Tâm sự
của Xuân Sách
Những
bài thơ chân dung các
nhà văn của tôi ra đời trong trường hợp rất tình cờ. Hôi ấy bước vào
thập kỷ
60, tôi đang độ tuổi và mới từ đơn vị được chuyển về Tạp chí Văn nghệ
quân đội
ở ngôi nhà số 4 Lý Nam
Đế, Hà nội. Ngoài công việc của toà soạn tờ báo ra thời gian của chúng
tôi dành
nhiều cho học tập chính trị. Những vấn đề thời sự trong nước, thế giới,
những
đường lối, chỉ thị, nghị quyết, những vấn đề tư tưởng lâu dài và trước
mắt...
đều phải học tập nghiêm túc, có bài bản. Học một ngày, hai ngày, có khi
cả
tuần, cả tháng. Lên lớp, thảo luận, kiểm điểm, làm sao sau mỗi đợt học,
nhận
thức và tư tưởng từng người phải được nâng cao lên một bước. Những buổi
lên lớp
tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan, anh em văn nghệ, các
nhà văn,
các hoạ sĩ, nhạc sĩ... thường ngồi lập trung với nhau ở những hàng ghế
cuối hội
trường thành một “xóm” văn nghệ. Để chống lại sự mệt mỏi phải nghe
giảng về hai
phe, bốn mâu thuẫn, về ba dòng thác cách mạng, về kiên trì, tăng cường,
nỗ lực,
quyết tâm... mấy anh văn nghệ vốn quen thói tự do thường rì rầm với
nhau những
câu chuyện tào lao hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm,
nuối vội
khói, nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi những chuyện đó cũng bị phát
hiện, bị
nhắc nhở phê bình. Vậy phải thay đổi chuyển sang “bút đàm”.
Vào năm
1962 có đợt học tập
quan trọng, học nghị quyết 9, nghị quyết chống xét lại, chống tư tưởng
hoà bình
chủ nghĩa, và dĩ nhiên văn nghệ là một đối tượng cần chú ý trong đợt
học này.
Hội trường tập trung đông, trời nắng, hơi nóng từ cái sân láng xi măng
hắt lên
như thiêu như đất. Quân đội đang tiến lên chính quy hiện đại, ăn mặc
phải tề
chỉnh đầy dủ cân đai bối tử, đi giầy da, những đôi giẫy cao cổ nặng như
cùm.
Bọn tôi trừ vài trường hợp như Vũ Cao, Nguyễn Khải có đôi chân quá khổ,
có cớ
chưa có giầy đúng số để đi dép, nhưng cũng là những đôi dép có quai
hậu, ngồi
học cũng không được tụt quai. Nhân đây tôi xin nói thêm về Vũ Cao. Ông
là người
biệt danh “quanh năm đi chân đất”, ở nhà số 4 các phòng sàn ván đều
được lau
bóng để đánh trần nằm xuống mà viết. Quy định ai vào phòng phải bỏ giầy
dép
trừ... Vũ Cao, bởi để ông đi dép vào phòng còn sạch hơn đi chân trần.
Giờ đây
ngồi học được ưu tiêu đi dép vẫn là nỗi cực khổ đối với ông.
Trong
buổi lên lớp căng thẳng
như thế, Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo viết một bài thơ
chữ Hán
trao cho tôi. Ở Văn nghệ quân đội, Oánh được gọi là ông Đồ Nghệ giỏi
chữ Hán và
tôi được gọi là Đồ Thanh bởi cũng vỏ vẽ đôi ba chữ thánh hiền. Oánh bảo
tôi
dịch bài thơ Oánh viết vịnh Xuân Thiều. Xuân Thiều cũng ở lứa tuổi
chúng tôi
nhưng trông già dặn vì cái đầu hói, tóc lơ thơ. Con dường văn chương
mới bước
vào còn lận đận. Mới in được tập truyện ngắn đầu tay “Đôi Vai”, tập
tiểu thuyết
“chuyển vùng” viết về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Bình Trị Thiên mà
Thiều tham
dự, đã sửa chữa nhiều lần, đưa qua nhiều nhà xuất bản chưa “nhà” nào
chịu in.
Tôi thấy bài thơ Oánh viết rất là hay và dịch:
Văn
nghiệp tiền trình khả
điếu quân
Mao đầu
tận lạc tự mao luân
Lưỡng
kiên mai hếu phong trần
lý
Chuyển
địa hà thời chuyển đắc
ngân
Dịch
nghĩa:
Con
dùng văn nghiệp khá
thương cho ông
Lông
đầu ông đã rụng trơ trụi
Đôi vai
lầm lủi trên con
đường gió bụi
Chuyển
vùng đến bao giờ thì
chuyển thành tiền được?
Dịch
thơ:
Con
đường văn nghiệp thương
ông
Lông
đầu rụng hết thư lông
cái gầu
Đôi vai
gánh mãi càng đau
Chuyển
vùng nào nữa làm sao
thành tiền?
Dịch
song tôi chuyển bài thơ
cho anh em đọc. Oánh tỉnh bơ với bộ mặt lạnh lùng cố hữu còn mọi người
phải nén
cười cho khỏi bật thành tiếng. Nguyễn Minh Châu gục xuống bàn kìm nén
đến nôi
mặt đỏ bừng và nước mắt dàn dụa.
Tự
nhiên trong đầu tôi lóe lên
cái ý nghĩ mà người ta thường gọi là “tia chớp”. Thơ chân dung! Trong
bài thơ
của Oánh phác hoạ một Xuân Thiều với hình dáng và văn nghiệp bằng cách
dùng
nghĩa kép của tên tác phẩm: “Đôi Vai” “Chuyển Vùng”. Và sau chốc lát,
tiếp tục
trò đùa của Oánh tôi viết bài thơ về Hồ Phương, đang ngồi cạnh tôi, và
bài thơ
số một về chân dung các.. nhà văn ra đời. Hồi đó Hồ Phương đã là tác
giả in
nhiều tác phẩm, đã được một số giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn
học. Tôi
dùng tên các tập truyện của anh: “Trên biển lớn” “Xóm mới” “Cỏ non” và
tên cái
truyện ngắn đầu tay vẫn được nhắc đến: “Thư nhà”. Tôi viết bài thơ ra
mẫu giấy:
Trên
biển lớn lênh đênh sóng
nước
Ngó
trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non
nay chắc đã già
Buồn
tênh lại giở thư nhà ra
xem
Tôi đưa
bài thơ cho Nguyễn
Khải.
Anh đọc
xong trên mặt có
thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không cười như tôi chờ đọi,
anh bỏ
bài thơ vào túi chứ không chuyển cho người khác. Đến giờ giải lao chúng
tôi ra
ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa bài thơ cho Hồ Phương
đọc. Mặt
Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi run. Nguyễn Khải nói như
cách sỗ
sàng của anh:
-Thằng
này (chỉ tôi) ghê quá,
không phải trò đùa nữa rồi!
Tôi hơi
hoảng, nghĩ rằng đó
chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu ngoài cái nghĩa
thông thường
bài thơ còn chạm vào tính cách và đánh giá nhà văn. Mà đánh giá nhà văn
thì có
gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý Hồ Phương có
viết
nhiều chăng nữa văn không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ: buồn
tênh lại giở
thư nhà ra xem...”
Trước
đây khi còn là lính ở
địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đấy
là những
con người dị biệt rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến dường như họ là
một siêu
tầng lớp trong xã hội. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, lời nói của họ đều có
thể trở
thành giai thoại, và cả tật xấu nữa, dường như cũng đứng ngoài vòng
phán xét
thông thường. Tóm lại đó là một thế giới đầy sức hấp dẫn đối với người
say mê
văn học và tập tễnh nuôi mộng viết văn như tôi. Khi tôi được về Hà nội
vào một
cơ quan văn nghệ dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta quân đội có một vị
trí đặc
biệt trong xã hội kể cả lĩnh vực văn chương) tôi bắt đầu đi vào cái thế
giới mà
trước kia tôi mơ ước. Điều tôi nhận ra là ngoài cái phần tôi hiểu trước
đây thì
thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đó là cái mặt đời thường,
cái mặt
rất chúng sinh và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên các tác phẩm
và tính
cách nhà văn. Vì vậy chân dung của họ không thể bỏ qua. Hơn nữa nếu
“vẽ” được
chính xác những bức chân dung đó, thì bộ mặt xã hội của thời dại họ
đang sống
cũng qua đó mà hiện lên. Có thể, tôi nghĩ, không có tầng lớp nào hơn
các nhà
văn thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của dân tộc qua từng giai đoạn.
Những
điều này tôi nhận ra sau một thời gian dài khi những bài thơ chân
dunglần lượt
được ra đời, được phổ biến một cách không chính thức nhưng sâu rộng và
dai
dẳng, vượt cả sự mong muốn của tôi. Cũng chính các nhà văn giúp tôi
nhiều trong
sáng tác cũng như phổ biến các bài thơ. Bởi khi nhận định về tính cách
con người,
tính cách các nhà văn thì không ai sắc sảo bằng các nhà văn. Người giúp
tôi
nhiều nhất là anh Nguyễn Khải. Anh có mối quan hệ rộng rãi trong giới,
có lối
nhận xét người rất sắc sảo, chính xác dù có đôi lúc cực đoan. Anh không
mấy
thích thơ, nhưng anh lại thích những nhà văn chân dung. Anh có nói đại
ý là các
nhà văn chúng ta quen đánh giá nhận xét mọi tầng lớp người trong xã hội
thì
cũng cần tự đánh giá mình, cũng đều có cái tốt cái xấu như ai. Về sau
thêm anh
Vương Trí Nhàn về Văn nghệ quân đội. Nhà phê bình văn học trẻ tuổi này
hết sức
cổ suý tôi, đôi khi anh còn thách đố. Chúng tôi thường ngồi trong cái
phòng
“toilet” khoảng ba mét vuông, do hệ thống bơm nước lên tầng hai bị hỏng
nên cái
phòng vệ sinh đó biến thành phòng văn. Nó được ốp gạch men trắng bóng,
lau sạch
ngồi thật mát và thoải mái kín đáo. Có những hôm Nhàn mua sẵn vài ba
điếu thuốc
lá lẻ, vài cái kẹo lạc, một ấm trà ngon rồi thách thức tôi viết ngay
tại chỗ.
Và đã có nhiều bài thơ ra đời như thế. Nhàn nói: “Những bài thơ này ông
Sách viết
ra khi có quỷ ám vào ông ấy”. Bởi Nhàn đánh giá tôi có một giọng điệu
khác hẳn
trong những sáng tác không phải thơ chân dung. Nhàn là người rất thuộc
thơ, và
khi bài thơ tôi vừa làm xong thường anh là người phổ biến rộng rãi. Một
số anh
em trẻ khác như các anh Định Nguyễn, Trần Hoàng Bách thường đem những
bài thơ
đi phổ biến để được chiêu đãi bia hơi. Có thể nói đó là “nhuận bút” đầu
tiên,
nhưng không thuộc về người sáng tác mà thuộc về người phát hành.
Tất
nhiên những bài thơ đó
được phổ biến rộng trong giới. Lúc dầu còn kín đáo, nhưng dần dần thành
công
khai và nhất là thành một “tiết mục” không thể thiếu trong những liên
hoan của
anh em văn nghệ. Có một buổi cũng khá đông đủ các nhà văn, khi vào tiệc
rượu,
mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt, trong không khí
như vậy
thì dù các anh các chị ấy có giận cũng cười xoà làm vui. Riêng tôi thấy
mình
làm được trò vui cho mọi người cũng hay chứ sao. Tôi nhớ sau buổi vui,
anh
Nguyễn Đình Thi có nói đại ý nên đem cái tài đó làm những việc có ích
hơn là
châm chọc nhau. Ngay đó một anh ngồi bên cạnh rỉ tai tôi: “châm chọc
cũng cần
có tài và có ích lắm chứ “
Những
bài thơ cũng được lan
truyền sang các giới khác. Hồi đó tướng Lê Quang Đạo là phó chủ nhiệm
Tổng cục
chính trị, cấp trên của giới văn nghệ trong quân đội, ông rất thích
những bài
thơ chân dung, thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ
ông đề
nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú tuy có tính cách cá nhân nhưng rất
hay cho
tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời,
có khi
bực tức. Tôi kể ra vài trường hợp đặc biệt. Khi tôi đã tìm hiểu được
những ứng
xử những lính cách của các nhà văn, ngoài những tác phẩm mà tôi thường
ngưỡng
mộ tôi cứ băn khoăn tự hỏi: “Sao thế nhỉ? Với bề dày tác phẩm thư thế,
với vị
trí trong xã hội như thế, trong lòng ngườí đọc như thế, sao họ còn ham
muốn
những thứ phù phiếm đến thế một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi
nước
ngoài... Mà đã ham muốn thì phải mưu mẹo, phải dối trá và nhất là phải
sợ hãi”.
Một lần trên báo đăng một bài thơ dài của một nhà thơ có tên tuổi viết
theo
thời tiết chính trị, quay ngược lại với những điều vừa viết chưa lâu,
Nguyễn
Khải chỉ bài thơ nói với tôi: “Rất tiếc một tài năng lỡ tàu!”
Tôi
không nghĩ mình đứng ra
ngoài cuộc để phán xét, muốn làm cặp mắl thứ hai trong một bài thơ để
tự bạch,
tự cảm thông với mình và cũng tự giận mình. Tôi vốn yêu thích và kính
phục tài
thơ Chế Lan Viên, nhưng bài thơ tôi viết về ông lại nói khía cạnh khác.
Mỗi lần
gặp lại tôi ông lại tỏ ra rất thân thiện. Điều đó làm cho tôi bối rối,
phải
chăng ông đã hiểu điều gì đó về ông về tôi. Lúc ông Hoài Thanh già yếu
phải vào
bệnh viện, tôi đến thăm ông. Ông không giận tôi nữa, còn cho tôi là
người có
tình và ông thấy những gì tôi viết về ông có phần đúng. Ông đề nghị
chữa một
chữ trong bài thơ. Khi ông mất, tôi đi viếng, nhìn khuôn mặt ông qua
lấm kính,
và các con ông oà khóc, tôi bỗng cảm thấy mình như người có tội.
Một lần
gặp Xuân Diệu trong
quán bia hơi, tôi nâng cốc bia chúc mừng ông vừa được bầu làm viện sĩ
của Viện
hàn lâm nghệ thuật nước CHDC Đức, ông chạm cốc:
- Chúc
mừng họ Ngô nhà ta,
những bài thơ của cậu đi vào cõi bất tử.
Điều
tôi không ngờ là cụ Đặng
Thai Mai cho người gọi tôi đến nhà bảo tôi đọc thơ chân dung cho cụ
nghe. Con
người nổi tiếng uyên bác thâm trầm ấy ngồi đặt cầm lên đầu gối cười
khục khục.
Đột ngột cụ ngước cặp mắt tinh anh lên nhìn tôi: “Thế còn Đặng Thai
Mai?” Tôi
lúng túng: “Viết về bác rất khó, cháu đang suy nghĩ thưa bác”. Dường
như ông cụ
không tin lời tôi. Ít lâu sau cụ lại gọi đến: “Anh viết về tôi rồi
chứ?” Trước
tôi chỉ nghĩ cụ không để ý đến cái trò chơi chữ ngông nghênh này, hoá
ra cụ
quan tâm thật sự khiến tôi vừa cảm động vùa thích thú. Nhưng biết sao
được,
viết về cụ thật là khó và đến nay tôi vẫn chưa viết được.
Còn cụ
Nguyễn Tuân, con người
vốn thích đùa một cách... cao sang và thâm trầm thích ăn nem rán nóng
bỏng thì
gắp lên đặt xuống cái nem nghe thơ và phán: “Hóm, thằng này hóm”. Nói
về đồng
nghiệp cũng là nói về mình. Cái hay cái dở của một người cũng là của
một thời.
Câu thơ: “Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất. Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành
cơm” đâu
chỉ là số phận của một nhà thơ. Hơn ai hết tôi nghĩ, nhà văn là đại
diện của
một thời, là lương tri của thời đại. Đã dành là khó ai vượt được thời
đại mình
đang sống, không dễ nói hết nói công khai những điều suy nghĩ. Nhưng
cũng thật
đau lòng và xấu hổ khi những nhà văn bán rẻ lương tâm, cong lưng quỳ
gối trước
quyền uy, mê muội vì danh lợi. Có lẽ đó là động cơ thúc đẩy tôi viết,
nếu có
nói quá cũng dễ hiểu, cái con “quỷ ám” nếu có thì cũng là ảnh hưởng của
những
cảm xúc ấy, nỗi đau chung ấy. Nhiều nghịch lý vốn tồn tại trong cuộc
đời cũng
như nghệ thuật. Tiếng cười nhiều khi xuất phát từ nỗ đau.
Những
bài thơ chân dung đã có
cuộc sống riêng của không phải kỳ lạ nhưng cũng độc đáo. Nó được lưu
truyền đến
đã ba mươi năm. Đã có nhiều bài “khảo dị” nhiều bài ngoài luồng cũng
được gán
cho tác giả. Bây giờ in ra cũng coi như một sự đính chính. Nó cũng là
“một cái
gì đó” như có người đã nói nên mới tại được nếu nó có ích thì tác giả
cũng lấy
làm mãn nguyện.
Ngày Xuân năm Nhâm Thân