
Bolaño's faith in literature as a dangerous calling is something to
celebrate
Writing is
always an expansion: a writer, given only one life, is compelled to
manufacture
other lives, other stories, other realms. The one life is not enough;
it is
necessary, for whatever reason – an overabundance of language or
imagination,
curiosity, desire, a distaste for finalities – to multiply the
possibilities.
All the same, it's hard to think of a writer who has multiplied the
possibilities more times than Roberto Bolaño; in his multi-narrative,
endlessly
diverging, overlapping fictional worlds, many of which involve his
alter ego,
Arturo Belano, he made a niche speciality out of sudden, queasy views
on to
infinity.
Viết luôn luôn
là khuếch đại, trương nở, bành truớng, hoành tráng mãi ra: nhà văn, chỉ
được
ban cho chỉ 1 cuộc đời, bèn bị ép buộc phải sản xuất ra những cuộc đời
khác, những
câu chuyện khác, những cõi này cõi nọ, kiếp trước ta có nợ chi mi đâu
mà sao kiếp
này mi đòi kiếp khác. Cái chỉ một đó thì chẳng đủ; cần phải, với bất cứ
lý do, tràn
trề ngôn từ, tưởng tượng, tò mò, ham muốn, yêu em suốt 1 đời, suốt một
đời chẳng
đủ, làm sao nhân mãi lên cho đến vô cùng, khả thể.
Ky
est Ky?
Mới có thêm
bài của ông con rể, cũng dân trong làng, viết về bố vợ, Tướng Râu Kẽm,
cộng bài
viết về tên tội đồ nằng nặc đòi đưa xương cốt về Sơn Tây, của một anh
VC, giọng thật là mất dậy.
Post. Ði 1 đường lèm bèm
sau. NQT
V/v NCK. Dân
Sài Gòn hẳn còn nhớ, lần diễn binh mừng ngày quân lực VNCH thì phải, VC
đặt súng
ở Chợ Vườn Chuối pháo kích nhắm khán đài danh dự nơi vườn hoa kế bên
Nhà Thờ
Ðức Bà, Ðại
Lộ Thống Nhất. Mọi người nhốn nháo. Râu Kẽm, râu vẫn thẳng băng không
sợi nào
run, người thẳng đứng.
Bảnh thiệt. Ðúng dân Sơn
Tây.
Bảnh hơn GCC nhiều, tuy
cũng dân Sơn Tây.
V/v cái chất
tếu của NCK. [Ðọc bài của ông con rể]
Chuyện sau đây,
DP, bạn của thằng em của Gấu, kể.
Cũng dân
trong nghề. Trước 1975, phóng viên chiến trường thuộc TLC. Ðã từng làm
MC khi
chưa có nghề MC [anchor?], thông báo diễn tiến cuộc hành quân Hạ Lào
trên Ðài số 9.
Hắn kể với
GCC, về 1 bữa họp báo của tướng Kỳ, và 1 tay nhà báo chọc quê Râu Kẽm,
bữa trước chúng tôi có tham dự 1 cuộc họp báo với ông Thiệu, Ngài có
nhắc tới Râu Kẽm…
Kỳ trả lời,
thảo nào, mấy bữa này tôi bị nhảy mũi hoài.
Dịch
là Phản?
Note: V/v vị tác
giả VCL này, GCC có lần mail cho 1 diễn đàn mà ông hay đóng góp bài vở,
cũng về
cái vụ dịch dọt như vầy, và vị chủ diễn đàn trả lời, tui biết, nhưng
thà đăng
những bài như vầy còn hơn là đăng mấy bài chửi bới, chính chị, chính em!
Copernicus’s
cosmos
Note: Bài điểm
này thật là tuyệt, nhưng bạn phải biết 1 tí về Copernicus, và nhất là,
phải đọc
Koestler, cuốn Những Kẻ Mộng Du, thì
mới thật đã.
TV post ở
đây, và sẽ lèm bèm sau.

Kasparov says, “I have to
be careful not to become cruel, because I became a soldier too early".
Kỳ
Vương
phán:
Tớ phải rất ư là cẩn thận để không trở thành độc ác, bởi vì tớ đi lính
sớm quá!
The Tsar’s Opponent
Garry Kasparov takes aim at the power of
Vladimir Putin.
by David Remnick
Note: Câu
phán của Vua Cờ đúng là số mệnh của giống Mít.
Ðúng hơn, nó chỉ ra nguồn cơn của Cái Ác Bắc Kít.
André
Glucksmann, triết
gia Tẩy mũi lõ cũng đã từng phán:
Bắc Kít bị Ông
Giời trù ẻo, bắt phải gây chiến hoài hoài!

Tất cả các
nhà độc tài đều muốn mạo danh dân chủ.
Blog VOA,
NHQ:
Thế nào là độc tài?
Note: Trừ ông
này, qua bài viết này.
Staline
Dans Le Duel
(1891), on trouve une exacte peinture
de ce que sera Staline:
« Il se
soucie de l'amélioration de l'espèce humaine et, à cet égard, nous ne
sommes
pour lui que des esclaves, de la chair à canon, des bêtes de somme. Il
supprimerait ou enfermerait au bagne les uns, courberait les autres
sous le
joug de la discipline, les forcerait, comme Araktchéiev, à se lever et
à se
coucher au tambour, posterait des eunuques pour veiller sur notre
chasteté et
notre moralité, ferait tirer sur tous ceux qui sortiraient du cercle de
notre
morale étroite et conservatrice, et tout cela au nom de l'amélioration
de
l'espèce humaine ... Et qu'est-ce que l'espèce humaine? Une illusion,
un mirage
... Les tyrans ont toujours été des illusionnnistes. »
Emmanuel
d'Astier raconte que Staline, recevant pendant la guerre quelques
écrivains,
dont Fédine, peut-être Fadéiev, leur aurait expliqué:
« En
littérature, il y a Shakespeare et il y a Tchékhov. Moi, si j'avais été
écrivain, j'aurais plutôt écrit comme Tchékhov. »
La vie en rêve
Beaucoup
d'entre nous inventent les gens et s'éprennent non d'une personne
réelle, mais
d'une idée que nous plaquons sur cette personne, comme un vêtement qui
en
général ne lui va pas. Quel désenchantement quand on s'en aperçoit! Ou
pluutôt,
on s'en aperçoit quand vient le désenchantement, quand on cesse
d'aimer. Bien
des personnages de Tchékhov fonctionnent ainsi, rêveurs qui ne
réagissent pas
selon la réalité, mais selon leur imagination. Sinon, la jeune Sacha
s'éprendrait-elle de cet homme usé, brisé qu'est Ivanov? « Elle
ressuscitera
celui qui est tombé ... Ce n'est pas Ivanov qu'elle aime, mais cette
tâche
", remarque Tchékhov.
Pour jouer l'écrivain Trigorine, dans La Mouette, Stanislavski
s'était
habillé avec élégance. Tchékhov lui dit que ça n'allait pas:
«Il porte un pantalon à carreaux et des chaussures trouées. "
Cela veut dire que Nina tombe amoureuse non du vrai Trigorine,
personnage
plutôt minable, mais de l'idée qu'elle se fait d'un écrivain. Elle est
amoureuse de ses propres rêves.
Dans une réplique de la même pièce, Tchékhov nous dit on ne peut plus
clairement
comment il échappe à l'alternative posée par le vieux Sophocle: « Il
faut
montrer la vie non telle qu'elle est, ni telle qu'elle doit être, mais
telle
qu'elle nous apparaît en rêve. »
[Nhiều người
trong chúng ta phịa ra những người này, người nọ và mê mẩn, không phải
một con
người thực mà là một ý nghĩ mà chúng ta cắm vào con người này, như quần
như áo,
như cái nội y che bướm, thí dụ, và tất nhiên, thường không đúng size,
của bướm
thực ngoài đời. Buồn làm sao khi nhận ra sự thực. Rất nhiều nhân vật
của Tchékhov
là như vậy, những kẻ mơ mộng không sống thực mà tưởng tượng sống.
Nếu không
phải như thế, thì tại làm sao cô Sacha lại mê thằng cha Ivanov tã như
cái rẻ rách?
“Em tái sinh kẻ khi chưa tã… Không phải Ivanov mà em mê nhưng mà là cái
'nghĩa
cả' đó. Ta cứu vớt một kẻ trầm luân, làm sống lại 1 kẻ đã chết",
Tchékhov phán.
Ðể đóng vai
nhà văn Trigorine, trong La Mouette,
con hải âu, Stanislavski ăn mặc thật chỉnh tề. Tchékhov lắc đầu, nhảm,
anh phải mặc
1 cái quần ca-rô, mang đôi giầy thủng lỗ.
Ðiều này muốn
nói, Nina si tình không phải một Trigorine, tên nhà văn hạng bét,
nhưng mà là
1 ý tưởng của em về nhà văn. Em si những giấc mơ của em về đại văn hào
GCC!
Trong một nhận
xét về chính vở kịch này, Tchekhov phán, thật khó mà thoả đáng đòi hỏi
sau đây
của Sophocle: “Phải trình ra cuộc đời, không như nó là, không như nó
phải là, mà như nó là, trong cõi mộng của chúng ta»]
Roger
Grenier là ông Hàn Gallimard. Ðã từng là
ký giả tờ Combat cùng với
Camus. Cuốn Nhìn
tuyết rơi được giải thưởng Novembre
1992
Trong Duel người ta tìm thấy chân dung
đích thị của Staline sau
này:
"Ông ta lo đau đáu,
làm sao thay đổi cái giống người, làm sao có được con người mới XHCN,
và để được
như thế, ông ta bèn coi chúng ta như là những tên nô lệ, là thịt của
súng thần
công, là trâu bò oằn lưng dưới gánh nặng lịch sử. Ông ta trừ khử, nhốt
vô tù lũ
này, khép lũ kia vào kỷ luật thép, ăn ngủ theo tiếng kẻng, đặt ra những
nhà "phê
bình gia", ấy chết xin lỗi, những tên quan hoạn, để canh chừng con chim
và đạo đức của chúng ta, bắn bỏ
đứa nào dám bước ra khỏi cái vòng tròn đạo đức cách mạng chật hẹp và
bảo
thủ, tất cả là để nhân danh con người mới XHCN. Nhưng con người mới
XHCN là
cái chó gì vậy? Một ảo tưởng. Một ảo ảnh. Những tên độc tài thì đều là
những kẻ
ảo tưởng.”
Emmanuel
d'Astier kể là, Stalin trong thời kỳ chiến tranh, có lần kêu mấy ông
Trùm văn nghệ VC Nga, trong
có Fédine,
có thể có cả Fadéiev, tới hầu, và phán:
-Trong văn chương có hai thằng cũng "đường được", là Shakespeare và
Tchékhov. Nếu tớ viết văn, thì
Thầy của
tớ là Tchekhov!
Bài viết đầu,
Tchékhov "phản biện" Thầy Cuốc. Những tên độc tài luôn luôn là những kẻ
ảo tưởng.
Bài viết
sau, chỉ là ứng tác, improvisation, 1 thánh ngôn, của thánh nữ của GCC:
Mi đâu
có yêu thương gì ta, mi thương 1 cái hình bóng của ta, khi còn là 1 đứa
con nít,
và Hà Nội của mi ở trong con bé đó!
Hà, hà!
Ðời trong mộng
Rất nhiều kẻ như thằng cha
GCC trong số chúng ta. Nó tưởng tượng ra hình bóng này, hình
bóng nọ, rồi si mê, không phải 1 con người thực, mà là một ý tưởng mà
nó dâng lên
thánh nữ.
Lạ là không
bao giờ nó tỉnh mộng, vỡ mộng cả, thế mới cà chớn!
Sắp đi xa mà
vẫn như đứa con nít ngày nào dừng cái mobylette ở bên lề đường, nơi
cổng trường
Gia Long, đợi BHD tan học về, đến nỗi
bị Ban Giám Hiệu ra thông báo, cấm cái trò đưa đón như vậy.
Ðầy giọng cà
chớn, thật dễ ghét!
Tks again. NQT
Hồi này Thầy
Cuốc hết còn múa may trường phái văn học này, cách đọc gần, đọc xa kia,
và chỉ “đành
làm” [chôm chữ của TTT], 1 anh ký giả hạng bét, lèm bèm chửi VC, nhạt
đến nỗi
mấy đấng đệ tử cũng chán, hết còn hót rầm trời như hồi mới mở Blog. Bữa
trước
qua Cali, có 1 đấng hỏi GCC, Thầy Cuốc đâu có xứng để cho anh để mắt
tới, Gấu bèn
trả lời, đâu có phải như vậy. Gấu bị Thầy Cuốc đánh, qua diễn đàn Chợ
Cá của Sến
Cô Nương, từ những ngày nảo ngày nào, Gấu đâu có trả lời, đến nỗi Sến
mà còn bực
giùm, tại sao anh không trả lời, hay là già quá rồi, hết xí oát rồi.
Phải đến mãi
sau này, khi Gấu làm xong mấy chuyện kể như đại sự, thấy còn dư tí thời
giờ, mới
trở lại chuyện cũ, bởi nghĩ, một phần như Brodsky, khi trích dẫn 1 châm
ngôn của
anh Tẫu, cứ ngồi hoài bên bờ sông là sẽ có ngày nhìn thấy xác kẻ thù
trôi qua,
và một phần, như… Ðường Tăng, khi vượt
qua dòng sông sau cùng, tới Ðất Phật, nhìn thấy xác ‘kẻ thù’ trôi qua,
bèn hỏi
Phật, xác ai đó, Phật “xoa đầu” đệ tử GCC, phán, xác mi đó!
Hà, hà!
*
Trong những
thánh ngôn của thánh nữ BHD có câu này, thật là tuyệt.
Vào những ngày Sài Gòn đảo
chính lên đảo chính xuống, nhớ hồi em còn học Gia Long, lúc biểu tình
xuống, biểu
tình lên, có lần, nhờ Gia Long biểu tình bãi khoá mà Gấu có được hạnh
phúc chở em lên
nghĩa trang Bắc Việt, hôn em giữa những ngôi mộ, đám cỏ may, và thấy
những hồn ma
gật đầu, được, được, bèn nhờ Cô Nga điện thoại viên gọi điện thoại cho
em. Ðúng
như tiên đoán, ông bố khốn kiếp trả lời.
Không hỏi, có boyfriend
chưa, hẳn có rồi,
nhưng mà là, anh ta ra làm sao.
-Vừa ý ông bố
em lắm. Vừa nghe rục rịch đảo chính là đã vác mấy bao gạo tới nhà H rồi.
Một lát cũng
khá lâu, nói tiếp:
-Gấu không làm
được chuyện đó đâu.
Ui chao, Gấu
nghe mà sướng hết cả cõi lòng.
Về già, Gấu
nghĩ ra, quả như thế, mà cũng không như thế.
Gấu làm được
chuyện đó, dư sức làm chuyện đó, nhưng không làm sao nghĩ ra chuyện đó.
[Không
trình ra cuộc đời như nó là, mà như nó ở trong mộng].
Ghi
chú
trong ngày

Sept 2011
Note: Bài
chưa từng đăng của nữ ký giả đã bị giết Anna Politkovkaia: Nỗi nhục của
Âu Châu
Bài Ngợi Ca
Thói Ðạo Ðức Giả Chính Trị cũng thú. Trích dẫn Orwell, áp dụng vô xứ
Mít cực đúng:
Orwell [tác
giả Trại Loài Vật] tin rằng có một điều gì đó còn đáng sợ hơn cả sự lừa
dối: hoàn
cảnh qua đó nhân dân chẳng có đời mà cũng chẳng có tí ti tình cảm riêng
tư.
Orwell
pensait qu’il y a quelque chose de plus effrayant que la tromperie: la
situation dans laquelle la population n’a plus acune vie ni sentiments
privés.
Ca sĩ Khánh
Ly: Nếu yêu tôi thì yêu bây giờ
Note:
Bài phỏng vấn trực tuyến này có nhiều lỗi quá, TV đang tính type lại,
và post
trên TV, vì có nhiều câu hỏi/trả lời thật thú vị liên quan tới cả hai
nhân vật
của 1 thời là KL và TCS.
Cái
nick ‘nữ hoàng chân đất’, không biết ai là người đầu tiên gán cho KL,
nhưng
người này chôm của mũi lõ, dùng để gán cho Ava Gardner, qua phim La
Comtesse
aux pieds nus, Nữ bá tước chân trần.
Nhưng Ava Gardner còn là nữ nghệ sĩ mà Hemingway rất mê, qua vai diễn
“tiền
định” [tương tự Khánh Ly sinh ra đời để hát nhạc TCS] trong Mặt
Trời Vẫn Mọc,
và nếu như thế, thì nhân vật kể chuyện trong phim [chuyển từ tiểu
thuyết của
H.], lại như “tiền định” nếu so với TCS: Tay này bị mất chim trong
chiến tranh!
Thành thử gán ghép cái nick “nữ hoàng chân trần” cho KL liệu có “hay ho
thú vị”
không?
Trong
những câu hỏi, cũng nhắc tới chuyện này.
Câu trả lời của KL, “chưa kịp”, tuyệt!
NQT
Tình cờ đọc
lại 1 số báo ML Tháng Ba, 2010, về Dos, trong có bài về đạo văn,
thì mới hiểu
ra tại làm sao lại
có những đấng chuyên nghề cớm, ấy là vì không biết sáng tạo là gì, và
cái chuyện
không biết sáng tạo là gì của mấy đấng này, chính là do không biết
"đạo":
Kẻ nào không
bắt đầu bằng bắt chước sẽ chẳng bao giờ biết cái đầu tiên, cái còn zin,
là cái
chó gì.
“Quiconque n’a
pas commencé par imiter ne sera jamais original”
Théophile Gautier
Còn sư phụ
Alain, trong Propos sur l’éducation,
phán:
Có mỗi một cách để sáng tạo, là ăn cắp [Nguyên văn: Chỉ có 1 phương
pháp để phát
minh, là bắt chước, Il n’y a qu’une méthode pour inventer, qui est
d’imiter]
Vấn nạn: Nếu chỉ là đạo
không thôi, thì "cái đầu tiên" là của ai?
Ðếch biết.
Chứng cớ: Hai câu thơ của Beckett, và giai thoại liên quan tới nó, đã
post trên
TV
and
live the space of a door
that opens and shuts
Beckett
một thoáng nhớ
Ðếch biết thật. Bởi thế
Tây mũi lõ mới
phán, Les chefs-d'oeuvre inconnus
n'existent pas, những
đại tác phẩm vô danh không hiện hữu; Gấu mượn, đưa vô bài viết Nước Cờ Hư Trúc
gửi đăng tờ Văn Học của NMG, làm lễ ra mắt, nhờ vậy sau này được ông
gật đầu
cho phép nhập băng giữ mục Tạp Ghi 2 năm trời, có lần được ông chủ
khen, ông là
người đầu tiên viết có phản hồi, trước ông, cứ như viết vào hư vô!
Không chỉ
đám cớm do không viết được 1 cái gì cho ra hồn, nên thù những nhà văn
nhà thơ
thứ thiệt, hở ra 1 cái là chúng xúm lại chửi đạo văn, ăn cắp.... có
thể nói
toàn cõi văn Mít sở dĩ chết non, cứ viết xong thuở làm thơ yêu em,
là hết
xí oát,
ấy là do không chịu tầm thầy học đạo, không chịu kiếm riêng cho mình
một 1
vị Thầy,
để mà làm thịt Thầy!
Bởi vì bạn chỉ có thể có
cái đầu tiên của bạn, sau
khi đã kiếm
ra Thầy, và sau đó, làm thịt Thầy!
TV post toàn
bài viết trên số ML, vì đây đúng là 1 thứ cẩm nang, bí kíp dậy bạn ăn
cắp để trở
thành nhà văn: Du bon usage du plagiat en littérature: Sử dụng tốt trò
đạo tặc
trong văn chương.

« Le plagiat
est la base de toutes les littératures, excepté de la première, qui
d'ailleurs
est inconnue. »
JEAN GIRAUDOUX
Ðạo văn là nền
tảng của mọi văn chương, trừ cái đầu tiên, đếch ai biết.
Hình minh
họa:
Marcel Proust đang đạo văn
Les règles
du savoir-plagier
Cớm Mít, ngoại
& nội không tha PHT.
Cớm Tẩy mũi lõ cũng không
tha Minh Tran Huy:
Minh Tran
Huy a-t-elle écrit «La double vie d'Anna Song»?
Gấu sợ rằng NKD lo lắng
cho Võ Tướng Quân, khi làm bài thơ: Người không
làm sao mà đi chuyến tầu suốt được! Người họa sĩ họ Cù thì vưỡn bình
tâm ngồi
trong tù vẽ tranh, nhưng Võ Tướng Quân thì chắc không được bình tâm như
vậy.
Ông bạn của Gấu là Cao Bồi, đi cũng khó
khăn vô cùng.
Gấu cũng thấy lo cho Võ Ðại Tướng!
Cũng muốn, như NKD, “nhỏ những giọt
nước mắt buồn và lặng lẽ”,
nhưng không làm sao nặn ra được 1 giọt!
Sorry abt that! NQT
Quái là đọc
bài thơ của NKD, Gấu bất giác nhớ tới bài thơ sau đây của Charles Simic:
Đế quốc của
những giấc mơ
Ở trang
đầu
cuốn sách mơ của tôi
Thì luôn
luôn là 1 buổi chiều tối
Trong 1 xứ sở
bị chiếm đóng.
Giờ, trước
giới nghiêm.
Một thành phố
tỉnh lẻ.
Nhà cửa tối
thui
Mặt tiền cửa
tiệm trông chán ngấy.
Tôi ở 1 góc
phố
Đúng ra tôi
không nên có mặt ở đó.
Co ro một
mình, không áo choàng
Tôi đi ra
ngoài phố để kiếm
Một con chó
đen đã đáp lại tiếng huýt gió của tôi.
Tôi mang
theo 1 cái mặt nạ Halloween
Nhưng lại ngại
không dám đeo vô.
Source
Có thể, hồn
ma của 3 triệu con người ám ảnh Gấu, chăng?
Bỗng lại nhớ
đến 1 anh bạn cựu sĩ quan VHCH, cựu tù cải tạo, qua Mẽo diện H.O. Anh
tuyên bố:
[Tới thiên đàng rồi] đếch đi đâu nữa!
Simic cũng có
nói về chuyện này, như qua bài viết của Tomislav Longinovic về ông,
Between
Serbian and English: The Poetics of Translation in the Works og Charles
Simic,
trích đoạn sau đây:
Simic does
not mourn the departure from the native country, since it is a getaway.
Life in
exile is experienced as salvation, and America is the place of
happiness for
the boy. But at the same time, humans are likened to puppets unable to
know or
control their own destiny. The horrific power of history often makes
choices
and decisions for them. This catastrophic vision of the world is
forever branded
into the memory of the poet: "It is always evening in an occupied
country." Each return to the place of origin is a return to the place
where a violent and unwanted separation took place between Dusan and
Charles,
the separation caused by the war and its contingencies. Many years
later
Charles Simic will write in his memoir:
My previous
life has taught me that making plans was a waste of time. My father
used to ask
me jokingly, "Where are we going to immigrate next?" Anything was
possible in this century. The experiment was still in progress. People
like him
and me were its laboratory animals. Strangest of all, one of the rats
was
writing poetry.
Quái hơn hết,
một trong những con chuột [ở đây là Charles Simic, đừng lầm với NKD],
đang làm
thơ.
Milosz
giới thiệu bài thơ trên, và lèm bèm, như sau đây:
A
dream may transform a moment lived once, at one time, and change it
into part
of a nightmare. Charles Simic, an American poet born in Serbia,
remembers the time of the German occupation in his country. This scene
from
childhood is put in relief as the present which is no more, but which
now, when
the poet writes, constantly returns in dreams. In other words, it has
its own
present, of a new kind, on the first page of a diary of dreams.
Một
giấc mơ có thể chuyển hoá 1 khoảnh khắc đã từng sống, ở 1 thời điểm nào
đó, và
biến nó thành 1 phần của một ác mộng. Charles Simic một thi sĩ
Mẽo, sinh ra ở Serbia, nhớ lại thời kỳ Nazi
chiếm đóng nước ông. Cảnh
tượng trẻ thơ của ông được làm nổi lên, như là hiện tại, hiện tại này
thì không
còn, nhưng khi khi ông viết, nó thường xuyên trở lại trong những giấc
mơ. Nói 1
cách khác, nó có hiện tại của riêng nó, theo một dạng mới, ở trên trang
đầu
tiên của cuốn nhật ký của những giấc mơ.
Thảo nào, đọc
bài thơ của Ngài NKD, Gấu lại nhớ ra bài thơ của Simic!
Và, tại làm
sao mà cách đọc bài thơ của NKD của Gấu, khác của Ðỗ thi sĩ.
The
Metaphysician in the Dark: An Interview
Bruce Weigl:
How has the
fact that you're an immigrant affected the way you see the world,
especially as
a writer? How has that immigrant point of view, that particular angle
of
vision, served you as a writer?
Charles
Simic: Enormously, I'm sure. "Displaced Persons," they used to call
us. Left their homelands because of war or tyranny. For Western
Marxists we
were traitors. They were building paradise on earth in Eastern Europe
and we
wanted nothing to do with it. So, right away, outcasts, people who
depend on
charity, who look different, speak the language with a heavy accent,
etc. You
learn not to take things for granted. "Where are we going to immigrate
to
next?" My father used to ask me. He was only half joking. Life is
unpredictable. Anything can happen .... That's the historical and
autobiographical context of my poetry.
BW: What
does it mean to you who watched the German bombs fall in Belgrade when
you were
three years old, who learned English in Paris at the free night school
classes,
and who arrived in New York with not much more than your immigrant's
bundle,
what does it mean to you to be an American poet?
CS: It's
fairly obvious I think. I have no choice. The Yugoslavs know I ain't
one of
them. The language I think and dream in is English. My favorite writers
are
Americans. I spent the last thirty-five years watching baseball on TV.
I mean,
this is the only place on earth where I feel at home. I have memories
of the
other life, but no nostalgias.
Siêu hình
gia trong Bóng đen
Bruce Weigl:
Như thế nào,
sự kiện, là 1 tên di dân ảnh hưởng lên cách ông nhìn thế giới, đặc biệt
như là
1 nhà văn? Như thế nào,
cái nhìn di dân, cái góc đặc dị về tầm nhìn, tác động lên ông như là 1
nhà văn?
Charles
Simic: Nhiều lắm. Khủng lắm, tôi chắc chắn như thế. “Ðám mất gốc, vô
xứ, bán xới”, “Displaced Persons”, như
người ta thường
gọi chúng tôi. Rời bỏ quê nhà vì chiến tranh, độc tài, bạo chúa. Với
đám Tây
Phương Mạc Xịt, chúng tôi là những tên phản bội. Họ đang xây dựng thiên
đàng
trên mặt đất ở Ðông Âu, thế mà chúng tôi chẳng muốn cái chó gì, với cái
chó đó.
Bây giờ thì là, những tên ngoài lề, sống nhờ bố thí, bề ngoài nhìn
chẳng giống
Mẽo, nói tiếng Mẽo bằng giọng cà chớn, nặng chình chịch, etc.
Bạn phải học
và nhớ kỹ điều này, đếch có chuyện tiền cho không biếu không; không chỉ
tiền, mà
mọi thứ thì đều như vậy. “Tiếp đây, chúng mình di cư đi đâu?”, cha tôi
thường nói
tếu tếu, nhưng đâu phải chuyện tếu? Chẳng có gì tiên đoán trước được,
đời
mà. Chuyện gì cũng có thể xẩy ra…. Ðó là nội dung mang tính lịch sử và
tiểu sử
của thơ tôi.
Nghĩa là gì đối
với ông, khi nhìn bom Nazi “rót” [không phải “rớt” nghe] xuống
Belgrade, khi mới
3 tuổi, khi học tiếng Anh ở Paris ở trường miễn phí, và khi tới New
York ông "chỉ"
mang theo cái bị cái bang di dân. Và, nghĩa là gì với ông, khi là 1
nhà thơ
Mẽo?
Tôi nghĩ, hiển
nhiên thì nó là như vậy. Tôi đâu có quyền chọn lựa, đúng không? Cái
ngôn ngữ mà
tôi nghĩ và nằm mơ, là tiếng Anh. Những tác giả ruột của tôi là Mẽo.
Tôi ngốn
TV Mẽo suốt 35 năm sau này của tôi, chỉ để coi baseball. Tôi muốn nói,
Mẽo là nơi
chốn độc nhất ở trên cõi đời này tôi cảm thấy như là nhà của mình. Tôi
có hồi ức
về đời khác, nhưng không, hoài nhớ.
Ðó cũng là câu
trả lời của Gấu, để phân biệt ra, cách đọc bài thơ của ông quan VC,
NKD, và tại
làm sao nó lại khác với cách đọc của Ðỗ thi sĩ.
Gấu đã từng
run sợ những lần VC "rót" hỏa tiễn vô Sài Gòn, trong khi Ðỗ thi sĩ mở
cờ
trong ruột!
Ðỗ thi sĩ có
thể làm thơ "Tạ lỗi Trường Sơn", nhưng Gấu, nếu làm, thì là… ÐM Trường Sơn!
Hà, hà!

Hẹn Em trên
cao lộng gió

Trường Sơn,
phiá bên Lào,
trên đường tới cố đô Luang Prabang
Về
Nhà 2010
Simic chẳng
hề ca cẩm về cái chuyện bỏ chạy quê hương, bởi vì đó là cửa sổ mở ra
thế giới đối
với ông. Ðời lưu vong thì được trải nghiệm, như cứu chuộc, [giọt nước
mắt cam lồ
nhỏ xuống lũ Mít thoát biển cả, hải tặc, đọc “Biển” của Miêng], và Mẽo
thì đúng
là “cõi hạnh” cho đứa bé là ông ngày nào. Nhưng cùng lúc, con người
khác chi con
rối, đồ chơi trong tay Lão Tặc Thiên, họ không thể biết, hay kiểm tra
số
phần riêng của mình. Cái lịch sử khốn kiếp, ghê rợn mà quyền năng của
nó thì được
trao cho những tên coi mạng người như ngoé, “chết bao nhiêu cũng được,
đánh bao
lâu cũng OK”, thí dụ Võ Tướng Quân, chính những tên khốn kiếp này quyết
định thay
cho dân Mít:
“Luôn luôn là 1 buổi chiều tại một xứ sở bị ăn cướp thống trị”, là
vậy. Mỗi 1 sự trở về nơi chốn Mít ngày nào là 1 lần nhập vào ác mộng
[“Ðế quốc
của những giấc mơ”, của Simic]. Nhiều năm sau, Simic viết trong hồi ký:
"Ðời trước của
tôi dạy cho tôi, lên chương trình, bày kế hoạch là trò mất thì giờ,
nhảm. Cha tôi
thường hỏi tôi 1 cách tiếu lâm, “ Kỳ tới cha con mình di cư đi đâu?”
Mọi chuyện
thì đều có thể trong thế kỷ này. Cuộc thí nghiệm vẫn đang tiến hành.
Những con
người như bố tôi và tôi thì là những con vật trong phòng thí nghiệm.
Quái hơn hết,
là 1 con chuột trong số đó, đang làm thơ."
*
Ðỗ thi sĩ
cũng đã từng lên tiếng tố cáo, 1 trong những câu thơ của ông trong bài
“Quê
Hương mỗi người chỉ có một”, bị nhà nước VC thay đổi đi, để sử dụng bài
thơ như
là cái mồi dụ đám Việt Kiều mang đô la trở về. Trong 1 bài viết đã
lâu, Gấu
này có than thở giùm ông, ông nói trễ quá, khi bài thơ đã tã ra rồi,
bổng lộc
nhờ nó thì cũng được tiêu hoá từ đời nảo đời nào rồi.
Nhưng có còn hơn
không. Cái
thế kỷ bửn như thế, mà ra đi không có tí tì vết, thì quá nhảm!
Bài thơ của
NKD, một cách nào đó, cũng có mùi sám hối như vậy, qua những giọt nước
mắt lặng
lẽ, nhân nhìn bức tranh Võ Tướng Quân tròn 100 năm, suốt đời phá nhà
tù, phá
xiềng, hy
sinh hết 3 triệu Mít, mà nhà tù, xiềng Mít vẫn còn!
Làm sao mà dám
nói, không phải thơ?
NQT
Nhà thơ Đỗ
Trung Quân:
Câu cuối của
bài Quê Hương không có trong
nguyên bản
Thật
sự tôi cũng rất ngạc nhiên là bài thơ này có một số phận rất là đặc
biệt, nó được
nhiều người biết đến, nó được loan đi rất là xa, nó có thể gây yêu mến
nhưng đồng
thời nó cũng có thể gây ngộ nhận. Tất cả những cái đó thì đó là số phận
riêng.
Tốt nhất là thôi cứ để nó có số phận của nó.
DTQ
Bài
thơ của Quan VC, NKD, cũng thế.
Cũng
có số phận của riêng nó!
*
Tân nói...
câu nói
'tử
tế' gần đây: "Nó không phải là thơ ạ!"
Lọ
mọ
tìm được
bài này http://phiem-dam.com/vanhoc99.htm nhiều
tư
liệu
hay về
văn học
dịch
miền
Nam trước
đây.
Blog
Gỗ
Mùn
Note:
Bài viết này rất ư là nhảm. Trên TV có nói
rồi. Ðể tra… Google, coi nó đâu.
Thí dụ: Cuốn Thượng Ðế đã chết trong thành phố, NQT,
tức GCC này dịch Malaparte,
từ bản tiếng Tây, La Peau.
Gấu có biết NVL, và đã từng gặp 1 lần qua Cali,
ở nhà họa sĩ NDT, khi đó NKL đang lo tờ Tân Văn cho DN.
NVL viết:
Giữa hai tác
giả Georghiu và Soljénitsyne, tôi vẫn thích nhà văn của Giờ
thứ hai mươi lăm, vì sứ điệp nhà văn gửi đi có phần kín đáo, điều
mà bất cứ người đọc nào cũng muốn góp phần tham dự vào sứ điệp đó. Còn
nhà văn
của Quần đảo ngục tù, sứ điệp gửi đi
lộ liễu quá, nói hết, nói cả, nói đến trần trụi. Nói xong là hết. Còn
có chỗ
nào cho độc giả dự phần?
Nhảm quá. Giờ
thứ 25 là giả tưởng, còn Gulag là chuyện thực.
Bởi thế Solz
mới tặng cuốn sách cho tất cả những ai “hụt” kể câu chuyện Gulag, tức
là những người
đã chết trong Gulag, ông Lục ơi là ông Lục! (1)
Nhận xét của
ông về Ngư Ông và Biển Cả, về Bonjour Tristesse cũng
nhảm.
TV sẽ post lại hai bài viết của Yann Martel về hai cuốn trên, để cho
me-xừ Lục
thấy, ông không có gu đọc giả tưởng, [như cách đọc hai cuốn trên cho
thấy], lại
càng không biết phân biệt, đâu là thực, đâu là giả. Bởi thế ông mới đòi
dự
phần vô... Gulag.
Chắc chắn ông
chưa đi tù VC?
Nên mới đòi
dự phần?
(1)
Le
célèbre exergue de L'Archipel du goulag condense la vocation de
son
auteur: « A tous ceux à qui la vie a manqué pour raconter cette
histoire
".
Source
Tây đặc một thời
BONJOUR
TRISTESSE BY FRANCOISE SAGAN
After the grim work of the
Second World War and the hard work of
the post-war reconstruction, Bonjour Tristesse burst onto the
French
literary scene like a carnival. It announced what seemed like a new
species,
youth, la jeunesse, who had but one message: have fun with us
or be
gone; stay up all night at a jazz club or never come out with us again;
don't
talk to us about marriage and other boring conventions; let's smoke and
be idle
instead; forget the future who's the new lover? As for the tristesse
of
the title, it was an excuse for a really good pout.
YANN MARTEL
Sau một ‘cần lao’ khốc liệt
thời Đệ Nhị Chiến và một ‘cần lao’ cật
lực tái xây dựng thời hậu chiến, Buồn Ơi Chào Mi nổ ra như một
trái bom
trên nền trời văn học Pháp và cùng với nó, là một ngày hội. Nó thông
báo sự ra
đời của một chủng loại mới, tuổi trẻ, la jơn nét, la jeunesse,
thứ sinh
vật mới mẻ này có một thông điệp, và chỉ một mà thôi: hãy vui chơi với
tụi tớ,
nếu không, biến đi cho được việc; nhẩy nhót suốt đêm tại một vũ trường
jazz,
nếu không, đừng bao giờ rủ tụi này đi chơi; đừng nói với tụi này về hôn
nhân,
về ba lẩm cẩm khác, hãy hít đến mụ cả người ra, hãy vờ tương lai – ai
là thằng
bồ mới của mi?
Và cái từ buồn ở trong cái tít quả đúng là một cái trề môi,
'thôi bỏ đi
tám'!
Ui chao, đám jơn nét VC
ở trong nước, con cháu của những
đại gia Bắc Bộ Phủ, hay HNV, hay HNT, quả đã xử sự đúng như vậy, nhưng
ở trong
tim trong gan trong hồn trong não của chúng, có một nỗi buồn,
đúng hơn,
một 'ô nhục': thắng trận!
Một ông sĩ quan VNCH như một THT, làm sao có được nỗi ô nhực ‘bảnh’ như
thế?
Trong những bài viết về Ngư
Ông, bài của tác giả Ðời của
Pi, Yann Martel, thật tuyệt. Ông nhìn ra cái gốc Thánh Kinh của nó.
Liu Xiaobo, Nobel Hòa Bình,
phán, tớ đếch có kẻ thù, là theo nghĩa "Ngư
Ông". Theo nghĩa, nhiều kẻ thù tao, cả 1 nhà nước thù tao, nhưng tao
chưa
kiếm ra kẻ thù, như con cá của Ngư ông.
Ui chao, đôi khi, Gấu này
"cuồng vọng", nghĩ rằng, mình
có nhiều kẻ thù, nhưng chưa gặp con cá, mà gặp con K. [như của Buzzati]
THE OLD MAN AND THE SEA
BY ERNEST HEMINGWAY
February 16, 2009
To Stephen Harper,
Prime Minister of Canada,
From a Canadian writer,
With best wishes,
Yann Martel
Dear Mr. Harper,
The famous Ernest Hemingway. The
Old Man and the Sea is one
of those works of literature that most everyone has heard of, even
those who
haven't read it. Despite its brevity 127 pages in the well-spaced
edition I am
sending you it's had a lasting effect on English literature, as has
Hemingway's
work in general. I'd say that his short stories, gathered in the
collections
In Our Time, Men without Women and Winner Take Nothing,
among
others, are his greatest achievement and above all, the story "Big
Two-Hearted River" but his novels The Sun Also Rises, A Farewell to
Arms and For Whom the Bell Tolls are more widely read.
The greatness of Hemingway lies not so much in what
he said
as how he said it. He took the English language and wrote it in a way
that no
one had written it before. If you compare Hemingway, who was born in
1899, and
Henry James, who died in 1916, that overlap of seventeen years seems
astonishing, so contrasting are their styles. With James, truth,
verisimilitude, realism, whatever you want to call it, is achieved by a
baroque
abundance of language. Hemingway's style is the exact opposite. He
stripped the
language of ornamentation, prescribing adjectives and adverbs to his
prose the
way a careful doctor would prescribe pills to a hypochondriac. The
result was prose
of revolutionary terseness, with a cadence, vigor and elemental
simplicity that
bring to mind a much older text: the Bible.
That combination is not fortuitous. Hemingway was
well
versed in biblical language and imagery and The Old Man and the Sea
can
be read as a Christian allegory, though I wouldn't call it a religious
work,
certainly not in the way the book I sent you two weeks ago, Gilead,
is.
Rather, Hemingway uses Christ's passage on Earth in a secular way to
explore
the meaning of human suffering. "Grace under pressure" was the
formulation Hemingway offered when he was asked what he meant by
"guts" in describing the grit shown by many of his characters.
Another way of putting that would be the achieving of victory through
defeat,
which matches more deeply, I think, the Christ-like odyssey of
Santiago, the
old man of the title. For concerning Christ, that was the Apostle
Paul's
momentous insight (some would call it God's gift): the possibility of
triumph,
of salvation, in the very midst of ruination. It's a message, a belief
that
transforms the human experience entirely. Career failures, family
disasters,
accidents, disease, old age-these human experiences that might
otherwise be
tragically final instead become threshold events.
As I was thinking about Santiago and his epic
encounter with
the great marlin, I wondered whether there was any political dimension
to his
story. I came to the conclusion that there isn't. In politics, victory
comes
through victory and defeat only brings defeat. The message of
Hemingway's poor
Cuban fisherman is purely personal, addressing the individual in each
one of us
and not the roles we might take on. Despite its vast exterior setting,
The Old
Man and the Sea is an intimate work of the soul. And so I wish upon you
what I
wish upon all of us: that our return from the high seas be as dignified
as
Santiago's.
Yours truly, Yann Martel
ERNEST
HEMINGWAY (I899-1961) was an American
journalist, novelist and short story writer. He is internationally
acclaimed
for his works The Sun Also Rises, A Farewell to Arms, For Whom the
Bell Tolls
and his Pulitzer Prize-winning novella, The Old Man and the Sea.
Hemingway's writing style is characteristically straightforward and
understated, featuring tightly constructed prose. He drove an ambulance
in
World War I, and was a key figure in the circle of expatriate-artists
and
writers in Paris in the 1920s
Source
Có hai cuốn
khác của Koestler cũng được dịch là Nội chiến bi thảm và tội không
thành, Thượng
đế đã chết trong thành phố, Nguyễn quốc Trụ dịch. Đây là những tác giả
bị người
Cộng Sản xếp vào loại sách phản động chống Cộng.
NVL
Chỉ một câu
văn mà NVL bắn trật tới mấy cú.
“Nội Chiến
Bi Thảm”, chắc là bản dịch Spanish Testament của
Koestler.
“Tội không
thành”, đúng ra phải là “Tội Công Thành”, một bản dịch khác của cuốn
"Darkness
at Noon", còn được dịch theo cái tít tiếng Tây, "Số Không và Vô Tận".
“Thượng đế đã
chết trong thành phố”, NQT dịch Malaparte, nhà văn Ý, qua bản tiếng
Tây, "La Peau", Làn Da. Không phải tác phẩm chống Cộng, không bị
người CS xếp vào loại sách phản động chống Cộng.
Cũng một lẽ ấy,
Ernest Hemingway viết Ngư ông và biển cả. Chuyện chẳng có gì, chỉ là
chuyện độc
thoại của lão già đánh cá, bằng mọi cách phải mang được con cá câu về.
Cuộc chiến
đấu giữa người và thiên nhiên, bất kể thắng hay bại, lão đã mang được
cá về, mặc
dầu chỉ là một bộ xương. Người ta trao giải thưởng Nobel cho ông hẳn là
ở chỗ
chiều kích tác phẩm muốn nói lên một điều gì? Những chuyện khác của
Hemingway
được dịch như: A farewell to Arms, Giã từ vũ khí. For Whom the bells
Tolls [Ðúng ra là For Whom The Bell
Tolls] Chuông gọi hồn ai .
NVL
Trong số những
tác phẩm của Hemingway, NVL quên cuốn Mặt Trời Vẫn Mọc, (1) do NQT dịch.
Bài viết của
Yann Martel về Ngư Ông tuy ngắn, nhưng thật tuyệt. TV sẽ dịch, như 1
món quà gửi NVL, kỷ niệm lần gặp gỡ tại
nhà NDT, Cali. Có
vẻ như bạn ta chẳng hiểu 1 tí gì về Hemingway, và về Ngư Ông! Chứng cớ
là bạn gán
ghép nó với Saint-Ex, trong khi với dân nhà nghề cuốn sách tiêu
biểu cho "triết lý người hùng" của Hemingway: Con người có thể bị huỷ
diệt
nhưng không thể bị khuất phục, “A man can be destroyed but not
defeated”.
Câu này, ngư ông “ra biển gọi thầm” cho ngư ông và kẻ thù cùng nghe!
(1)
Ca sĩ Khánh
Ly: Nếu yêu tôi thì yêu bây giờ
Note: Bài phỏng
vấn trực tuyến này có nhiều lỗi quá, TV đang tính type lại, và post
trên TV, vì
có nhiều câu hỏi/trả lời thật thú vị liên quan tới cả hai nhân vật của
1 thời là
KL và TCS.
Cái nick ‘nữ
hoàng chân đất’, không biết ai là người đầu tiên gán cho KL, nhưng
người này chôm
của mũi lõ, dùng để gán cho Ava Gardner, qua phim La
Comtesse aux pieds nus, Nữ bá tước chân trần.
Nhưng Ava Gardner
còn là nữ nghệ sĩ mà Hemingway rất mê, qua vai diễn “tiền định” [tương
tự Khánh
Ly sinh ra đời để hát nhạc TCS] trong Mặt
Trời Vẫn Mọc, và nếu như thế, thì nhân vật kể chuyện trong phim
[chuyển từ
tiểu thuyết của H.], lại như “tiền định” nếu so với TCS: Tay này bị mất
chim
trong chiến tranh!
Thành thử gán
ghép cái nick “nữ hoàng chân trần” cho KL liệu có “hay ho thú vị” không?
Trong những
câu hỏi, cũng nhắc tới chuyện này.
Câu trả lời của KL, “chưa kịp”, tuyệt!
NQT
Một vài mẹo
vặt trong việc học Anh ngữ.
Blog HH
Theo Gấu, cái
chuyện học ngoại ngữ này thì có quá nhiều mẹo lớn, mẹo nhỏ, sách lớn,
sách nhỏ,
phương pháp này, nọ… nhưng có 1 điều rất ư là quan trọng, thì lại ít ai
để ý!
Ðó là học để
làm cái gì, với chỉ cá nhân 1 con người, là bạn?
Có 1 câu
chuyện hài, về 1 anh chàng học chữ Tầu, ê a hoài, cho đến 1 bữa, gặp
ông Trạng
Trình. Ông phán, mi không cần học nhiều, chỉ cần học 1 từ, là… ông phán
tiếng Tầu,
dịch ra tiếng Mít là cái gầu múc nước.
Sau tay này đói
quá, đi làm nghề chèo thuyền, gặp bữa Chúa Trịnh giả làm dân, vi hành,
xuống
ghe anh ta, và cắc cớ, bắt mấy đấng quan văn dịch những đồ có trên
thuyền qua
tiếng Tầu, đến cái gầu múc nước, đếch ai dịch được, anh chèo thuyền bèn
lên tiếng,
nó kêu là… Chúa Trịnh bèn cho anh ta 1 chức quan, và chửi đám quan văn
1 trận
ra trò!
Gấu cũng đã
gặp 1 chuyện y chang, hồi mới qua xứ lạnh, đi học ESL, bỏ học, đi học
lấy cái
"lai xần" bán bảo hiểm nhân thọ, và vì bỏ học, nên bị báo cáo lên Sở Xã
Hội, bị cúp
tiền trợ cấp.
Thế là phải viết 1 cái thư trần tình cho em social
worker.
Em đọc,
phôn cho cô giáo ESL, chửi cho 1 trận, thằng Gấu này nó viết cho tao 1
cái thư,
trong có 1 chữ, tao không hiểu, phải tra từ điển. Tao cũng di dân như
nó, ở
Canada tới nay là gần 30 năm, vậy mà đọc thư của nó, không hiểu 1 từ,
tại làm
sao mà mày lại bắt nó học ESL? Mà làm sao mà mày dậy được nó?
Cô giáo trả
lời, nó giỏi từ, giỏi văn phạm, giỏi đủ thứ, nhưng tao gọi nó lên lau
cái bảng,
nó chẳng hiểu tao nói cái gì cả!
Cho tới nay,
cái hiểu biết của Gấu về tiếng Anh vẫn tiếu lâm như vậy.
Có lần mail, nhờ sư
phụ K dịch giùm 1 cái gì đó, bà mail hỏi lại, này anh có đùa không đấy,
hay là
anh chọc quê tôi, thử tài tiếng Anh của tôi?
Nói chung, học
bất cứ 1 tiếng ngoại, thì đều qui vào ba, hoặc bốn dòng thác cách mạng,
nghe,
hiểu, nói, viết, dịch…
Nhưng với người học, thì cần nắm vững 1, hoặc 2 dòng thác
thôi. Ðúng những dòng thác mình cần.
Thí dụ, với Gấu, chỉ cần đọc, hiểu và dịch ra được tiếng Mít cho
mọi
người cùng hiểu!
Trong số những
sách dạy tiếng Anh, có 1 cuốn của nhà Random thì phải, nhỏ xíu, mỏng
dính, nhưng
quả là thần sầu. Gấu vớ được nó ở trại tị nạn Thái Lan, nhờ đó mà vỡ
ra. Tác giả
cuốn sách
phán 1 câu thật bảnh, từ trước tới nay, cái trò dậy tiếng Anh quả là
quá
ngu si, đần độn. [Bà này, hay ông này, có đọc Gió O, có đọc bài viết của bà
Huệ!]. Cái
khốn nạn nhất
của nó, là bắt học sinh nhớ. Thí dụ, 1 câu tiếng Anh thì gồm “chủ từ,
động từ,
túc từ”.
Ðâu có đúng.
Thí dụ câu này:
I Gâu [go].
Ðâu có túc từ?
Có lẽ Gấu cũng
phải mở 1 khóa học tiếng Anh, cho bảnh với đời!
Hà, hà!
Còn chuyện này
cũng rất quan trọng: Cách dạy tiếng Anh cho người ngoại quốc khác hẳn
cách học/cách
dạy tiếng Anh của dân bản xứ. Ðây là phát giác quan trọng của vị tác
giả cuốn sách
mà Gấu tình cờ vớ được tại trại tị nạn, và ngộ ra liền tù tì, nhờ căn
bản tiếng
Phú Lãng Sa sẵn có.
Suốt 4 năm ở
trại tị nạn, hai vợ chồng Gấu sống được là nhờ Gấu dạy học tiếng Anh.
Ðâu có bà
con thân nhân nước ngoài. Bạn bè lúc đầu cũng có gửi cho tí ti. Nhưng
thưa dần
rồi tịt hẳn, Gấu cũng không hỏi xin bao giờ, trừ cầu cứu cha Brisson.
Học trò hầu
hết là đám bị trả về sống với VC. Chúng biểu Gấu, về mới cần tiếng Anh,
chứ đi,
sang tới bên đó, học cũng vưỡn kịp!
BOOKS
PASSED
BY
Dasgupta's novel, set in a vividly imagined
Bulgaria, is a
large portrait of smallness.
Dreams
and responsibilities in Rana Dasgupta's "Solo. "
BY
JAMES WOOD

Ông Nguyễn
Khoa Điềm viết trên blog Quê Choa:
Lập thân mến,
Mình có xem
bức chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Hà Vũ mới vẽ tặng Đại tướng
nhân dịp
ông tròn 100 tuổi. Bức tranh đẹp, rất xúc động. Mình có làm bài thơ gửi
trang mạng
“Quê... Đại tướng” của Lập.
Chúc an vui.
NKĐ
BỨC CHÂN
DUNG NGƯỜI LÍNH GIÀ
Những giọt
nước mắt
Thật buồn
Thật lặng lẽ
Trước bức
chân dung
Người lính
Điện Biên vừa tròn trăm tuổi
Của một người
tù.
Trận chiến Lịch
Sử
Đã phá tung
mọi xiềng xích?
Người họa sĩ
trẻ
Từ sau song
sắt
Vẫn bình tâm
Dành lòng biết
ơn
Không dứt
Cho một người
lính già.
19.9.2011
Nguyễn Khoa
Điềm
*
Đỗ Trung
Quân bình:
Bức chân
dung của đại tướng Võ Nguyễn Giáp được vẽ bởi một tay thực sự chuyên
nghiệp.
Anh Cù Huy Hà Vũ. Anh rất có tài!
Bài thơ của
ông Nguyễn Khoa Điềm, rất tiếc phải nói thật lòng, xin ông đừng giận.
Đấy chỉ
là những dòng “cảm tưởng có vần”, thường thấy ghi trong những sổ cảm
nghĩ đám
ma hay đám cưới.
Thưa ông!
Nó không phải
là thơ ạ!
Đỗ Trung
Quân
Sài Gòn
tháng 9/2011
Bình loạn của
Gấu Cà Chớn
Bài thơ trên
rất hay, và đứng về phiá lề trái, phản động.
Con số 100 năm,
1 đời người, là “chìa khoá” của bài thơ.
Võ tướng quân tròn 100 tuổi.
Cả cuộc đời
của Người dâng hiến cho Cách Mạng
Thề Phanh Thây Uống Máu
Quân Thù:
Ðứng Vùng Lên Gông Xích Ta Ðập Tan.
Như thế thì
làm sao còn có người tù trẻ?
Võ tướng quân
mà đã thế, thì TNXP như nhà thơ họ Ðỗ, “hậu huệ của hậu duệ”, chưa đáng
đệ tử của
Võ, là đám Bộ Ðội Cụ Hồ, thì bao nhiêu 100 năm?
Bạn đọc bài
thơ rồi đọc câu kinh Koran dưới đây, Borges trích dẫn, làm đề từ cho Phép Lạ Bí
Ẩn
Và
Thượng đế làm anh ta chết đi suốt một trăm năm, và rồi
Người cho sống lại và nói:
"Mi ở đây bao lâu rồi?"
"Một ngày, hay một phần của ngày," anh ta trả lời.
Koran, II 261
Cũng là 1 thứ
phép lạ bí ẩn, cuộc đời của Người. (1)
Cách đọc bài
thơ của Ðỗ quân khác Gấu. Chuyện bình thường. Tuy nhiên, Gấu nhận thấy
cách xoa
đầu họa sĩ họ Cù hơi bị lạ. Họa chắc chỉ là trò tiêu khiển của Vũ. Nghề
của ông
là chửi VC. Là luật sư. Chuyên nghiệp luật sư, đâu phải họa sĩ?
(1)
Vào năm
1946, ông Hồ cảnh cáo người Pháp, khi ló mòi cuộc chiến: "Các ông có
thể
giết 10 người của tôi, so với 1 người của các ông. Nhưng chênh lệch như
thế,
chúng tôi vẫn thắng".
Người Mẽo có
vẻ như tin rằng, khí giới ghê gớm của họ sẽ bẻ gẫy ý chí của kẻ thù.
Nhưng, như
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói với tôi [Karnow], vào năm 1990 tại
Hà Nội,
điều quan tâm chính của ông ta, là chiến thắng. Khi tôi hỏi, bao lâu,
"Hai
chục năm, có thể 100 năm - lâu cỡ nào cũng được, chết bao nhiêu cũng
được",
["Twenty years, maybe 100 years - as long as it took to win -
regardless
of cost"].
Con số người
chết thật là khủng khiếp. Chừng ba triệu người hai miền, cả binh sĩ và
thường
dân.
Gấu sợ rằng NKD lo lắng cho Võ Tướng Quân, khi làm bài thơ: Người không
làm sao
mà đi chuyến tầu suốt được! Người họa sĩ họ Cù thì vưỡn bình tâm ngồi
trong tù
vẽ tranh, nhưng Võ Tướng Quân thì chắc không được bình tâm như vậy.
Ông bạn
của Gấu là Cao Bồi, đi cũng khó khăn vô cùng.
Gấu
cũng thấy
lo cho Võ Ðại Tướng!
Cũng
muốn,
như NKD, “nhỏ những giọt nước mắt buồn và lặng lẽ”, nhưng không làm sao
nặn ra được
1 giọt!
Sorry abt that! NQT
ps: Và “bà mẹ
huyền thoại” của TCS, hẳn là thua bà mẹ trong bài thơ “Chiến Tranh” sau
đây, của
Charles Simic.
Làm sao mà bằng Bà Mẹ Gio Linh của
Phạm Duy được !!!
K
Cả hai bà mẹ
Mít, Mẹ “giao liên, huyền thoại, che mưa”… và Mẹ Gio Linh, đều thua Mẹ
Serbia của
Simic.
Một ông da vàng, hát nhạc vàng, mê nhạc đỏ… và một ông" đi và về cùng 1
nghĩa như nhau", cả hai đều lợi dụng thơ và nhạc cho mục đích, mục tiêu
cá nhân,
để “khuây khỏa” lòng dạ đen tối của họ.
Một, chạy tội, một, “bi thảm hóa thảm kịch”.
Thảm kịch đã khốn nạn rồi, vậy mà còn bi thảm hoá nó, để "ăn khách" hơn
lên.
"Em" TT, người đẹp trong truyện ngắn Cửa
Sau của MT, chẳng đã thú tội trước bàn thờ, mỗi lần hát
Mẹ Gio Linh, là mỗi lần khóc ư?
Làm sao so được với thứ
thơ ca “thực”, được.
PD, khi trở
về Việt Nam để ở lại luôn, bị đám chống cộng điên cuồng hải ngoại chửi
dữ quá, ông
có trả lời trong 1 video, như Gấu còn nhớ được, đại khái, tôi thương
hại họ, họ
ghen với sự thành công của tôi.
Quả có thế
thực, nhưng chính sự thành công của ông đó làm chúng ta… thương hại
ông, và một
phần nào đó, làm chúng ta bớt yêu nhạc của ông.
Giá mà ông bớt
thành công đi 1 tí, thì nhạc của ông có thể bảnh hơn nữa chăng?
Cái ý này thì
Gấu cũng đã nói nhiều rồi, nhân đọc lời khuyên của Alain, cho học trò
của ông: đừng
thành công!
Trên Da Màu,
nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường, [được gợi hứng từ bài viết về PD trên TV?],
có làm
1 bài thơ về PD, như sau đây.
Nguyễn Đăng
Thường
16.09.2011 .
Thỉnh thoảng
tôi còn nghe Trở Về Mái Nhà Xưa
lời Việt.
Thích nghe lại
bài hát cũ của tuổi học trò ấy
vì tiếng nhạc
hay vì lời ca?
Dunno. Tôi
không biết.
Bởi lẽ rất
giản dị là tôi không hề có ước mơ trở về
nơi chốn cũ.
Mà dẫu như
có
thì chân tôi
sẽ không biết phải lê bước về đâu
cũng như
thuyền tôi sẽ không biết phải quay lại
bến nào.
Bởi lẽ rất
buồn cười là vì tôi có quá đông
những mái
xưa và những bến cũ.
Nếu thành thật
để đấu láo trong trường hợp này
thì tôi xin
nói thẳng rằng tôi chỉ mến
Phạm Duy nhạc
sĩ
tác giả bài
Tình Hoài Hương
và tôi rất
mê
Phạm Duy thi
sĩ
kẻ đã viết
ca từ Việt siêu thoát cho nhạc ngoại.
Phạm Duy có
phải là tình yêu của tôi?
PD tới nhất,
thành công nhất, theo Gấu, là khi mượn sức người để đẩy nhạc của ông
lên,
đúng như NDT phán. Tuy nhiên nhạc ngoại quốc lời PD cũng chưa ghê bằng
thơ của
người khác, được PD phổ nhạc.
Gấu băn khoăn hoài về hiện tượng này, và sau
cùng, cố giải thích bằng hiện tượng “doping”. Chỉ 1 khi bị “thuốc”, thì
PD mới
bộc lộ ra hết tài năng.
Thuốc, ở đây, có thể là 1 người đẹp, bởi thế sau mỗi
cuộc tình, ông lại để cho đời 1 tuyệt tác, có thể là thơ của người, có
đó, là để
chờ ông phổ nhạc.
Hiện tượng này liên quan đến câu phán khủng của Steiner (1), lập
lại ý của Lévi-Strauss, về sự huyền nhiệm của giai điệu, melody, và từ
đó, có thể, còn giải thích mối liên hệ giữa nhạc và thơ...
(1)
Trong
bài viết Một Cái Chết của Những Vì
Vua, A Death of Kings, Steiner cho rằng có ba cuộc đeo đuổi trí
thức, intellectual pursuit, con người đạt được những kỳ công lớn lao
trước tuổi dậy thì. Đó là âm nhạc, toán học, và cờ tướng [chess].
Liền đó, ông
vinh danh
Lévi-Strauss và
cơ cấu luận: Levi-Strauss nhìn thấy ở trong sự phát minh ra giai điệu
“chiếc
chìa khoá mở ra niềm bí ẩn tối thượng’ của con người – nó là cái manh
mối mà nếu
chúng ta mò theo thì có thể sờ vô được cái máy trời đặc dị, cái thiên
tài chủng
loại.
[Music and mathematics are among the
preeminent wonders
of the race. Levi-Strauss sees in the
invention of melody "a key to
the supreme
mystery"
of man - a clue, could we but follow it up, to
the singular structure and genius
of the
species].
Thỉnh thoảng
lại thấy mấy hạt sạn trên TV :
1.
The
trembling finger of a woman
Goes down
the list of casualties
On the
evening of the first snow
The house is
cold and the list is long.
All our names
are included.
Ngón tay run
rẩy của người đàn bà
Chạy dọc
theo, không phải
danh sách
chiến lợi phẩm,
mà là những
mất mát, tổn hại.
Vào một buổi
chiều đầu tuyết
Căn nhà thì
lạnh, và danh sách thì dài.
Tên của tất
cả chúng ta thì đều có trong đó.
List of
casualties : Danh sách tổn thất (nhân mạng: những người chết , bị
thương, mất
tích .. .)
2. Trong một
đoạn phỏng vấn Murakami, " To make up one's mind " có nghĩa là "
quyết định" (làm một việc gì đó) chứ không phải "đổi cái đầu " .
Đoạn ấy đâu rồi tìm không thấy trên mấy bài đang đăng nên không copy
and paste
được . (1)
Và một số
khác, nhưng chừ quên rồi .
K
Tks. Sẽ sửa
lại. NQT
Khi dịch “List of casualties”, và “made up your mind”,
“lệch pha” như
trên, Gấu bị THNM, và nghĩ đến đám… VC.
Chúng đâu cần biết tổn thất, mà chỉ
nghĩ đến chiến lợi phẩm. Chúng làm sao "quyết định", nhưng giả như
chúng
"đổi cái đầu", vờ đi ít lâu
văn học hiện thực xạo hết chỗ nói, may ra có khác đi chăng!
Ða tạ. NQT
ps: Và “bà mẹ
huyền thoại” của TCS, hẳn là thua bà mẹ trong bài thơ “Chiến Tranh” sau
đây, của
Charles Simic. (2)
Làm sao mà bằng Bà Mẹ Gio Linh của
Phạm Duy được !!!
K
Cả hai bà mẹ
Mít, Mẹ “giao liên, huyền thoại, che mưa”… và Mẹ Gio Linh, đều thua Mẹ
Serbia của
Simic.
Một ông da vàng, hát nhạc vàng, mê nhạc đỏ… và một ông" đi và về cùng 1
nghĩa như nhau", cả hai đều lợi dụng thơ và nhạc cho mục đích, mục tiêu
cá nhân,
để “khuây khỏa” lòng dạ đen tối của họ.
Một, chạy tội, một, “bi thảm hóa thảm kịch”.
Thảm kịch đã khốn nạn rồi, vậy mà còn bi thảm hoá nó, để "ăn khách" hơn
lên.
"Em" TT, người đẹp trong truyện ngắn Cửa
Sau của MT, chẳng đã thú tội trước bàn thờ, mỗi lần hát
Mẹ Gio Linh, là mỗi lần khóc ư?
Làm sao so được với thứ
thơ ca “thực”, được.
NQT
Cô Tư, trong Một Mối
Tình, có phán 1 câu, áp dụng vô đây, thì thật là "thông minh
và sáng tạo",
để phân biệt giữa nước mắt, thực và giả, giữa giấc mộng đã tan sao ảo
tưởng vẫn
còn!
Chợt nó hỏi:
-Sao Dì Út
không lấy chồng, Dì ở vậy hoài Ngoại rầu lắm đó."
-Dì còn phải
đi hát.
-Dì hát vui
hay Dì lấy chồng vui?
Tôi cười, lấy
chồng vui hơn, nhưng phải lấy ngay trân người mình thương kìa. Còn đi
hát thì
không vui không buồn, mơ hồ lắm, thấy cười ha ha chưa chắc đã vui, thấy
rặn ra
một đống nước mắt vậy mà hổng phải buồn. Có lúc đang ở nhà lại muốn đi,
có lúc
đang hát ở trên sân khấu vậy tự nhiên thèm về nhà. Bầu hỏi tôi thường
đóng vai
gì, tôi kể, nhiều lắm, hiền có, ác có, mà toàn vai phụ không thôi... Tự
dưng
tôi nghe nỗi buồn chao chát trong lòng, tôi bảo, nhưng có một vai Dì
thèm mà
không ai cho đóng, vai gì hả, vai một người bình thường, có chồng, sống
với
nhau trong căn nhà xưa, cũ kỹ. Buổi sáng, chở mớ rau vườn ra chợ, mua
ít thức
ăn về nấu bữa cơm trưa, chiều phụ chồng mần cỏ rẫy, chạng vạng chờ
chồng từ
ngoài đìa vác một mớ bông súng bước vô nhà.... Và để được nghe con trai
mình
nói với mình những câu chuyện chỉ để dành nói cho má nó nghe thôi. Ừ,
Dì chỉ ước
có vai bình thường vậy....
Cái thứ nước
mắt rặn ra cả đống đó, chính là cái mà đám nhà văn nhà thơ nhạc sĩ Mít
mong muốn.
Thảm như thế đấy. Ông TCS thì biết gì về bà mẹ huyền thoại. Ông PD thì
cũng rứa.
Cả đời cả hai ông không dám khóc “thật”, đành làm thứ “xướng ca vô
loài” xin tí
nước mắt của người đời!
Hai ông làm sao đóng vai
một người bình thường?
Trong cái đời
thường của nghệ sĩ, người đọc nhận ra họ cũng như mình, cũng có những
nỗi đau
khổ mình ên, và có những lúc, họ khóc thật, cho riêng họ. Ðây là cái sự
khác biệt,
cực khác biệt, giữa mũi tẹt và mũi lõ, và chính vì thế mà cái dạng văn
học tiểu
sử cũng rất được ưa chuộng ở Tây Phương, như qua những nhận định sau
đây về
Brodsky, trong bài viết The
Gift:
Joseph
Brodsy và những vận may của sự không may, Joseph
Brodsky and the fortunes of misfortune.
Brodsky
experienced all the struggles of his generation on his own hide, as the
Russians say. His exile was no exception.
Brodsy kinh
nghiệm tất cả những cuộc chiến đấu của thời đại của ông, mình ên, như
người Nga
nói. Cái sự lưu vong của ông thì cũng không ngoại lệ.
Trong khi đó,
chúng ta đâu thấy ông PD “vật lộn” với những cuộc vật lộn của thời của
ông? Kháng
chiến, ông đi, được mấy ngày, bỏ về, vì chịu không nổi cái đói, cái
khổ. Ông
TCS thì cũng thế, trốn lính, mê VC, sau 30 Tháng Tư, bèn tưởng tượng ra
bà mẹ
huyền thoại che mưa cho đàn con, trong không có ông, để trình ra cho Hồ
Tôn Hiến
thấy, để đổi lấy vài ly rượu!
Chẳng ông nào
‘mình ên’ đau cái đau 1 mình, nhưng mà là của chung một thời đại của
mình cả.
NQT
Bài viết này, Cô Tư
cũng kinh nghiệm tất cả những cuộc chiến đấu của thời của mình, mình ên!
Tháng
Tư
Bỗng nhớ
tới
Simenon.
Cái
câu chuyện Simenon nhờ nữ sư phụ Colette phán cho một câu, mà trở thành
nhà
văn, Gấu đọc, như một giai thoại, vào thời mới lớn, mới tập tành viết,
và cứ gật
gù mãi, ấy là vì, Simenon học chỉ một chiêu mà thành đạt ghê gớm như
vậy, trong
khi Gấu được ông anh, thay mặt Trình Giảo Kim trong Thuyết Đường truyền
cho tới
ba chiêu búa thần, chẳng lẽ không nên cơm cháo gì sao! Bây giờ, vớ được
bài phỏng
vấn, thì mới thủng chuyện.
Georges Simenon.
Chỉ một mẩu khuyên, a piece of advice, từ một nhà văn mà thật quá có
ích cho
tôi. Đó là từ Colette. Tôi đang viết truyện ngắn cho tờ Matin, Buổi
sáng, và
Colette thì là nhà biên tập văn học vào lúc đó. Tôi nhớ là tôi đưa cho
bà hai
truyện ngắn, và bà quẳng lại, và tôi lại thử nữa, nữa, và cứ thế, cứ
thế. Sau
cùng, bà nói, Coi nè, nó quá văn chương, luôn luôn quá văn chương.
[Look, it is
too literary, always too literary]. Vậy là tôi theo lời khuyên của bà.
Và đó là
điều tôi làm khi viết, và là công việc chính của tôi, khi tôi viết lại,
the
main job when I rewrite.
Ông muốn nói gì với từ ‘too literary’? Những gì ông cắt
bỏ, một số từ này, từ
nọ?
Tính từ, trạng từ, bất cứ một từ có đó để tạo hiệu ứng,
effect. Mọi câu có
đó chỉ như là câu. Every sentence which is there just for the sentence.
Bạn biết
không, bạn có một câu đẹp, cắt! Mỗi khi tôi thấy một câu như thế ở
trong một
trong những cuốn tiểu thuyết của tôi, là cắt.
Ông đọc lại theo kiểu đó?
Hầu hết là như vậy.
Chứ không phải chuyện coi lại, chỉnh lại tình tiết
[revising the plot
pattern]?
Ô, chẳng bao giờ tôi làm chuyện đó. Đôi khi tôi thay
đổi tên nhân vật…
Ông phóng viên cho biết, trong phòng ông, có đủ thứ niên giám điện
thoại, chỉ để
ông tìm tên cho nhân vật
Có thể nói,
cõi văn thơ nhạc... Mít, thì đều lâm vào tình trạng “ăn mày ăn xin nước
mắt”, hơi
1 tí là vãi linh hồn, lúc nào cũng chờ dịp ca sáu câu vọng cổ cả!
Bỗng nhớ những
ngày ở Trại Cấm Thái Lan, thời gian đang đợi thanh lọc. Phúc đức làm
sao, nhờ dạy
Anh Văn, một đấng học trò một bữa mang tới tặng Thầy cuốn “Hai mươi năm
văn học
Miền Nam”, của Nguyễn Ðông Ngạc xb, còn có cái tên thật bảnh là “Những
truyện ngắn
hay nhất của quê hương chúng ta”. Trong có truyện Mộ Tuyết của Gấu Nhà
Văn.
Một bà xồn xồn, mê viết
văn, đã từng có
truyện ngắn đăng trên LV, qua GNV viết thư gửi gấm NNN, bèn mượn
đọc, xong,
bĩu môi, truyện viết về người em trai tử trận mà bói không thấy 1 giọt
nước mắt,
chẳng biết "hay nhất" ở chỗ nào!
Gấu viết
truyện đó, đúng thời gian lậm Faulkner, trong có những câu gần như
thuổng nguyên xi Thầy,
và khi chọn, đưa vô tuyển tập, là cũng nghĩ, liệu sau này có người nào
nhận ra,
đây đúng là thứ văn Mít đang... thiếu: Một dạng văn học, bề ngoài
có vẻ như là 1
thứ báo cáo, report, phóng sự, reportage, gạt bỏ hết "ê mô xườn",
emotion…
Sau này đọc
Sebald, nhất là những bài có tính chất ký, pha tiểu luận văn học, nhận
ra cùng
1 dạng.
Gấu qua được
thanh lọc, một phần, là nhớ cuốn sách này.(1)
How
many languages do you know?
(Anh biết mấy ngôn
ngữ?)
Do
đến trại tị nạn sau “tử điểm”, tức là sau thời hạn được “tự động” coi
là tị nạn
chính trị, những người như tôi phải trải qua một cuộc thanh lọc, qua đó
nhà
chức trách nước tạm dung sẽ quyết định coi đủ tư cách tị nạn chính trị,
hay chỉ
là di dân kinh tế.
Thời
gian chờ đợi thanh lọc thường trên dưới một năm. Với chúng tôi, nó còn
là thời
gian “chạy thuốc”: liên lạc thân nhân ở nước ngoài, nếu có, hoặc bạn
bè, cơ
quan, đơn vị cũ… để xin tiếp tế và lo giấy tờ xác nhận, hoặc làm hồ sơ
bảo
lãnh.
Nhân đọc một số báo (hình như của lực lượng kháng chiến Hoàng Cơ Minh)
ở trong
trại, thấy tên nhà văn Trùng Dương, tôi viết thư tới bà, qua địa chỉ
toà soạn.
“Thư của bạn tới tôi sau khi đã đi gần hết nửa vòng trái đất,” bà viết
thư trả
lời, từ một địa chỉ Hồng Kông, do đang được học bổng nghiên cứu về
Trung Hoa
lục địa. Bà than giùm, “Bạn qua trễ quá!”
Kèm, là thư của Nguyễn Ngọc Ngạn (khi đó là chủ tịch Văn Bút Việt Nam
Hải
Ngoại), gửi cho Trùng Dương, chứ không phải cho tôi, “Bạn nhờ tôi can
thiệp cho
một ông bạn nào đó, nhưng lại quên không cho địa chỉ…”.
Tôi liên lạc. Anh trả lời, gửi tặng sách (cuốn Ý Trời, nguyên tác tiếng
Anh,
anh là tác giả, The Will of Heaven, chắc là muốn dặn dò khéo: hãy cố lo
học
tiếng Anh!).
Kèm giấy xác nhận. Là hội viên Văn Bút Việt Nam từ trước 1975.
Sau này gặp, anh cho biết, đã phải nhờ một tờ báo địa phương lo
in giùm,
chỉ bốn giấy chứng nhận, với tiêu đề Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại thật
tuyệt. Bốn
tờ xác nhận, cho bốn người, lúc đó đang ở trại tị nạn vùng Đông Nam Á.
Ở Thái
Lan, có ký giả Hồ Ông và tôi.
Có thể, việc xác nhận là “bổn phận” của anh, với tư cách đương kim chủ
tịch Văn
Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhưng cứ nghĩ đến cảnh anh loay hoay nhờ cậy
người này
người nọ “vẽ” giùm cho một “tác phẩm” đẹp tuyệt vời như trên, thật là
đáng quí.
Thật sự, nếu gặp một người khác, không phải anh, có thể mọi chuyện
không đơn
giản như vậy.
Chả là, trước 1975, do viết ba thứ phê bình điểm sách, khi tuổi còn
trẻ, ngựa
non háu đá, như các cụ nói, Gấu tui gây không ít ân oán giang hồ.
Cứ
nghĩ, nếu gặp một ông, hay một bà, đã từng bị Gấu tui phạng, chưa chắc
người đó
đã xử sự như Nguyễn Ngọc Ngạn. Hơn nữa, tôi còn nhớ, đúng thời gian đó,
một số
nhà văn hải ngoại đang vận động ký tên danh sách yêu cầu nhà nước Việt
Nam thả
nhà văn Dương Thu Hương [thời gian 1990 -1992, hình như vậy]. Trên tờ
Làng Văn,
có bài viết về trường hợp này, của Nguyễn Ngọc Ngạn. Anh cho rằng, cái
việc
khóc người hàng xóm, trong khi bà con thân nhân của mình đang bị kẹt ở
trại tị
nạn, và có nhiều nguy cơ bị trả về cho ông nhà nước xi-xi, là một việc
làm cần
xét lại.
Tôi
gặp Hồ Ông tại trại cấm Sikiew, do anh tới trại trước, và đã trải qua
thanh
lọc. Anh dặn tôi, khi đi thanh lọc, phải nổ. Và nổ thật dữ. Đừng khiêm
tốn.
Không được quyền khiêm tốn!
Anh lấy thí dụ, tay thanh lọc đã hỏi anh:
-Ông có nghĩ, ông là một ký giả nổi tiếng, chống Cộng, và rất nguy hiểm
cho chế
độ hiện thời ở Việt Nam?
Hồ Ông trả lời:
-Đúng như vậy. Riêng về trường hợp nổi tiếng, tôi có thể chứng minh
liền lập
tức. Khi thuyền tị nạn chúng tôi tới bờ biển Thái Lan, đài truyền hình
địa
phương đã cho phóng viên tới gặp, và phỏng vấn tôi.
Ngoài
tờ giấy xác nhận của Văn Bút, tôi có thêm được một tài liệu quí giá
cũng chẳng
kém: cuốn "Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam", còn có tên thật nổ là
"Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta", do Nguyễn Đông
Ngạc xuất bản. Trong, có hình tôi, và vài dòng tiểu sử. Cuốn này tôi
cũng tình
cờ gặp được ở trong trại. Chủ nhân cuốn sách, một học trò học tiếng Anh
của
tôi, đã tặng luôn cho thầy, làm tài liệu thanh lọc.
Phỏng vấn thanh lọc, thường do một sinh viên luật Thái Lan đảm trách,
với một
thông dịch viên,thưòng là một người Việt ở Thái Lan. Như đa số ở đây,
họ đều có
cảm tình với miền bắc. Nhà thường có treo hình ông Hồ. Nhưng cảm tình
hay không
cảm tình, nói chung, họ cố dịch trung thực những gì họ nghe, và hiểu
được.
Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, có mấy chi tiết thật lý thú liên quan
tới “văn
chương” có lẽ cũng nên viết ra ở đây, để bạn đọc cùng thưởng thức.
Nói chung, thường rất khó mà hiểu được, người phỏng vấn tin hay không
tin,
những câu trả lời. Và thường ra, họ giữ một bộ mặt hết sức khách quan,
phải nói
là dửng dưng, lạnh lẽo, suốt buổi hỏi cung. Riêng trường hợp của tôi,
khi nghe
tôi nói là nhà văn, anh sinh viên luật nhìn phần lý lịch ghi trên tờ
phiếu cá
nhân trong hồ sơ Cao Uỷ Tị Nạn, và không qua thông dịch viên, hỏi thẳng
bằng
tiếng Anh:
-Anh nói anh là nhà văn, nhưng anh viết thứ gì?
Nhớ lời dặn của Hồ Ông, tôi cho tới luôn:
-Tôi viết truyện ngắn, và phê bình văn học.
Anh nhìn lại tờ lý lịch và nói:
-Tôi cho anh nói lại. Ở đây, thấy ghi anh học hết trung học, có một văn
bằng
đại học. Anh nói anh làm thơ, viết truyện ngắn, tôi tin. Nhưng phê bình
văn
học, tôi không tin. Tôi cho anh nói lại.
-Tôi mê văn chương từ hồi nhỏ, lại may mắn biết chút ngoại ngữ, nên có
đọc văn
chương thế giới, và có chút khiếu về phê bình văn học.
-Anh học tiếng Anh ở đâu, bao nhiêu năm?
-Tôi học hồi trung học, và sau đó có làm cho một cơ quan thông tấn nước
ngoài.
-Anh nói, anh có chút hiểu biết về ngoại ngữ, anh biết mấy thứ tiếng?
-Tôi biết ba thứ tiếng.
-Trong này chỉ ghi tiếng Anh?
-Tôi biết tiếng Pháp nữa.
-Như vậy mới có hai, làm sao anh nói ba?
Tới lúc đó, tôi cũng hết còn bình tĩnh, và hỏi lại:
-Ông quên tiếng mẹ đẻ của tôi ư?
Anh ta chợt mỉm cười.
Tôi nghĩ, trong số những người bị phỏng vấn, có lẽ tôi là người độc
nhất được
hưởng một nụ cười như vậy!
[Sách
Quí 2]
(1)
Như lính giữa rừng
Tôi
và N. ngồi giữa vườn cây trong lúc hai bà len lỏi giữa lối đi thời gian
dẫn về
một làng da đỏ tại vùng Bắc Mỹ 500 năm trước đây với tất cả nền văn
minh, lối sống
của họ, nay được thu nhỏ lại để trình bày cho du khách. N. trước năm 75
là một
giáo sư trung học, ngoài ra còn viết văn, làm xuất bản. Thời gian tụi
này ở trại
cấm Thái Lan, anh thường gửi tiền, và cùng một vài người bạn can thiệp,
vận động
mong cho tụi này qua được thanh lọc.
Tuyển tập truyện ngắn do anh xuất bản năm
1974, trong có bài, hình ảnh cùng vài dòng tiểu sử tụi này tình cờ gặp
được
trong đám người chung số phận, không ngờ thật hữu ích khi thanh lọc.
Tấm hình
Cao Lĩnh chụp vào một buổi chiều tại Sở Thú Sài-gòn là tấm hình độc
nhất đánh dấu
những ngày cá nhân tôi mê mải với những chữ.
N vẫn còn
phong độ, nghĩa là vẫn đẹp trai, vẫn còn những nét lỉnh kỉnh như cái
ống
vố, cách bập bập thuốc, như để giữ ấm hơi đời, ở cõi người lạnh giá
này. Và anh
vẫn còn đam mê làm nhà xuất bản, vẫn muốn có dịp qui tụ một số cây
viết, trong một
cuốn sách có những dòng chữ đẹp như những bức hình của Cao Lĩnh ngày
nào. Tôi
nói với anh, có những cuốn sách tạo nghiệp. Cuốn trước, trong lời tựa,
anh coi
đây là vốn liếng một đời cho quê hương, cho bạn bè. Chưa đầy một năm,
Cộng Sản
thôn tính Miền Nam.
Bây giờ anh lại lăm le làm xuất bản, biết đâu cái nghiệp lần này khá
hơn, tụi
mình lại có dịp ngồi lai rai ở Quán Cái Chùa, tại Sài-gòn.
Tôi vẫn còn
nhớ cái nhìn của anh sinh viên Luật, người Thái Lan, được Bộ Nội Vụ
và Cao Uỷ Tỵ Nạn mướn làm thẩm tra viên trong buổi thanh lọc. Cái nhìn
dừng lại
rất lâu trên khuôn mặt tiều tuỵ ở ngoài đời so với trong hình. Có vẻ
anh tin.
Có vẻ anh thông cảm. Có vẻ anh sợ hãi, không ngờ sự khủng khiếp của một
chế độ
so với sức chịu đựng của con người.

Salvador
Dali & Coco Chanel
Note: Coco
Chanel, nữ điệp viên Nazi. Bí số F 7124. Bí danh Westminster.
Notre époque
QUAND
"MADEMOISELLE" COLLABORAIT AVEC L'ABWEHR
Coco Chanel,
agent F 7124
Espionne,
pas vraiment. Mais agent au service de l'Allemagne nazie, sûrement.
C'est ce
qu'affirme Hal Vaughan dans une biographie qui paraît aux Etats-Unis.
"L'Obs" l'a interrogé
La jaquette
est blanche, bordée de noir, et le titre, écrit dans une typographie
plus
familière des parfumeurs que des libraires: le livre reprend
l'habillage chic
et classique de l'emballage de la plus connue des fragrances, le N5.
Mais ne
vous fiez pas aux apparences. Ce qu'il renferme a une curieuse odeur,
qui a le
soufre pour note de tête. « Coucher avec l'ennemi. La guerre secrète de
Coco
Chanel » (1) est un pavé lancé dans la vitrine de l'illustre maison
Chanel.
L'ouvrage est sorti le 16 août aux Etats-Unis, il n'existe qu'en
anglais, mais
ses révélations ont déjà fait le tour du monde. Son auteur, l'Américain
Hal
Vaughan, en est sûr: la grande couturière, la reine des créatrices
françaises,
l'impératrice Chanel était en fait un agent nazi! Avec un indicatif, F
7124, et
un pseudonyme, Westminster.
Coco,
nouvelle Mata Hari?
« Elle était
un agent, pas une espionne, nuance l'auteur. Une espionne prend des
photos,
remet des documents. Chanel, elle, a rempli des missions. Elle était
par
ailleurs antiséémite et anticommuniste. »
Le Nouvel
Observateur 25 AOÛT 2011· NO 2442
CULTURE
AUTHORS
ON MUSEUMS Rory
Stewart on the treasures of Kabul
MUSIC
The Playlist: songs of the year so
far, by Laura Barton
NEW COLUMN
at the cinema Ian Jack on Lars von
Trier’s new film
MEMOIR
Irving Wardle on the writer who inspired him
to learn German
BOOKS
Notes on a Voice: Arthur Conan Doyle,
by Bee Wilson
Found in Translation: Edmondo De Amicis
Eight Good Books: Maggie Fergusson’s pick of the season
Note: Số Intel
Life mới nhất, có
cả 1 lố bài
thật bảnh!
Bài Memoir mới
quái: Ðây là Hồi ức về 1 người mà tôi chưa từng gặp!
Ðâu có thua
"nhớ" ngày mai:
Ôi ôm em
trong tay mà đã nhớ em những ngày sắp tới.
Loạt bài viết
về “Thủ đô của thế giới” cũng thật là tuyệt cú mèo, khiến Gấu lăm le đi
1 đường
về Sài Gòn!
Một Sài Gòn
với những “hồn ma ban ngày”, theo kiểu sau đây:
MEMOIRS
Ghosts by Daylight by Janine di Giovanni
(Bloomsbury, hardback, out now). After reporting on wars in Bosnia and
Chechnya,
Rwanda, Liberia and Iraq, Janine di Giovanni has a wide circle of dead
friends.
Wherever she goes, ghosts accompany her. But she thought she had come
through
largely unscathed until the birth of her son reduced her to a shaking,
neurotic
wreck. When eventually she recovered, her husband, a war photographer,
became a
slave first to alcohol, then to Alcoholics Anonymous, and their world
collapsed. Unashamedly romantic, and combining quiet reflection with
pacy
narrative, di Giovanni looks at love with the same clear eye she brings
to war.
[8 Good
Books]
Double
vision: a Canadian citizen, Michael Ondaatje is still “profoundly Sri
Lankan”.
Gấu đọc Michael Ondaatje
một cách tình
cờ, và thú vị: qua bản tiếng Tây, và qua bài giới thiệu bản tiếng Tây
của Tahar Ben Jelloun. Mê
bài viết quá, thế là bệ về, khi đó
cũng chưa biết ông, cũng dân Canada, cũng dân Toronto, cũng “viễn ảnh
kép, vẫn
Mít thật là Mít”
FICTION
The Cat's
Table by Michael Ondaatje (Cape, hardback, out August 21st).
Part
memoir,
complete masterpiece, this novel by the author of "The English
Patient" follows 11-year-old Michael, and his two companions, Ramadhin
and
Cassius, on a three-week sea-voyage from Ceylon to England in 1953. By
day,
they race around the decks and holds of the ship "like freed
mercury", pausing at meal times to eat with the poorer passengers at
the
"Cat's Table", and pick up their first inklings of the complexities
of adult life. After dark, they spy on the nocturnal perambulations of
a
chained prisoner, around whom the book's drama turns. Written with
tenderness,
wisdom and sharp emotional recall, this is an exuberant elegy to
innocence.
How 9/11
changed fiction
After the
unthinkable
IN THE days and weeks
after 9/11 a number of writers
asked what the future of fiction could be after such a rupture. The
comments
echoed philosopher Theodor Adorno’s comment: “Writing poetry after
Auschwitz is
barbaric.”
Nếu suy tư theo cái dòng
kể trên, thì với Mít, sẽ là 1 câu
phán to tổ bố:
Sau 30 Tháng
Tư 1975 mà còn làm thơ thì thật là dã man!
Ðây đúng là cái tâm trạng khủng khiếp mà Gấu Cà Chớn đã thoáng nắm bắt,
vào cái
đêm xấu trời ở 1 thư viện Toronto và vô tình cầm lên cuốn Ngôn ngữ
và Câm
lặng của Steiner!
Bạn có thể “chửi”,
mi lấy cái đọc, sau, để giải thích 1 sự kiện, trước, nhưng biết đâu
đấy,
hồi nhớ của con người có thể hoạt động hai chiều, theo đó, bạn có thể
“nhớ”
chuyện sẽ xẩy ra!
"La catastrophe nazie est
désormais la référence absolue et radicale de
toute existence juive."
Tai ương Nazi từ nay là điểm qui chiếu tuyệt đối, triệt để, tất cả hiện
hữu Do
Thái.
Tai ương 30 Tháng Tư 1975, và cùng với nó, Lò Cải Tạo... từ nay
là điểm
qui chiếu, tuyệt đối, triệt để, mọi hiện hữu Mít.
Làm sao 'suy tư" Lò
Cải Tạo, sau khi thoát ra?
Liệu cái đầu vẫn còn nguyên, sau cú Lò Cải Tạo?
Liệu Niềm Tin, phải có nó, nếu muốn làm... VC?
THANH TAM TUYEN
La poésie entre la
guerre et le camp
Thơ giữa chiến tranh và trại tù
Je te serre dans mes
bras
or je pense déjà à toi les jours qui viennent
Ôi, ôm Em trong tay,
Mà đã nhớ Em
Những ngày sắp tới
Après ma libération, sur le
chemin du retour, la première chose
que j'ai faite, a été de me replier et écrire mes poèmes mémorisés tout
au long
de ma détention.
Je suis un survivant, mais je ne veux plus être écrivain, comme je l'ai
pourtant souhaité depuis toujours.
J'ai écrit dans ma mémoire au camp : « II faut que j'arrive à écrire
comme si
rien ne s'était passe, comme si rien n'était modifié. »
Et maintenant je me dis : « Quand serai-je capable d'une telle chose ?
» Pour
re-écrire.
Propos recueillis et traduits par Le Huu Khoa
Khi ra khỏi
trại tù, trên đường
về, điều đầu
tiên tôi làm, là cúi gập mình viết ra những bài thơ lưu giữ trong trí
nhớ suốt
thời gian tù đầy.
Tôi là kẻ sống sót, nhưng tôi chẳng muốn làm nhà văn nữa, như đã từng
mong
muốn.
Tôi đã từng lưu vào trí nhớ, khi ở trong trại tù, điều này: "Phải làm
sao
viết như chẳng có gì xẩy ra, chẳng có gì thay đổi."
Và bây giờ tôi tự hỏi: "Khi nào thì tôi có thể làm được như vậy?" Để
lại viết.
Ai không ưa
Sartre (như tôi chẳng hạn:), hẳn khoái trá khi đọc câu này của Vargas
Llosa viết
về các tác phẩm của Sartre: "They have aged terribly."
Cũng trong bài này, Vargas Llosa còn viết:
"There is no great art without a certain measure of unreason, because
great art always expresses the whole of human experience, in which
tuition,
obsession, madness and fantasy play their part as well as ideas. In Sartre's work, man seems to be made of
ideas alone." Câu này trong tập
Making Waves.
Blog Gỗ Mun
Sartre là “thầy”
của Llosa, khi ông còn hăm hở dấn thân, còn coi chữ là hành động, và
cái cú đoạn
tuyệt, là do câu phán của Sartre về tác phẩm của chính ông: Trước đứa
trẻ chết đói,
cuốn La Nausée chẳng là gì cả.
Tuy nhiên, cách
đọc của Llosa, và của rất nhiều người về Sartre, thường bỏ qua những
tác phẩm văn
học thực sự của ông, thí dụ như chính cuốn La Nausée, hay như truyện
ngắn Bức Tường,
mà Koestler đã coi là 1 trong những tác phẩm số 1 về cuộc nội chiến Tây
Ban
Nha.
Những truyện ngắn của TTT,
thí dụ, Cuối Ðường, là từ Bức Tường
mà ra.
Sở dĩ TTT không ưa Camus, là vì đã bị ảnh hưởng của Sartre, nhà văn,
với
truyện ngắn thần sầu Bức Tường.
TTT cũng mê làm cách mạng, và không chịu nổi thái
độ đạo đức của Camus, 1 kẻ đứng ở lưng chừng trời lo chuyện thế gian.
Camus, phải
đến sau cú 911, thì mới lại xuất đầu lộ diện, hào quang đầy mình!
Cả 1 trào lưu
tiểu thuyết mới, là đã thoát thai từ La
Nausée, từ những gì mà Sartre,
bỏ dở, vì
mê làm cách mạng.
Lạ nhất, là
GNV phát giác ra điều này, ngay từ khi còn trẻ, và viết ra, trong bài
viết về Bếp
Lửa, của TTT: Bếp Lửa trong Văn Chương, 1973.
Ngay cả Sartre, phải đến
cuối đời mới nhận ra điều này, khi thú nhận, trong những
tác phẩm đầu đời, nếu phải giữ lại, thì chỉ 1 cuốn La Nausée!
Khủng thật!
Ðây có thể là
do ngay từ hồi còn trẻ, Gấu đã quá mê cuốn này, lúc nào cũng mang theo
nó, nhất
là những lần ngồi đồng, chờ gặp BHD.
Mỗi lần em ra khỏi nhà, đâu có dễ!
*
Tôi
đọc ông [Sartre] lần đầu, vào mùa hè năm 1952, khi làm phụ biên tập, a
copy
editor, cho một tờ nhật báo, Đó là thời gian độc nhất, tôi đóng vai nhà
văn nhà
báo, theo cái kiểu mà nhiều người vẫn còn nghĩ về họ: một cuộc đời lãng
du. Khi
công việc tòa báo xong xuôi, thường là muộn, trời đã khuya, tay ký giả
là tôi
bèn chạy vội đến những quán, những ba, ánh đèn mờ, hay những ổ nhện,
những xóm
đêm, và, với một đứa trẻ 15 tuổi, thì đúng là một cuộc phiêu lưu lớn.
Và tôi đã gặp cuộc phiêu lưu thực sự, vào một buổi sáng, khi anh bạn,
Carlos
Ney Barrionuevo, giúi vào tay tôi cuốn Bức Tường. Những truyện
ngắn ở
trong đó, cùng với Buồn Nôn, và những vở kịch - Những con
ruồi, Huis
Clos, Một bướm đáng kính trọng, Những bàn tay bẩn - những tập đầu
của bộ
Những Con đường của sự tự do, và những tiểu luận của Satre đã làm
cho rất
nhiều người trong đám chúng tôi khám phá ra văn chương hiện đại của đầu
thập
niên 1950.
Chúng già đi, lão hoá, một cách thật là khủng khiếp. Ngày nay,
chúng ta
tìm thấy, chỉ một tí ti, cái gọi là hàng nguyên, hàng xịn, the
originality, ở
trong những tác phẩm đó. Sự không thể bắt nối, incommunication, sự phi
lý, the
absurd, được diễn tả bởi Kafka, bằng một đường hướng dữ dằn hơn, nhức
nhối hơn,
kỹ thuật viết từng mảng, the technique of fragmentation, thuổng của
John Dos
Passos, và Malraux viết những đề tài chính trị sống động như bao giờ
sống động
đến như thế. Ngay cả thứ bảnh nhất của Sartre, là Tuổi thơ của một
ông Sếp,
cũng không bén gót.
Llosa: The Mandarin
*
Như vậy, Llosa biết Sartre qua truyện ngắn Bức
Tường. Gấu nhớ là,
tay giáo sư triết gia khoa bảng, ĐPQ, bạn của giáo sư khoa bảng ĐTĐ, có
một
truyện ngắn mang hơi hướng Bức Tường.
Câu chuyện một tay làm cách mạng, bây giờ, có thể gọi, một tay khủng
bố, bị bắt,
bị tra tấn tới chỉ, bắt phun ra đồng bọn. Anh lắc đầu, tới một bữa, bực
quá, phụt
đại một địa chỉ.
Đúng cái địa chỉ cả đám đang ẩn náu!
*
Tay Llosa, hơn Gấu 1 tuổi, ông bằng tuổi TTT, đọc một số tác giả, giống
Gấu.
Ông cũng mê Steiner, hồi đầu, và sau này, có vẻ bực, khi Steiner muốn
nổi cộm,
muốn là một thứ "enfant terrible" [chữ của Llosa], của thế kỷ.
Llosa cũng quan tâm tới phong trào tiểu thuyết mới, và không cưỡng lại,
ý muốn,
đưa ra ý kiến của riêng ông, về một căn cước Tẩy [French
Identity], khi tờ La Nouvelle Revue Francaise đưa ra câu hỏi
thăm dò
dư luận:
-Ngoại trừ ba biểu tượng "rượu vang, ăn mặc đúng mốt, hight fashion, và
nước
hoa", liệu còn những biểu tượng khác về nước Tây?
-Bạn có đồng ý, là văn chương Tây bắt đầu thất thế, ở hải ngoại, kể từ
khi xuất
hiện trường phái Tiểu Thuyết Mới?
-Bạn còn hy vọng gì ở nước Tây?
Riêng câu đầu, Ian Jack có câu trả lời: Còn ba biểu tượng khác nữa, Tự
Do, Bình
Đẳng, Thân Ái.
Mấy ông VC áp dụng, thông minh và thiên tài, thành "logo", của nước
VC:
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Độc Lập Tự Do, Hạnh Phúc.
Cũng là noi gương Bác, thuổng Mẽo, khi viết Tuyên Ngôn Độc Lập.
Source
The
Mandarin
Of all the
writers of my time, there were two that I preferred above all others
and to
whom I was most indebted in my youth. One of them, William Faulkner,
was well
chosen for he is an author that any aspirant novelist should read. He
is
perhaps the only contemporary novelist whose work can be compared, in
volume
and in quality, with the great classics. The other, Sartre, was less
well
chosen: it is unlikely that his creative work will last and although he
had a
prodigious intelligence and was, on balance, an honest intellectual,
his ideas
and his position on issues were more often wrong than right. Of him we
can say
what Josep Pla said of Marcuse: that he contributed, with more talent
than
anyone else, to the confusion of our times.
Mario Vargas
Losa
Trong tất cả
những nhà văn của thời của tôi, có hai đấng mà tôi mê nhất, mang nợ
nhiều nhất,
vào thời trẻ.
Một, William
Faulkner, chọn đúng bong, quá bảnh, bởi ông là một tác giả mà bất cứ
thằng chó
nào lăm le viết văn, viết tửu thiết, cũng nên đọc! Ông có lẽ là tiểu
thuyết gia
đương thời độc nhất mà tác phẩm có thể so sánh, về bề dầy cũng như phẩm
chất, với
những đấng sư phụ cổ điển nhớn nhao, vĩ đại.
Một, Sartre,
chọn lựa không khấm khá: có vẻ như tác phẩm mang tính sáng tác của ông
không
trường thọ, mặc dù ông thông minh có thừa, và ông, nếu có nói đi thì
phải nói lại,
là một tay trung thực, lương thiện, những tư tưởng và vị trí của ông,
về những vấn đề, giải pháp, thì trật
nhiều hơn trúng.
Về Sartre,
chúng ta có thể lấy câu của Josep Pla, nói về Marcuse, để nói về ông,
trúng
ngay bong:
Bằng tài
năng Sartre đóng góp, nhiều hơn bất cứ một ai, vào cái phần, làm nhiễu
nhương
thêm, cho thời của chúng ta!
Tuyệt!
Vargas Llosa: Quan
Sartre [The Mandarin]
Sau khi
ẵm
Nobel, Llosa có viết 1 bài rất thú vị, “Ý nghĩ của tôi về văn hóa”,
đăng trên tờ Letras Libres, tờ Books Dec
2010/Jan 2011, dịch qua tiếng Tây, trong đó, ông thổi
một trong vị thầy sau này của ông, là Lionel Trilling, phạng Foucault
và đệ tử tơi bời hoa lá. TV tính scan, post, và dịch nhưng lần lữa quên
luôn.