Của ngày
đã mất
Truyện
ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Vào
giữa mùa khô, chúng tôi thực hiện chuyến du khảo đồng bằng châu thổ.
Hai tuần
cuối cùng của cuộc điền dã, chúng tôi ở lại Thổ Sầu. Những khúc hát của
các bà
má ở xứ này đã giữ chân chúng tôi lại quá lâu.
Chúng
tôi thuê một chiếc ghe nhỏ, len lỏi vào những con kinh, rạch chằng
chịch của
Thổ Sầu. Sáng, cậu lái ghe là một người ít học, hoang dã và mạnh mẽ.
Sáng cùng
mẹ đi bán hàng bông từ năm mười hai tuổi, cậu ta rành rẽ đường ngang
lối tắt,
thuộc lòng con nước lớn ròng. Hôm gặp Sáng ở bến sông, tôi nói tôi cần
tìm
những bà già biết hát, cậu ta cười, “Nhóc luôn. Chú muốn đi tui chở”.
Và
Sáng không quá lời, hôm nào chúng tôi ra đi cũng gặp khúc hát mới từ
một bà già
trầu đỏ trên môi. Em có vẻ phấn khích với những giai điệu mà chúng tôi
chưa
từng biết, chưa ai sưu tầm bao giờ, “Phụ mẫu đánh em quặt què quặt
quại.
Treo em lên tại nhánh bần. Rủi mà đứt dây rớt xuống em cũng lần theo
anh…i
a…”(*). Em làm việc luôn trên ghe, nghe lại những đoạn băng ghi
âm, đính
những mẫu ghi chú vào và viết lời, ký âm vào giấy. Cuối ngày, tôi sẽ
nghe băng
và đối chiếu với bản ký âm. Em ngồi gần đó, dõi theo nét mặt tôi, và
thường
nhoẻn cười khi thấy tôi cau mày khi phát hiện vài sơ sót nhỏ.
Em
theo tôi làm công trình sưu tầm, khảo cứu dân ca hơn một năm, không vì
niềm đam
mê nào rõ ràng ngoài việc em thích tôi, “vì thầy giống ông Ba”. Đó là
ông già
hàng xóm đã làm bạn với em suốt một tuổi thơ thui thủi, cha ở tù vì
biển thủ
của công, mẹ mải mê lao vào những cuộc hẹn hò. Em cắt tóc bên cao bên
thấp tới
trường, trông khá quái dị. Và tôi đã xoa đầu em một cách bâng quơ,
trong một
cơn phấn khích mà tôi không thể nhớ. Em nhắc lại rất chi tiết, “hôm đó
tay thầy
thơm mùi cỏ cú. Em biết cỏ này, vườn ông Ba nhiều lắm”. Ngừng một chút,
em dụi
mặt vào ngực áo tôi, giữa cái sảnh đông người, “thầy cũng dịu dàng, như
ông
Ba”.
Tôi
cười, em ngây thơ tới mức ngay cả sự tàn tạ, khô kiệt của sự sống và
dịu dàng
cũng không phân biệt được. Nên việc cho phép em tham gia nhóm nghiên
cứu cũng
vì một cái gật đầu bâng quơ. Khi hoạch định chuyến đi, em níu tôi đòi
theo, tôi
ngó em từ đầu tới chân, giọng hơi mỉa mai, “vụ này cực khổ lắm, cô nhắm
chịu
nổi không?”. Em cười, “Dạ, không sao đâu. Miễn là em được ở bên thầy…”.
Câu
cuối cùng em hạ giọng, nghe nhẹ như một lọn gió bấc buốt qua lớp áo,
tôi lấy
kính ra lau.
Khi
ấy tôi đã sáu mươi chín tuổi. Em mới hai mươi hai. Tôi không bao giờ
muốn nhớ
điều đó, nhưng đôi kính lão, dáng người héo như chỉ là da bọc lấy những
đốt
xương rời, mái tóc đã ngã màu bông lau chín… tất cả những gì thuộc về
tôi đều
nhắc nhở, tôi đã quá già. Tôi từ chối thẳng, “thôi, cô ở lại. Tôi sẽ đi
với
Trâm”. Cái tên của một đàn chị khá giỏi giang không làm em thất vọng
mảy may,
em tỉnh bơ quay đi.
Hôm
ra xe thì em đã cõng ba lô chờ sẵn ở đó, thấy tôi đi một mình em không
có vẻ gì
ngạc nhiên, chỉ cười chòng chọc, ý như “em biết mà, thầy nói gạt em”.
Tôi ngẩn
ngơ không biết làm gì với một cô gái thông minh và quá hiểu mình thì em
đã kéo
tôi lên xe. Em ngủ suốt đường đi, ngủ ngon lành như đứa trẻ con. Nhiều
lần đầu
em dục dặc mất điểm tựa, tôi đã lén kéo vào mình, nhưng bàng hoàng nhận
ra vai
tôi đã cứng khoèo.
Những
ngón tay cũng khô khi tôi lần vào ngực em trong tối đầu tiên. Em giấu
nụ cười
trong chiếc mền, “được nằm kế bên thầy, thích lắm”. Cái cảm giác mình
đang khô
đi khiến tôi rã rời, hầu như không có một cơn rạo rực nào khiến tôi có
thể ôm
lấy em. Lời bỗng rát trên môi, lục cục lòn hòn, xẵng lè, “tôi không thể
ngủ
được khi có người lạ”. Em vẫn cười và nhích ra mép giường, suốt đêm
không chạm
vào tôi. Tôi thì không sao chợp mắt, phấp phổng sợ em mê ngủ, lăn độp
xuống
đất.
Vẻ
mặt hốc hác của tôi sáng sau đã khiến em áy náy. Những ngày rong ruỗi
tiếp nối,
luôn có hai giường riêng biệt, cho tôi và em. Giấc ngủ không vì vậy mà
đến với
tôi dễ dàng.
Không
biết có phải vì vậy mà tôi cáu kỉnh suốt, chỉ vì một nốt nhạc sai, tôi
cũng có
thể càu nhàu, giận dỗi. Nhưng mỗi lần tôi nhăn trán thì em chỉ rụt cổ
cười. Có
lần tôi giận đến xé phăng bản ký âm đi, em lại gần và cắn vào tay tôi,
nheo
mắt, “thầy tính đuổi em đi bằng mấy cái lỗi nhỏ xíu này hả?”. Tôi ngó
cái dấu
răng trên da thịt mình, cảm giác em gần gủi tới mức như đang ở trong
tôi. Bản
ký âm em làm lại không hề có một sai sót nào. Dường như em sung sướng
cố ý mắc
một vài lỗi để buộc tôi sưng sỉa, rầy rà. Tôi biết điều đó, nhưng không
hiểu
sao tôi lại chờ đợi được cuốn vào vở kịch của em bày sẵn.
Thị
tứ đã lùi xa sau lưng, chúng tôi đi sâu vào những xóm làng heo hút. Cái
túi
chứa những cuộn băng cassette ngày càng đầy, giữa đêm em mở lại tiếng
gà trưa,
hay ai đó ới lên “ăn cơm…” trong một khu vườn thăm thẳm. Bờ lau xào xạc
gió.
Nước chảy vào họng đìa. Con chim nào đó kêu ánh ỏi. Một ngày đã qua với
em là
ngày không bao giờ mất. Tôi thì mất trắng, đôi khi nằm giường bên này,
mở cuộn
băng ký ức của riêng mình, nghe lại tiếng khóc ngất của em khi bị đỉa
đeo, tự
hỏi, sao lúc đó tôi không ôm em vào lòng mà chắp tay sau đít càu cạu,
“chán
không chịu nổi. cô còn tính khóc tới chừng nào nữa?”.
Vài
lần lội tắt qua những cánh đồng tàn rạ để đến cái xóm nhỏ vắt vẻo giữa
đồng
khơi, nơi có bà già nào đó đang cất giữ trong ký ức một câu hò, điệu lý
mà chúng
tôi chưa biết, tôi đã tưởng cái ngày hôm đó không bao giờ mất. Giữa
trời và đất
lồng lộng, bỗng dưng tôi cười xòa, nói đùa mấy câu ý nhị. Cái cảm giác
chỉ có
em và tôi và cây cỏ dại trên đồng làm tôi thấy dễ chịu. Thậm chí tôi
chủ động
nắm tay em, và bàn tay nhỏ nhắn đó thoáng lạnh đi vì bất ngờ. Em giả vờ
ngó
bâng quơ mây lên trời, lâng lâng vui. Nhưng tôi đã không giữ tay em
được lâu,
vì khi rình bắt con chuồn chuồn gần cái ao nhỏ sắp cạn nước bên bờ
ruộng, tôi
đã thấy lại mái tóc trắng xóa của mình. Và cơn nắng khô khốc trùm phủ
lên tôi,
khi bước vào cái xóm nhỏ đó, nghe mời, “hai chú cháu uống ly nước dừa
cho mát
rồi hẵng đi”. Tôi ngồi rũ ra, thở dốc, không hoàn toàn vì điệu hò mà
chúng tôi
cần tìm đã bị chôn vùi tuyệt tích xuống đất cùng với một người già, bảy
tháng
trước.
Cuộc
đi của chúng tôi bỗng dưng chậm lại. Em hay than mỏi chân, ngồi ì ra
dưới một
gốc ô môi bên con đường xóm vắng người. Tôi cằn nhằn “kiểu này thì biết
chừng
nào mới tới chỗ đây. Tôi đã nói là cô chịu không nổi mà. Thiệt là… chỉ
làm
vướng chân tôi”. Em cười hinh hích, kéo tay tôi ngồi ngồi xuống cạnh
mình, nói
“thầy ơi, thầy mỏi chân đi”. Sau câu nói ấy thì tôi thấy mình bỗng mỏi
thật, vì
chỉ cần đi chút nữa, gặp người đời, tôi sẽ thấy lại tuổi sáu mươi chín
của mình
trong mắt họ. Sẽ phải nghe câu nói hồn nhiên của một người hồn nhiên,
“Ông anh
có con gái ngộ quá, phải ở gần tui hỏi cưới cho thằng út tui, mình làm
sui gia
chơi”. Và em bỏ chén cơm ăn dở xuống, rối bời nắm lấy tay tôi, “không
phải đâu,
chú ơi, không phải…”. Cái khoảnh khắc rối bời này sẽ lặp đi lặp lại,
chừng nào
em còn ở bên tôi.
Tôi
muốn ngồi mãi ở cái dưới vòm bông ô môi đỏ, vì chút nữa thôi, trong khi
em đặt
máy ghi âm một câu hát dân gian, tôi chụp hình gương mặt già quéo của
bà cụ và
máy ảnh bỗng run, tôi thấy chính mình trong ống kính, lụ khụ, hom hem,
miệng
phập phều đôi môi trống. Tôi sẽ ở bên em như thế này sao, như một bộ
xương đang
khô đi, rơi ra từng lóng một. Bà cụ vẫn đang say sưa trệu trạo hát,“Nước
chảy lánh linh chảy ra Vàm Cú. Thấy dạng em chèo cặp vú muốn hun”,
em cười
ngắt nghẻo, “trời đất ơi, ngoại làm con đau bụng rồi nè”.
Tôi
gần như không dám nhìn vào cái cười trong trẻo đó vì sợ mình sẽ nhớ
lâu. Chuyến
khảo cứu đã bước vào những ngày cuối, và khi tới Thổ Sầu, tôi đã giữ
được thái
độ lạnh lùng với em. Một sự xa cách cần thiết cho tôi thanh thản về lại
phòng
làm việc trong Viện Âm nhạc, hoàn tất công trình nghiên cứu của mình
cho đến
cuối đời. Và cho em đủ tỉnh táo để thấy rằng những thanh niên cùng khoa
xứng
đáng hơn tôi.
Nên
thời gian ở Thổ Sầu tôi thường cau có, Sáng thấy đôi khi tôi gầm gừ em
chỉ vì
những lỗi nhỏ, cậu ta cằn nhằn, “chú ỷ lớn rồi ăn hiếp cổ…”. Tôi nạt
lại “cậu
thì biết gì…” rồi bỏ đi chỗ khác. Sáng day qua em, an ủi, “thây kệ ổng,
mấy ông
già hay khó tánh…” rồi ngẩn ra khi thấy em cười tỉnh bơ, chẳng có vẻ gì
buồn
bã. Tôi hoang mang, cáu giận cũng là một cách quan tâm. Nhưng dửng dưng
thì có
tác dụng không?
Chiếc
ghe đưa chúng tôi đi từ khúc hát này đến khúc hát khác, vì sông rạch
chằng
chịt, chúng tôi không thể quay lại thị xã trong ngày. Đêm chúng tôi ở
lại nhà
bà con, ngủ trên những chiếc vạc cau gồ ghề, cọt kẹt hay bộ ván đã bị
mọt đục
nham nhở. Ngày lại, chúng tôi đi dọc những triền sông mãi miết những
hàng dừa
nước, những lùm chùm gọng, những bụi ráng, ô rô… Giữa những câu hát
phều phào
đứt quảng vì thiếu hơi “em đi tìm anh nước mắt nhỏ úa cọng cỏ vàng.
Anh
không tin đi trở lại mấy nẻo đàng em qua” đôi khi tôi được nghe lại
tiếng
bìm bịp kêu chen lẫn trong nước chân khỏa vào nước, và giọng của Sáng
ngập
ngừng, “chân của đó trắng quá chừng…”. Tôi ngồi nghe mớ âm
thanh đó với
vẻ mặt điềm nhiên, vì tôi biết, em đang dõi theo mình.
Không
phải vô tình mà những cuối ngày, khi ngồi đối chiếu lại băng và bản ký
âm, tôi
thường được nghe những cuộc chuyện trò. Tiếng tu hú gọi bầy tao tác,
sau đó là
giọng Sáng, bữa nào nghe tu hú kêu tui mệt muốn chết. Em hỏi, “sao vậy
?”. Sáng
cười khà khà, “vì tui mắc kêu theo nó, cứ tui nín nó kêu, tui kêu nó
nín, một
hồi muốn đứt hơi”. Em cười giòn. Sau đó là tiếng gió xào xạc, tôi đoán
là em và
Sáng đang ngồi dưới một bờ tre. Rồi Sáng thở dài, “mai mốt đó
về chắc
tui buồn ác liệt…”. Tôi nhấn nút stop, như một động thái vô tình, sau
khi sửa
lại bản ký âm. Tôi thờ ơ vặn mình cho đỡ mỏi, rồi nằm dài khoan khoái
trên sạp
ghe. Ở đằng mũi, em làm sao thấy tôi đang tái nhợt đi.
Thời
gian ở Thổ Sầu vì thế mà hiện diện một cách bất thường. Ngập ngừng,
dằng dặc
với tôi và em nhưng quá mau với Sáng. Chạng vạng nào Sáng cũng chép
miệng than,
trời ơi, mới đây mà hết một ngày rồi. Thích em không giấu giếm, có bữa
Sáng táo
tợn hôn lên mặt em rồi nhảy ào xuống nước. Em ngó về phía tôi, và tôi
thì cố
gắn lên môi nụ cười bình thản.
Em
cúi đầu, nhìn sông trôi xơ rơ.
Buổi
chiều của ngày cuối cùng trước khi Sáng chạy chiếc ghe trở lại thị xã,
em cho
tôi nghe một đoạn băng thừa, Sáng nói, “tối nay tui lấy ghe chở đó
lại
đằng xã uống nước chơi, cũng gần đây thôi”. Em ngập ngừng, ừa, cũng
được. Tôi
chuyên chú nghe lại điệu Lý tình tan,“Có con chim nhạn bỏ đàn. Qua
đây nhớ
bậu bò càng khóc thương”, rồi bôi bôi xóa xóa trên tờ giấy trước
mặt. Cây
viết tuôn mực như đang khóc. Để kìm lòng lại, tôi bỏ chúng qua một bên,
soi
mình xuống sông, để thấy tóc mình, gương mặt gãy khúc trên mặt sóng,
mầy già
rồi, mầy già rồi, mầy già rồi.
Lúc
em xin phép đi với Sáng thì mặt tôi đã ủi phẳng, trán tôi không nhíu
lại, mày
tôi không cau, nụ cười tôi an nhiên, dặn dò mấy câu như chính con gái
mình hẹn
hò. Tôi mà chớp mắt, em sẽ trở lên bờ. Buổi tối trong căn nhà mà chúng
tôi nghỉ
lại, tôi ngồi đập muỗi lép bép đến khuya, bà cụ già đã hát điệu hò huê
tình lúc
chiều hỏi tôi sao buồn vậy, tôi cười, đâu có, tại trà đậm quá. Bà gật
đầu, “Ừ,
tụi nhỏ chậm thiệt, tới giờ vẫn chưa về”. Tôi không tin bà lãng tai, dù
có lúc,
tôi hỏi bà đi lại có khó không, bà trả lời, ăn thịt chó tội chết.
Nửa
đêm. Tiếng dây xích buộc ghe xủng xẻng dưới bến làm tôi chui vào mùng
và ngủ
say, thanh thản. Tôi tin rằng chưa bao giờ mình lại ngủ một giấc sâu,
đến mức
cảm giác như mình đang chìm từ từ vào chết. Em bước lặng qua chỗ bộ vạc
tôi nằm
ngáy. Dưới bến, Sáng chắc là không ngủ được, tiếng dây xích mũi ghe cứ
lao xao
suốt.
Sớm
sau, lúc chạy chiếc ghe cũ chậm chạp ạch đụi đưa chúng tôi ra thị xã,
Sáng nói,
mai mốt tui lên Sài Gòn làm mướn, thể nào cũng kiếm hai người chơi”. Em
hoảng,
“Anh không bao giờ tìm được tụi tôi đâu. Đừng đi”. Nhưng chẳng có dấu
hiệu nào
Sáng sẽ nghe lời em, bắt đầu từ ý nghĩ bỏ Thổ Sầu, chiếc ghe và những
dòng
sông, cậu ta bước vào cuộc theo đuổi biền biệt.
Cái
ý nghĩ chính chúng tôi đã làm thay đổi số phận của Sáng khiến chuyến xe
ngột
ngạt. Tôi và em vẫy tay cho đến khi Sáng chỉ còn dấu chấm than nhỏ
nhoi, tuyệt
vọng. Em day lại, quệt nước mắt và suốt chặng đường dài, không hề nhìn
tôi. Cái
cảm giác mất em bắt đầu ăn lan trên từng thớ thịt. Chuyến xe cập bến
vào một
buổi chiều tàn lụi, nhưng chúng tôi mãi mãi không trở về được cái nơi
mình ra
đi. Đời vốn không buồn, nhưng người ta cứ làm cho nó buồn.
Chiếc
taxi đưa tôi đi một quãng, thì cái trống trải đã thấu buốt tận đỉnh
đầu. Tôi
ríu giọng nhờ người tài xế quay lại chỗ em đã buông lời từ giã dửng
dưng. Chỉ
còn nhao nhác những khuôn mặt lạ, em đã mất trước khi ngày mất. Sẽ còn
gặp
nhau, nhưng em không là em cũ. Tôi gần như nói ra bằng lời, may quá,
cuối cùng
thì cô ta cũng chịu rời khỏi mình. Thật may.
May
quá, mai kia khi trút hơi thở cuối cùng, tôi chẳng phải nặng lo cho em,
lúc đó
ngồi cạnh tôi với gương mặt ướt.
(*)
Mượn từ “Bộ hành với
ca dao” của nhà thơ Lê Giang