*
  



Georg Lukacs và tờ hợp đồng với Quỉ
George Steiner
(trong Ngôn Ngữ và Câm lặng).

    Ở thế kỷ 20, một kẻ chân thật, thật khó mà là một nhà phê bình văn học. Có quá nhiều điều khẩn cấp hơn phải làm. Phê bình chỉ là phụ thuộc. Bởi vì nghệ thuật phê bình là làm độc giả quan tâm tới tác phẩm văn học; khổ một nỗi, "quí độc giả" có khi không cần lắm, tới sự giúp đỡ này. Liệu ai đó đọc phê bình thơ ca, văn chương, kịch nghệ, một khi quá rành về nó?  Hơn thế, "hai tay" còn khổ, vì hai cám dỗ. Về phía tay phải, là Lịch sử Văn học, với cái vẻ chắc nịch, và những uy thế hàn lâm. Tay trái, trò Điểm Sách - không thực sự một nghệ thuật, chỉ là kỹ thuật dựa vào một lý thuyết thật chẳng đáng tin cậy, rằng phải có cái gì đáng đọc được in ra hàng năm. Ngay cả một tay phê bình tốt nhất cũng có thể bị nó cám dỗ, thôi thì cứ xiêu phải, hoặc quẹo trái. Như Sainte-Beuve chẳng hạn; hỡi ơi, làm thế nào tạo được sự vị nể trí thức, một thế đứng khoa bảng, nhà phê bình bèn trở thành nhà văn sử (literary historian). Thế là cứ hùa theo những đòi hỏi của một cuốn tiểu thuyết, và của tính tức thời; cái phần có ý nghĩa trong những phát giác mang tính phê bình tác phẩm của Henry James, đã không sống lâu hơn những điều tầm phào được gạt bỏ. Những bài điểm sách tốt cũng làm xàm như những cuốn sách tồi.
Tuy nhiên còn một lý do cơ bản nữa cho thấy tại sao khó, đối với một đầu óc nghiêm túc, sinh nhầm thế kỷ (sinh trong thế kỷ nhiễu nhương và hiểm nguy này), muốn cúc cung tận tụy với phê bình văn học. Thế kỷ của chúng ta, khỏi cần nói thì ai cũng biết, được mùa môn khoa học tự nhiên. Chín chục phần trăm những nhà khoa học đều đang còn sống. Thắng lợi ròn rã của khoa học, chân trời lùi dần trước tinh thần tra hỏi, đâu còn chỗ cho quá khứ? Người Mỹ Mới được kiếm thấy mỗi ngày. Tâm tính con người do đó cũng bị ảnh hưởng bởi giá trị khoa học. Ảnh hưởng và sự mê hoặc của chúng vượt quá bờ cõi khoa học, theo nghĩa cổ điển của từ này. Lịch sử và kinh tế học cũng khoa học, theo một tiêu chuẩn nào đó. Cũng vậy, luận lý học và xã hội học. Nhà nghệ sử gọt rũa tinh vi những dụng cụ và kỹ thuật ông coi là có tính khoa học. Nhà soạn nhạc thập nhị cung (twelve-tone) coi những khổ công tu luyện là từ toán học mà ra. động nhỏ nhoi, khoa học đòi một huyền thoại học về sự nghiêm ngặt, và chứng cớ. Trong cuộc trao đổi tuyệt vời này, cái mà nó dâng hiến, đó là ảo ảnh của chính xác, của tri thức đã được đảm bảo, của sở hữu trí thức được gìn giữ (nhằm) chống lại hồ nghi. Nhà khoa học rất ư là vĩ đại sẽ từ bỏ giầu sang thịnh vượng, sẽ vẫn còn hồ nghi, ngay cả ở con tim của khám phá. Nhưng hy vọng, rằng một sự thực khách quan, có thể chứng minh luôn luôn vẫn có đó, khoa học đã tóm được những đầu óc mãnh liệt nhất của thời đại chúng ta.
Trong phê bình văn học, không có đất hứa, của sự kiện đã được an bài, không cõi không tưởng, của điều xác thực. Ngay tự bản chất, phê bình là cá nhân, riêng tư. Chẳng thể có chứng minh, chứng cớ hài hòa. Dụng cụ chính xác nào cho thấy dòng thơ thần thoáng qua đầu Housman, ngoài chòm râu của nhà thơ rung rinh đúng vào lúc đó? Xuyên suốt lịch sử, những nhà phê bình cố chứng tỏ rằng nghề (métier) của họ nói cho cùng, là khoa học; rằng nó có những tiêu chuẩn khách quan, và những phương tiện nhằm đạt được những sự thực tuyệt đối. Coleridge đóng bộ yên cho thiên tài rất đỗi riêng tư, thường xuyên không ổn định của ông, là để nhắm cái ách: phê bình hệ thống
(còn tiếp)
Xó xỉnh nào cũng có, khoa học; và cùng với nóù, những khiêm tốn mới, những tham vọng mới. Dè bỉu xung