
|
Hạt
thóc của Phù Thăng
"Nếu
tính cách là do hoàn cảnh tạo ra, thì cần phải làm
cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn."
Marx
"Liệu
con người có hồi sinh được không, từ những đòn
đau ê ẩm của Chekhov?"
Gorki
(Phan
Hồng Giang trích dẫn, trong giới thiệu tuyển tập
truyện ngắn Chekhov, nhà xb Văn Học, hai tập, 1977).
Trong
số những bài viết của Chân Dung và Đối thoại (Trần
Đăng Khoa), được hải ngoại đăng lại, kèm hoặc không kèm lời bình,
"đạt", có: bài viết về (con nai vàng ngơ ngác của) Lưu Trọng Lư, (đôi
tất của) Lê Lựu, (trận cháy của) Xuân Diệu, và (hạt thóc của) Phù Thăng.
"Hạt
thóc", là câu chuyện "kể về một gã tâm
thần. Gã từng là nhà văn, từng làu làu tiếng Pháp. Thế rồi chẳng biết
do ngộ
chữ thế nào đó, gã đâm lẩn thẩn. Gã cứ nghĩ mình là hạt thóc bé bỏng
tội
nghiệp. Và vì thế cứ trông thấy gà qué ở đâu là gã co cẳng chạy".
"Thật
tội nghiệp cho gã! Thà gã cứ nghĩ mình là một cục
cứt để rồi mà sợ chó, thì đời gã chẳng đến nỗi khổ như vậy."
Bởi
vì hạt thóc, gà... liên quan tới nhà quê, cho nên ông
giải thích cụm từ "thà gã cứ nghĩ mình là một cục cứt để mà sợ chó":
"Chó đang thưa vắng dần. Ở làng quê bây giờ có bói cũng chẳng tìm thấy
bóng dáng một chú chó nhỏ. Để đề phòng bệnh dại, người ta đã triệt
chó".
Nhưng liền đó, là:"Chỉ ở Hà Nội mới có chó. Rất nhiều chó." (tôi cứ
tưởng tượng cái cảnh Trần Đăng Khoa viết đến đoạn này, khoái quá, rồi
sợ quá,
ông bèn viết thêm) "Chó ngào ngạt suốt một rẻo đê Nhật Tân. Nhưng đó là
những con chó hòa bình, chẳng có gì phải sợ". (Ở đây, loáng thoáng câu
tục
ngữ: chó chết, hết chuyện!).
Một
truyện ngắn "mini", (truyện cực ngắn) như Trần
Đăng Khoa cho biết. Ông giải thích, "có truyện chỉ vài trăm chữ, thậm
chí
vài chục chữ, mà vẫn chuyển tải được tới bạn đọc một vấn đề lớn. Chỉ
một dúm
chữ, nhưng truyện vẫn có hồn, có cốt, có cả nhân vật. Nói tóm lại, nó
vẫn là
cái truyện nghiêm chỉnh, chứ không phải một dạng tiểu phẩm, có tráng
qua chút
văn chương."
Sau
đó "người bệnh" được một bác sĩ tâm thần chữa
trị. "....bằng tấm lòng nhân ái ấy, ông bác sĩ tài ba ấy đã cứu được
gã,
đã đưa gã từ cõi mộng mị hoang tưởng về với xứ người. Ông anh làm nghề
gì? Tớ
là nhà văn. Cóc phải! Người ta bảo ông anh là hạt thóc. Bậy! Tớ là con
người.
Cậu nói gì mà lạ thế? Tớ là con người!"
Nabokov,
trong bài "Độc giả tốt và nhà văn tốt"
viết: "Văn chương không bắt đầu vào cái ngày, một đứa trẻ chạy trối
chết
từ một cánh rừng ra, và chạy và la: 'chó sói, chó sói!', và một con sói
bén gót
chú bé. Văn chương ra đời cái ngày chú bé la lớn 'chó sói, chó sói!',
và đằng
sau lưng chú chẳng có con sói nào.... giữa con sói ở góc rừng và con
sói ở góc
trang sách, có một mắt xích lóng lánh. Mắt xích đó, lăng kính đó, là
nghệ thuật
văn chương".
Ở
đây, với Phù Thăng, có một ẩn dụ, không những liên quan
tới văn chương, mà còn tới phận người. Chồng chất những nỗi cơ cực ở
trong đó.
Qua
Trần Đăng Khoa người đọc biết, Phù Thăng là một nhà văn
bị biếm, may không bị giết, nhờ đã chút công với cách mạng. Một cách
hết sức tự
nhiên, người đọc liên tưởng từ hạt thóc tới tác giả của nó: ông là một
hạt
thóc, bị những đồng chí cách mạng chạy
theo bén gót, may được "đồng quê" chữa trị. Với tôi, đoạn Trần Đăng
Khoa viết về những ngày bị biếm của Phù Thăng, và một con trâu điên -
(bạn hay
Phù Thăng đích thị?) - là những trang sách "đạt" nhất của Chân Dung
và Đối thoại:
"Phù
Thăng làm quần quật như một nông dân. Chẳng ai
biết ông là một nhà văn hào hoa phong nhã một thời. Bà bán nước chè
xanh ở quán
nước đầu xã Cộng Lạc, vốn là một giáo viên nghỉ hưu tỏ ra rất am tường:
'Các
bác muốn tìm ông Thăng mà hỏi nhà văn Phù Thăng thì chẳng ai biết đâu.
Cứ hỏi
ông Thăng có con trâu sứt tai, hoặc gọi tắt là ông Thăng sứt, thì cả
làng này
ai cũng biết.... Mà kể cũng lạ... ông lão người cứ quắt như gốc sắn
khô, mà trị
được con trâu to vật. Con trâu ấy dữ lắm, trẻ con đứa nào cũng hãi. Con
điên
sứt ấy đã cho mấy ông thợ cày thủng bụng rồi đấy. Vậy mà nó chịu ông
Thăng...'
"Vậy
đó. Con điên. Con điên sứt. Những biệt hiệu đầu
gấu sặc mùi đao búa của con trâu ương ngạnh, ai ngờ lại là đặc điểm, là
chứng
chỉ để người ta nhận diện một nhà văn... Thực tình Phù Thăng đâu đã bỏ
văn, để
rồi phải núp sau cái tai sứt của con trâu điên khùng. Ông vẫn viết cần
mẫn.
Ngày cày ruộng quần quật, đêm lại chong ngọn đèn dầu, cặm cụi 'cày'
trên cánh
đồng giấy trắng rợn, trắng đến sởn cả da gà. Bà vợ hơn ông hai tuổi lại
rên
rẩm:'Thôi, tôi lạy ông! Đừng viết nữa. Khổ đến thế còn chưa đủ sao?
Nhất nhỡ
lại sa sẩy nữa thì sống sao nổi. Ông già rồi...' Nhưng Phù Thăng làm
sao bỏ
viết được. Cái nghiệp văn chương nó thế. Không phải ông chọn văn chương
mà
chính văn chương đã chọn ông để đầy đọa, để hành hạ ông trong cõi người
này....
Chồng bản thảo mỗi ngày dầy thêm. Phù Thăng gói bản thảo thành từng bó,
quấn
giấy xi măng, rồi cho vào chum ủ lá xoan tươi. Đấy là cách phòng chống
mối mọt
của những nông dân nghèo thời trung cổ. Trong căn buồng ẩm thấp, tối
sẫm, lúc
nào cũng vo ve tiếng muỗi, ngoài chum thóc, chum sắn còn có cả một chum
văn
nữa..."
Đoạn
chót bài viết, là chuyện chum văn "chết' gặp gỡ
những chum văn "sống":
"Thấy
chúng tôi, ông sững lại, rồi reo òa lên như một
đứa trẻ:
-Ối
giời, các ông! - Và rồi, thật bất ngờ, Phù Thăng sụp
xuống. - Tôi lạy ông Khải, tôi lạy ông Lựu, tôi lạy ông Khoa!
-
Ô hay, sao lại thế này? Lê Lựu há hốc mồm kinh ngạc. Nguyễn
Khải đứng dậy, luống cuống. Xưa nay người ta chỉ lễ người chết, chứ mấy
ai lễ
người sống bao giờ..."
Độc
giả thấy thấp thoáng đoạn kể, nỗi sợ bất thần của anh
chàng tâm thần khi thung thăng ra viện: "Nhưng thật oái oăm, chính cái
lúc
ấy... thì lại vút lên tiếng gà gáy. Thế là gã co cẳng chạy.... Ông làm
sao thế
hả? Con gà... con gà... gã líu lưỡi lại. Ông anh có phải là hạt thóc
không?
Bậy! Tôi không phải là hạt thóc. Tôi là người. Là con người.... Nhưng
con gà,
vâng chính con gà ấy, nó vẫn cứ tưởng tôi là hạt thóc, thì sao?"
Tôi
là người nhưng những con gà nó không chịu cho tôi làm
người, thì sao?
Và
Trần Đăng Khoa kết luận: "câu chuyện mi-ni của ông
xưa, lại ám ảnh tôi, chợt làm tôi ớn lạnh. Bất giác, tôi nắm chặt bàn
tay gầy
guộc của Phù Thăng, lòng mơ hồ rờn rợn. Chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó,
sau lùm
cây tối sẫm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gà gáy..."
Bạn
có thấy câu văn đóng bài viết "đạt" không?
Trần Đăng Khoa nhập vào nhân vật chính trong chuyện mini Hạt Thóc, cũng
như Phù
Thăng đã nhập vào trước đó. Ở đây, có tới ba chuyện mini Hạt Thóc. Ba
nhân vật
là một nhân vật (anh chàng bệnh tâm thần; anh chàng "tớ là nhà văn" -
Phù Thăng; anh chàng "tớ là nhà thơ" - Trần Đăng Khoa).
Để
giải thích kinh nghiệm tuyệt vời này, cho phép tôi được
nhắc tới bài tựa thi phẩm Lá Cỏ (Leaves of Grass,Walt Whitman), của
Jorge Luis
Borges (trong cuốn Sách Tựa, Livre de Préfaces).
Borges
nhắc tới cảm giác bực bội, của ông và cũng là của
nhiều người, khi chuyển từ những dòng thơ tuyệt vời trong Lá Cỏ, qua
những cuốn
viết về tiểu sử tác giả, nhà thơ Walt Whitman: người đọc cố tìm nhà thơ
lang thang
bán-thần, người đã làm nên những câu thơ thần trong Lá Cỏ, và ngạc
nhiên vì
không làm sao tìm ra. Bài Tựa của ông, là để giải thích lý do tại sao
đó.
Lá
Cỏ là hùng ca về nước Mỹ, vào thời kỳ lập quốc, và là một
trong những biểu tượng về một cõi lý tưởng, thiên đàng hạ giới (có thể
bây giờ
vẫn còn được nhiều người tin như vậy). Những hùng ca, với những nhân
vật như
Achille, Ulysse... đã thuộc về một thế giới bị tiêu huỷ, hoặc chúng ta
muốn
tiêu huỷ: thế giới quý tộc. Thế giới của tôi (Whitman) không thể bắt
chước
những khuôn mẫu đó: nhân vật chính của nó (hùng ca) phải ở số nhiều.
Trong
tập thơ, nhân vật chính, chính là Walt Whitman, ở số
nhiều. Không những ở số nhiều mà Whitman còn muốn, nó vô tận: ông cộng
vào nhân
vật chính, một nhân vật thứ ba: độc giả!
Bởi
vì, như Borges giải thích: Đọc Macbeth, một cách nào đó:
là Macbeth.
Bịa
ra một nhân vật, đã khó. Biến nó thành hai, thành ba,
rồi thành vô cùng, làm được như vậy, chỉ mới có Whitman.
Đọc
Phù Thăng của Trần Đăng Khoa, độc giả cũng cảm thấy rờn
rợn, vì một tiếng gà gáy bất thình lình ré lên...
Một
bài viết thật tuyệt vời, với riêng tôi.
Theo
Trần Đăng Khoa, Phù Thăng viết truyện Hạt Thóc khi đã
rời bỏ Hà Nội, trở về quê, làm một thợ cầy. Trước đó, ông từng là tác
giả kịch
bản nổi tiếng. Tiểu thuyết Phá Vây dày 500 trang, viết trực tiếp về
cuộc chiến
tranh vùng Bắc Bộ. Một cuốn sách ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
nếu
không có vài dòng ông luận về chiến tranh. Trong đêm, trước buổi mai
một trận
đánh lớn, nhìn cậu lính nào cũng trẻ đẹp, sức trai như thế kia vào trận
mà chết
thì uổng quá. Nếu không có chiến tranh, những sức vóc ấy mà cho đi phạt
bờ,
cuốc góc thì sướng biết mấy... Tôi nghĩ Hạt Thóc đã nẩy mầm ngay lúc
đó. Ông
muốn là một hạt thóc của văn chương, thay thế những hạt thóc bị phí
phạm của
cuộc đời. Nói một cách riết ráo, điều mà Phù Thăng muốn, là một thứ văn
chương
của hạt thóc, chứ không phải văn chương của đàn gà! Cái đoạn tả ông sụp
lạy
những đàn anh văn nghệ cho thấy: hãy cứ cho tôi là (một văn chương của)
hạt
thóc, đừng săn đuổi tội nghiệp! (Bài viết của Trần Đăng Khoa có thể làm
độc giả
ngộ nhận: Phù Thăng đã trở nên điên khùng như nhân vật của ông. Đây là
một cách
quy chụp, thường xẩy ra cho những nhà trí thức từng theo Đảng và sau đó
phản
tỉnh, như trường hợp Trần Đức Thảo chẳng hạn).
Ngay
trong bút hiệu của ông, đã có một ước vọng (phù thăng
đọc ngược là thằng phu).
Nhưng
cũng có thể, khi Phù Thăng cho nhân vật nhập vào một
hạt thóc, ông còn liên tưởng tới kỷ niệm thuở ấu thời. Mấy bà mẹ, mỗi
lần thấy
đứa nhỏ để vương vãi khi ăn, thường căn dặn: hạt thóc, hạt gạo, hột cơm
là
những hạt ngọc của trời, nhặt lên đi con. Mấy bà mẹ làm sao hiểu nổi
định luật
bảo toàn năng lượng - chẳng có gì sinh ra, chẳng có gì mất đi - hạt
thóc vương
vãi dành cho gà qué, hột cơm vào bụng, tiêu hóa, nuôi cơ thể, phần dư
thừa biến
thành thức ăn của chó, rồi tất cả ngào ngạt ở Hà Nội... nhưng ở giữa
hạt thóc
mà đàn gà săn đuổi, và ao ước giá là một cục cứt thì đỡ khổ biết bao
nhiêu, là
thân phận (hoặc vinh quang của) người viết: chọn văn chương hay
"được" văn chương chọn lựa...
Chữ người tử tù
Nhà
văn Isaac Bashevis Singer, khi phải lựa chọn một số
truyện ngắn, để làm một tuyển tập, ông nói đùa, mình đúng là một đấng
"quân vương", với ba ngàn cung tần mỹ nữ, và hàng lô con cháu. Chẳng
muốn bỏ đứa nào!
Ông
sinh năm 1904, tại Ba Lan, di cư sang Mỹ năm 1935, và
một thời gian làm ký giả cho tờ báo cộng đồng Jewish Daily Forward, tại
New
York City. Chỉ viết văn bằng tiếng Iddish, và được coi như nhà văn cuối
cùng,
và có lẽ vĩ đại nhất của "trường" văn chương Iddish.
Vĩ đại hơn, ông là nhà văn Iddish đầu tiên,
sống nhờ viết văn. Chúng được dịch ra tiếng Anh, rồi ông được trao tặng
Nobel
(1978). Là một trong số những dịch giả truyện của mình, với ông, tiếng
Anh còn là ngôn ngữ mẹ đẻ thứ hai, nhưng
ông thú
nhận, ông viết bằng tiếng Iddhish, vì đây là "tử ngữ', và truyện của
ông
là để cho những người đã chết, đọc.
Trong
Nhà Văn Hiện Đại, khi Nguyễn Tuân mới xuất hiện, Vũ
Ngọc Phan đã tiên đoán, văn tài của ông sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới lớp
sau. Có
thể mượn nhận định của Sartre, về chủ nghĩa Mác-xít: tùy bút của Nguyễn
Tuân
quả đã "không thể vượt được", nhất là chất khinh bạc của nó, đã
"di truyền" mãi mãi về sau này. Như nhìn ra "phần số khắc
nghiệt", để bù lại, trong truyện ngắn, Nguyễn Tuân
thường viết về những người đã chết. Ở đó,
chất khinh bạc mất hẳn, hoặc được ngôn ngữ kỳ diệu của ông đẩy tới tột
cùng,
biến thành lòng nhân hậu.
Cảnh
Huấn Cao viết bức tranh chữ cuối cùng của đời mình rồi
quay sang nói với viên cai ngục, hãy kiếm một nghề khác mà nuôi thân,
(con
người như ông, những chữ như thế này phải
tìm đất khác để mà tụ lại): chẳng đợi người cai
tù nói hết câu: xin
bái lĩnh, ông đã nhập vào những chữ chưa khô mực. Khó mà thấy cõi lòng
nhân hậu
đó, của Nguyễn Tuân, ở trong những trang tùy bút tuyệt vời như Chiếc Lư
Đồng
Mắt Cua, Nguyễn... kể cả sau này, trong những bài ký thời chống Mỹ cứu
nước,
như thể ông càng đi nhiều, càng gặp người (sống) nhiều, tài hoa, lòng
nhân hậu
của ông càng hao mòn dần...
Chữ
người tử tù: lý tưởng một đời người, ý nghĩa của chữ.
Trên đỉnh non Tản: hiện thực huyền ảo. Non Tản: Cái nôi, chốn hành
hương, cội
rễ nhà trời, nơi trời Việt, đất Việt gặp gỡ...
Cá
nhân người viết làm quen với Nguyễn Tuân rất sớm, phải
nói là quá sớm. Mới biết đọc, biết viết, "thằng bé" đã nghe đọc văn
ông, ở những bậc cha chú trong gia đình. Người bác trong lúc tâm đắc
với một
người bạn về những viên ngọc vương vãi, trên con đường từ giếng trời
trở về
trần, vô tình để mãi những viên ngọc trong trí tưởng của đứa cháu. Thế
đấy, cậu
bé đã dùng những viên ngọc như vậy để đánh dấu những trang sách hồng,
Ông Đồ
Bể, Cái Ấm Đất, của Khái Hưng. Đánh dấu những trang sách của một chuyện
tình
(chúng làm cho những lần chia ly bớt thê thảm đi một chút); của cuộc
chiến: như
những viên đất ném theo, ném theo mãi, xuống lòng huyệt...
Nhận
xét của họ Vũ về thể văn tuỳ bút, ở Nguyễn Tuân, không
ngờ đầy chất tiên tri. Những bài viết của ông sau này, là ký, không còn
là tuỳ
bút.
Với
tuỳ bút, cái "tôi" rất quan trọng. Cá nhân
người viết, khi đọc "Những essays hay nhất trong năm của Mỹ", The
Best American Essays, thấy chúng rất giống thể văn tuỳ bút, ở tính tự
thuật, ở
chất hồi tưởng, và nhất là ở tấm lòng của người viết, khi chuyện trò
với những
hồn ma. Tuyển tập Những bài essay hay nhất (hàng năm) của Mỹ, có một
đặc biệt:
mười hai năm hiện diện cho tới nay, mỗi năm mời một tác giả làm "guest
editor", thường là những khuôn mặt "đang lên": Joyce Carol Oates
(1991), Susan Sontag... Gần đây nhất là Jamica Kincaid (1995), Geoffrey
C. Ward
(1996).
Tuyển
tập 1997, với Ian Frazier lo việc in ấn và viết lời
giới thiệu, có bài viết của Lê Thị Diễm Thúy, The Gangster We Are All
Looking
For. Qua phần ghi chú tiểu sử, chúng ta được biết, bà là một nhà văn,
và nghệ
sĩ trình diễn đơn (solo performance artist). Sinh tại Việt Nam, lớn lên
tại
miền Nam California, hiện cư trú tại phía tây Massachusetts. Đã từng
đoạt giải
thưởng 1997 Bridge Residency của Headlands Center for the Arts. Văn
xuôi và thơ
của bà đã xuất hiện trên The Massachusetts Review, Harper's Magazine,
và Muae.
Tác phẩm trình diễn: "Red Fiery Summer" và "the bodies between
us". Hiện đang viết cuốn sách với nhan đề nêu trên, sẽ do Knopf xb.
Đọc
Gã Găng-tơ Tất Cả Chúng Ta Tìm, chúng ta sẽ thấy hậu quả
của cuộc chiến đè nặng lên những nhân vật trong truyện, và thật khó mà
nghĩ
rằng, nó đã chấm dứt, không phải với
chúng ta, mà với những thế hệ tiếp theo. Câu chuyện bắt đầu bằng một
tấm hình
đen trắng: Việt Nam là một tấm hình đen trắng, chụp ông bà tôi ngồi
trên những
chiếc ghế tre... Khi nhìn bức hình ông bà tôi, ở những năm cuối đời của
họ, tôi
cứ muờng tượng ra một sự khởi đầu. Khởi đầu cho cái gì, và ở đâu, tôi
không
biết, nhưng luôn luôn là một sự khởi đầu... Ký ức của bà mẹ truyền lại
cho
người con (nhân vật xưng tôi): Mẹ tôi có nghe một câu chuyện về một cô
gái bị
chết vì bom na-pan, khi xuống bãi dúng chân vào nước cho mát. Người ta
kiếm
thấy cô nổi lềnh bềnh trên mặt biển. Chất lân tinh của trái bom trùm
lên thân
thể cô, khiến nó lập lòe như một ngọn đèn...
Trên
nói tiên tri, đối với cả thể văn tùy bút, lẫn con người
Nguyễn Tuân. Một cách nào đó, khi ông phải "từ chối" tác phẩm (Những
tác phẩm viết trước cách mạng như Tàn Đèn Dầu lạc, Chiếc Lư Đồng Mắt
Cua, hoặc
sau đó, như Phở chẳng hạn), tôi nghĩ, có thể ông tin rằng, tuy ông bị ở
lại,
nhưng thể văn tuỳ bút, và con người Nguyễn Tuân ở trong đó, đã "vượt
thoát". Đã sống sót, ở một số nhà văn sau ông. Thí dụ như Vũ Khắc
Khoan,
Mai Thảo... Có điều, cả Nguyễn Tuân lẫn Vũ Ngọc Phan không thể ngờ, thể
văn tuỳ
bút lại trở thành một địch thủ lợi hại của thơ ca và giả tưởng, như
trong bài
Tựa của Robert Atwan, cho Tuyển tập 1997 kể trên: "Sự thay đổi của thể
essay ngày hôm nay làm cho thi ca và giả tưởng trở thành tù đọng: essay
là một
dạng văn chương năng động nhất hiện nay của chúng ta. Nào là essays kể
(narrative), như của Lê Thị Diễm Thuý, rất gần gụi với thể truyện ngắn.
Essays
khảm (mosaic) giống như thơ xuôi. Rồi phê bình văn chương mang dạng tự
thuật.
Thể văn báo chí mang giọng bi kịch, cộng thêm ẩn dụ, suy tưởng, với một
liều
lượng rất nặng tay, những thông tin. Một vài nhà essayists viết tranh
luận
(polemic) "cứ như thơ"!
Trong
bài Giới thiệu, Ian Frazier lại coi essay là một hành
động (Thì "đi" không phải là một hành động hay sao?, tôi như nghe
Nguyễn Tuân, Vũ khắc Khoan, tuyết ngưu "gầm gừ" từ phía bên kia đời
sống vang vọng qua). Ông định nghĩa thêm: Một bài essay là một người
đang nói.
Câu này thật đúng với tuỳ bút Nguyễn Tuân. Đây là sự khác biệt giữa hai
Nguyễn
Tuân, giữa tùy bút và ký. Có thể nói khinh bạc là tuỳ bút Nguyễn Tuân.
Với ký,
con người biến mất, chỉ còn "chúng ta", một khối vô danh đáng ghét,
đáng sợ.
Có
thể có người "bắt bẻ"; trong truyện ngắn, trong
tiểu thuyết, luôn luôn vẫn thấy, vẫn nghe người nói; nhưng người ở đây
chỉ là
giả tưởng, cái tôi trong tiểu thuyết, truyện ngắn là một tôi đeo mặt
nạ. Khác
hẳn cái tôi "bắt buộc", như chất khinh bạc, ở trong tuỳ bút Nguyễn
Tuân. Khi nào quá chán cái tôi khinh bạc, ông viết về những người đã
chết...
Linh Hồn của Biển
"Rồi
bỗng bạo dạn hơn, chị choàng qua, siết vòng tay
lại."
"Anh cũng đừng nghĩ quẩn quanh nữa. Em không giậïn anh
đâu. Em cũng... thương anh lắm!"
"... Xong rồi anh ạ... Vâng, lúc năm giờ sáng, trong
tay em..."
(Biển, truyện ngắn của Miêng).
Một
tác giả người Mỹ, trên tờ The New Yorker cho rằng, trong
thị trường sách, cũng như trong thị trường phim, có hai loại ăn khách
(hits):
sách ngủ (sleepers) và sách bom (blockbusters). Những tác giả như John
Grisham,
Tom Clancy hay Danielle Steel viết loại blockbusters. Sách của họ được
quảng
cáo rầm rộ, ngay từ khi chưa in; và khi in ra, chỉ trong vài ngày là
đứng đầu
bảng. Nhưng chỉ trong vài tuần lễ là từ từ nguội dần. Độc giả biết rất
rõ về
món hàng họ mua: tiểu thuyết Danielle Steel luôn luôn là tiểu thuyết
Danielle
Steel. Sleepers, những cuốn sách ngủ, số lượng bán ra không làm sao
biết được,
bởi vì nó cứ từ từ đến với bạn đọc, thường là qua một người bạn giới
thiệu (Bạn
đã đọc Biển của Miêng chưa?, đại khái vậy). Ở Mỹ, sleepers được bán ở
những tiệm
sách độc lập, những nơi mà khách hàng thường hỏi như vầy: (Mới đây, dạo
này),
có cuốn nào đọc được không?
Cá
nhân người viết lần đầu làm quen với Miêng, qua truyện
Biển, đăng trên Thế Kỷ 21. Đọc, chú ý, nhưng lại để đó, cho đến khi một
bạn văn
hỏi: đã đọc truyện đó chưa. Sau này anh bạn nghĩ, chính anh mới là
người làm
tôi chú ý đến một tác giả còn đang ngủ như Miêng.
Đây
là một kinh nghiệm hết sức cá nhân, và nó còn liên can
tới một cái tôi đáng ghét, nhưng cũng xin được viết ra.
Thời
gian ở Trại Cấm Thái Lan, người viết có tự dịch một
truyện ngắn, Bụi, và đưa cho một bà Mỹ làm thiện nguyện trong trại. Sau
khi
đọc, sửa cho đúng văn phạm, cú pháp, bà gửi cho một người quen, làm cố
vấn văn
chương cho một tạp chí ở Mỹ. Ông này trả lời: truyện ngắn không hẳn
truyện
ngắn, mà là một thứ "drama" (kịch). Ông phân tích giữa hai thể loại,
rồi yêu cầu: tôi cần ít nhất là 20 truyện ngắn như thế này, nếu muốn
lăng xê
tác giả. Một truyện ngắn mà đạt tới "drama" như trên, có khi chỉ nhờ
ăn may, nhờ sống ở Trại Cấm. Nó do Trại Cấm viết, chưa chắc của tác giả!
Khi
đọc Biển, có lẽ tôi đã có cùng một hoài nghi: mình cần
phải đọc chừng 20 truyện ngắn như vầy.
(Theo
tôi, còn rất nhiều người đã bỏ qua Biển: lại chuyện
vượt biển! Chỉ nội cái tên truyện, đã cho thấy, đây là một giấc ngủ
dài, sau
khi đã quá mệt mỏi.)
Vào
năm 1992, một người đàn bà có thời đã từng là một nữ
nghệ sĩ trình diễn tên là Rebecca Wells xuất bản một cuốn tiểu thuyết,
Little
Altars Everywhere, tại một nhà sách nhỏ, nay đã dẹp tiệm, tại Seattle.
Wells
thì vô danh, nhà sách thì không có tiền để quảng cáo. Tuy nhiên, bà có
một
người bạn, trải qua lễ Tạ Ơn với một người bạn, là người sản xuất
(producer),
của chương trình "All Things Considered" thuộc đài phát thanh
"National Public Radio". Ông này đọc cuốn sách, và chuyển qua cho
Linda Wertheimer, chủ nhân một chương trình TV. Linda khoái cuốn sách
quá, thế
là bà đưa Wells lên đài. Một thính giả ở Blytheville, Arkansas nghe
cuộc phỏng
vấn kể trên. Ông này lại có bà vợ tên là Mary Gay Shipley, chủ một tiệm
sách
trong thành phố. Ông chồng mua sách tặng vợ. Mary Gay quá mê nó. Thế là
Wells
tỉnh ngủ, cứ lên dần, và trở thành một tác giả có sách bán chạy nhất.
Nhà
văn người Nhật Kawabata, Nobel văn chương 1968, trong
bài mở đầu tập truyện "Những truyện ngắn ở trong lòng bàn tay", viết:
Những người viết, khi trẻ thường làm thơ. Tôi, thay vì làm thơ, viết
những truyện
trong lòng bàn tay.... Tinh thần thi ca những ngày trẻ thơ của tôi sống
mãi ở
trong chúng".
Biển,
của Miêng cũng thuộc loại truyện lòng tay. Đọc, tôi
nghĩ, ngoài tinh thần thi ca ra, còn có những giọt nước cam lồ nhỏ
xuống cho cả
một thế hệ: một người đàn bà khóc thương một người đàn ông mất trí nằm
trong
bệnh viện và trong những giờ phút cuối cùng, người đàn ông lầm vị nữ bồ
tát với
người vợ đã chết, cùng với con cái, trong lần vượt biển.
Lầm
lẫn, có lẽ không phải như vậy. Hoặc đây là giá trị biểu
kiến của truyện. Trong cuốn Chữ và Vật, Michel Foucault cho rằng người
điên,
hay Kẻ Khác (l'Autre), là một người nhìn tất cả sự vật đều giống nhau,
khác với
người bình thường, hay Kẻ Vẫn Thế (le Même). Cũng trong cuốn sách, ông
cho rằng
tự tử là phán đoán sáng suốt cuối cùng của một con
người bình thường.
Nếu
chúng ta chấp nhận hành động vượt biển như là phán đoán
sáng suốt sau cùng, như vậy người đàn ông sống sót trong khi vợ con
chết hết,
đã thực sự tin rằng người đàn bà đang nhỏ lệ là vợ của ông. Cũng tương
tự như
vậy - và đây là ý nghĩa đích thực của truyện ngắn theo tôi - "sự
thực" xuất hiện, khi người đàn bà gọi điện thoại cho chồng: "... Xong
rồi anh ạ... trong tay em".
Camus
có một truyện ngắn "Người đàn bà ngoại
tình", đêm đêm, sau khi làm xong hết bổn phận của người vợ, trong cuộc
lữ
của cả hai vợ chồng, đã len lén thoát ra ngoài, để ngắm trời ngắm
sao... Đây là
một đề tài lớn của dòng văn chương hiện sinh, theo tôi, thoát thai từ
truyện
ngắn "Before the Law", của Kafka.
Đây
là câu chuyện một người nhà quê ra tỉnh, tới trước
"Pháp Luật", tính vô coi cho biết, nhưng bị người lính gác cản lại.
"Anh vô được mà, nhưng đợi chút xíu nữa đi". Chờ hoài chở hủy, chút
xíu nữa đi hoá ra là cả một cuộc đời. Trước khi chết, anh nhà quê phều
phào
hỏi, tại sao chỉ có một mình anh tính vô chơi, coi cho biết; người lính
gác
nói: cửa này chỉ mở ra cho anh, tôi đứng đây, cũng chỉ vì anh; nhưng
bây giờ
anh đâu cần tới nữa, và tôi cũng xong bổn phận ở đây. Nói xong anh bỏ
đi.
Trong
truyện ngắn Evelyne của James Joyce, trong tập
"Những người dân thành phố Dublin", người lính của Kafka xuất hiện
qua anh chàng thuỷ thủ tầu viễn dương. Một người yêu thương, và có đủ
điều kiện
để đưa cô gái Evelyne tới một cuộc sống khác tốt đẹp hơn; nhưng tới giờ
phút
chót, cô gái quyết định "ở lại".
Truyện
ngắn Biển, của Miêng, bằng những tình cảm độ lượng
thoát thai từ tinh thần Phật giáo, theo tôi, đã đưa ra một đề nghị chót
cho vấn
nạn người đàn bà ngoại tình. Bằng hành động "trong tay em", người đàn
bà đã vượt quá "Luật Pháp", ôm cả hai cuộc đời, bên trong và bên
ngoài cánh cửa (lưu đầy và quê nhà?), nhập làm một.
Trong
bài Tựa cho tập truyện đầu tay, mới xuất bản của
Miêng, Nguyễn Nam Trân viết: "Tôi có cảm tưởng nhân vật của Miêng phần
lớn
mang một vết thương chưa lành, hay chưa biết bao giờ lên sẹo"... "
(Tác phẩm) ghi lại bao nỗi thăng trầm của những đời người trong đó có
bạn, có
tôi. Chúng mình vẫn là những kẻ sống sót của một thời máu lửa, và vẫn
còn là
nhân chứng của một thời hỗn mang, đến nay mỗi ngày vẫn còn như đi trên
dây xiếc
để giữ một thế quân bình cho tầm hồn".
Theo
tôi, kinh nghiệm của Miêng - như trong Biển, hoặc Nhân
Chứng - không có bạn có tôi ở trong đó. Tôi muốn nói nam giới. Nhân vật
của
Miêng lại càng không phải những kẻ sống sót sau một cuộc chiến. Kinh
nghiệm của
bà là về người đàn bà ngoại tình, về chuyện Vượt Cạn, về chuyện ôm lấy
người
đàn ông mất trí, thay vì người tình (người đàn ông Việt Nam lưu vong,
một vị
bác sĩ thành đạt nơi xứ người), như trong Nhân Chứng:
"Mẹ
tính đến để nói là muốn giữ lại với tonton tình bạn
êm đẹp. Và cũng để báo cho tonton biết là mẹ có bầu với tonton."
Nhân
vật chính trong truyện sau đó đã tự tử, khi khám phá ra
nhân cách của người tình. Nhân Chứng cũng làm chúng ta liên tưởng tới
người đàn
bà độc nhất tỏ mắt, không tên, trong thế giới "Mù Lòa" của Jose
Saramago, nhà văn Bồ Đào Nha, Nobel văn chương 1998. Rằng mù lòa ở đây
là một
bệnh lý học về lương tâm, hơn là một khuyết tật của mắt, hoặc của kính
đeo mắt.
Không phải chúng ta trở nên mù, mà là chúng ta mù, những người mù có
thể nhìn
nhưng không nhìn (I don't think we did go blind, I think we are blind,
I think
we are blind, blind but seeing, blind people who can see but do not
see). Tương
tự, "gì gì có vần "ương" theo sau mà chả là em" (Biển) gợi
nhớ những nhân vật không tên của Jose Saramago. Đây là viễn ảnh u tối
của tác
giả về nỗi cô đơn của con người hiện đại.
Ở
cuối Mù Lòa, một vài người lại nhìn được, và một người
trong số họ đưa ra nhận xét: kinh nghiệm dậy chúng ta một điều rằng,
chẳng hề
có người mù, chỉ có sự mù lòa.
Sự
thực, nói Miêng không phải là một kẻ sống sót sau cuộc
chiến, là chỉ muốn tách biệt hẳn bà ra khỏi cái dòng văn chương hải
ngoại vốn
vẫn cay đắng vì một Miền Nam thất trận, (có cả người viết, lẽ dĩ
nhiên!). Trong
một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí The Paris Review, khi được hỏi
những ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất vào công việc, tầm nhìn (vision), chuyện viết lách
của ông,
G. Steiner đã trả lời: "Đó là cái lò Frankfurt (school). Walter
Benjamin,
nếu còn sống, chắc chắn là người viết cuốn "Sau Hỗn Mang" (After
Babel, tác phẩm của G. Steiner) thực sự vĩ đại. Tôi luôn luôn bị ám ảnh
rằng
cuốn sách đúng ra phải là của ông, và nó sẽ tuyệt vời biết bao."
Đọc
Biển, tôi cũng bị ám ảnh bởi một cuốn Sau Hỗn Mang như
thế. Như thể bao nhiêu giọt nước mắt của người đàn bà ngoại tình nhỏ
xuống, là
để khóc than cho một tác phẩm vĩ đại:
Giả
sử, những người đã chết vẫn còn sống, cuộc phiêu lưu
trên biển cả chỉ là những chuyến ngao du, chẳng hề có hải tặc, hãm
hiếp, nhục
nhã, cay đắng...
Rằng
sau đó, tất cả mọi người Việt Nam lưu vong lại được trở
về nhà, trong vinh quang, trong hạnh phúc...
Người Mẹ trong tác phẩm Jamaica
Kincaid
Nhân
lễ Vu Lan năm nay (1999), xin giới thiệu ở đây, bài
phỏng vấn một nhà văn nữ nước ngoài: Jamaica Kincaid. Đề tài "ruột"
của bà, người mẹ: như nhân vật của một miền đất cựu thuộc địa, Antigua.
Hy
vọng qua hình tượng người mẹ của bà, chúng ta có được một
lời giải thích cho câu hỏi của nhân viên Cao Uỷ kể trên.
Bài
phỏng vấn do Eleanor Wachtel thực hiện (in trong More
Writers & Company, nhà xb Vintage Canada, 1997).
Tôi
làm quen lần đầu với Jamaica Kincaid trên tờ The New
Yorker: những câu chuyện mãnh liệt, cảm động về người con gái trẻ và bà
mẹ tại
Antigua, vùng Caribean Island. Một liên hệ thật căng
thẳng; chuyện tiếp chuyện, qua đó, Kincaid chỉ
ra sức mạnh, sự mong
manh của tình mẹ con, và cùng với nó là nỗi rối rắm sâu thẳm của riêng
bà.
Đề
tài mẹ và con gái chúng ta thường gặp, nhưng ở trong
những câu chuyện của Kincaid, nỗi ám ảnh, chất trữ tình, và cơn đau
buốt làm
cho chúng vỡ vụn ra. Như một cô gái trong một câu chuyện, nói về bà mẹ
ngoảnh
mặt đi (lấy đi lòng yêu thương trìu mến, withdrawal of affection):
"Trọn
mười năm của đoạn đời 19 tuổi, tôi đã khóc than đoạn cuối câu chuyện
tình, có
lẽ là mối tình thực sự trọn đời tôi hiểu được".
Những
câu chuyện lúc trưởng thành được nối kết thành một
tiểu thuyết nhan đề Annie John (1985), là một trong ba cuốn lọt vào
danh sách
chót của giải thưởng văn học quốc tế Ritz Hemingway Award. Cuốn tiếp,
Lucy
(1990) theo hóa thân của mình (her alter ego) lên New York, ở đây cô
giúp việc
cho một gia đình phóng khoáng. Kincaid cũng đã rời Antigua khi 17 tuổi
(vào năm
1966). Cô lớn lên trong một căn nhà không điện nước; cũng vậy, cô khởi
đầu bằng
cách đổi công sức ra làm để được nuôi ăn ở (au pair), tại New York. Như
Kincaid
mới đây tâm sự: Mọi điều tôi viết đều là tự truyện, một trăm phần trăm
(down to
the punctuation).
Bà
chọn bút hiệu Jamaica Kincaid khi bắt đầu tuổi đôi mươi.
Tên khai sinh là Elaine Potter Richardson, nhưng cô gái đã đổi đi, khi
bắt đầu
viết, bởi vì cô nghĩ rằng một cái tên mới sẽ giải phóng cho cô, để nói
những
điều sắc bén về những người chung quanh. Kincaid vẫn viết những điều
sắc bén,
nhưng bà không thèm để ý đến chuyẹn người khác nhận ra chính họ, qua
đó. Cuốn
mới nhất của bà, Tự thuật của Mẹ tôi (1996), được kể bởi cô gái 17,
Xuela
Claudette Richardson, tuy vẫn là những đề tài quen thuộc nhưng được đẩy
xa hơn,
qua chân dung một bà mẹ không khoan nhượng, thà chấm dứt đời mình, thay
vì một
cuộc đời nhiều ước lệ với đầy đủ tiện nghi.
Jamaica
Kincaid kết hôn với Allen Shawn, một nhà soạn nhạc,
và là con trai của người chủ bút đã quá cố của tờ The New Yorker,
William
Shawn. Bà kể, khi bắt đầu làm việc tại tờ báo này, bạn bè gặp gỡ trong
những
parties hỏi, làm sao có cái job đó; bà nói đùa: "Oh, cha tôi là chủ bút
tờ
báo". Hai vợ chồng và con cái sống tại Bennington, Vermont. Bà có viết
về
căn nhà, khu vườn, nghệ thuật làm vườn, vườn giao lưu văn hoá
(cross-cultural
gardens), vuờn lịch sử, trên tờ The New Yorker, sau được in thành sách
vào năm
1997.
Cuộc
phỏng vấn được thực hiện hai lần, đều qua điện thoại.
Lần đầu, Tháng Sáu, 1993, lần sau Tháng Hai, 1996. Qua cách bà trả lời,
đây
không chỉ là một người ăn nói thẳng thừng, mà còn như một người nào đó,
nói về
bất cứ một điều gì.
Wachtel:
Bà sống ở Mỹ nhiều hơn là sống ở Antigua, nhưng
kinh nghiệm viết đều từ đó mà ra, những kinh nghiệm đầu đời. Liệu có
thể nói:
bà có một cuộc sống Mỹ, và trí tưởng tượng Antigua?
Kincaid:
Bà có thể nói như vậy. Có vẻ như tôi có nhiều giá
trị để coi như là Mỹ; và thí dụ, ngay cả chuyện, tôi không ủng hộ Cuộc
Chiến
Vùng Vịnh - mà tôi không ủng hộ thực - tôi vẫn khoái hưởng những thành
quả của
cuộc chiến đó, như một người nào đã vì cuộc chiến. Bởi vậy, cứ giả dụ
như tôi
có một cuộc đời Mỹ, xấu cũng vậy, mà tốt cũng xong, và rồi tôi vẫn viết
về một
miền đất tôi từ đó tới. Nhưng tôi muốn nói, đây là một cuộc sống lưu
vong, ở
một nơi nào đó, và Mỹ là một nơi chốn tuyệt vời bạn "dừng bước giang
hồ", làm một kẻ ăn đậu ở nhờ. Bạn có thể sống trọn cuộc đời còn lại của
bạn ở đó, và vẫn là con người mà bạn đã là (remain the person you
were). Mỹ cho
phép bạn điều này. Thực sự không "chỉ có một căn cước Mỹ" tất cả mọi
người Mỹ cùng đồng ý. Ngoại lệ, là Bill of Rights. Nhưng đây không phải
là căn
cước. Nó là cái khung của tâm hồn, bất cứ ai cũng có, ở đâu cũng vậy
thôi.
Wachtel:
Điều bà nói khác với Mỹ như người ta thường nói:
một chốn hỗn cư, nơi trộn trạo đủ thứ người (a melting pot).
Kincaid:
Một huyền thoại, luôn luôn là vậy. Vả chăng khi nói
lò trộn, là để thành một Người Âu Châu. Một Người Mỹ gốc Anh. Nhưng
càng ngày
càng có nhiều người thách thức huyền thoại đó. Rằng nó hết còn quyến
rũ, và
thực sự nó không phải như vậy. Ngay cả chuyện tôi sống ở Mỹ, tôi có thể
đi bầu,
và làm đủ thứ chuyện người Mỹ có thể làm, tôi vẫn không cảm thấy mình
là Mỹ,
theo một cách nào đó. Tôi cảm thấy trên người tôi lằng nhằng đủ thứ đồ
Mỹ, như
củi rều hay một thứ gì ở biển.
Wachtel:
Như vậy bà là một lưu vong với những con ốc Mỹ bám
trên người.
Kincaid:
Đúng như vậy, với những con ốc Mỹ.
Wachtel:
Bà viết về làm vườn trên tờ The New Yorker - sau in
thành sách - Trong một bài, bà phân tích cách thức theo đó, hoa và cây
ở
Antigua phản ảnh lịch sử thuộc địa của vùng đất này, nhưng cùng lúc bà
thú nhận
thích thưởng thức hầu hết mọi mùa ở New England và trồng cây trong vườn
nhà ở
Vermont. Bà có cảm thấy một sự cân bằng giữa hai nơi chốn, giữa nhà quá
khứ và
nhà hiện tại?
Kincaid:
Cân bằng (balance) hàm chứa một cách hài lòng, thỏa
mãn. Không, tôi chẳng thấy cân bằng. Tôi sống cuộc sống trái ngược, mâu
thuẫn.
Tôi là một con người tới từ dưới đáy thế giới. Và bây giờ tôi thấy mình
đang ở
trên đỉnh thế giới, tôi lấy chỗ của tôi một cách thoải mái, không hối
tiếc ân
hận, và tôi hy vọng tôi (cũng) có một lương tâm, nhưng nó không đủ để
ngăn cấm
tôi xâm phạm quá phần chia ở trên đời. Tôi có quá nhiều thứ. Tôi lấn
lướt quá!
Tôi sống trong một căn nhà lớn, tôi có đất, có vườn, tôi trồng mọi thứ
theo
đúng phương pháp hữu cơ, và tôi tin chắc một trái cà tô mát của tôi giá
mười
đô, theo cách trồng như vậy. Tôi đang bàn tính với tôi, có nên trồng
những thức
ăn "diet" cho một số người da đỏ nghèo đói ở Peru. Nhưng tôi cứ thế
mà tiến, và làm đủ thứ ghê tởm. Tôi thích đời tôi; tôi chỉ mong có thêm
nhiều
hơn nữa.
Cân
bằng? Không, tôi hy vọng chẳng bao giờ có cân bằng. Tôi
nghi rằng nếu tôi quá nhiều cái gọi là cân bằng, điều tiếp theo đó, là
tôi sẽ
bỏ phiếu cho một người của đảng Cộng Hòa, hay một thứ tội phạm hình sự
giống
như thế! Không, tôi hoàn toàn mất cân bằng.
Wachtel:
Antigua xưa là thuộc địa nô lệ, và nó ở trong tay
người Anh cho tới năm 1981. Bà đã viết, rằng tính tình người Antigua đã
bị ảnh
hưởng, và được thừa hưởng từ người Anh, do chiến thắng của họ. Bà có
thể diễn
tả di sản tính tình đó.
Kincaid:
Tôi nghĩ tôi thuộc thế hệ cuối cùng bị ảnh hưởng.
Trong thế hệ của tôi, chúng tôi quá Anh, theo một cách nào đó, chắc
chắn là qua
văn chương, và chúng tôi nhìn thế giới không phải theo kiểu người Âu
Châu, mà
theo cách của người Anh. Di sản chiến thắng, chinh phục hầu hết là hình
dạng
của sự độc ác: không phải tình yêu, tình thân ái, lòng từ thiện, nhưng
sự độc
ác. Một phần của di sản đó, nằm trong cách con người ở đây bỏ rơi con
cái của
họ và tếch đi thẳng.
Wachtel:
Bỏ rơi con cái và tếch đi thẳng, như vậy nghĩa là
gì?
Kincaid:
Con người ở đây bỏ rơi con cái, đi làm việc ở
Canada hoặc ở Anh. Đây là đề tài khá ăn khách trong nhiều sáng tác -
không phải
của tôi, bởi vì tôi có một bà mẹ tuy không bình thường nhưng tôi biết
bà chẳng
bao giờ bỏ rơi tôi. Nhưng bỏ rơi con cái nở rộ trong văn chương và
trong đời
sống West Indian. Trong cuộc sống ở Antigua, họ cứ thế bỏ nhau, ngay cả
những
người mà bạn nghĩ họ yêu thương nhau, cũng anh đi đường anh, tôi đường
tôi. Di
sản là sự độc ác giữa những con người bình thường. Tôi có thể nói đây
là đúng
kiểu, cho tất cả mọi cuộc sống thuộc địa, hay hiện hữu thuộc địa.
(Người dịch
nhấn mạnh). Đó là di sản về cái điều: không thèm để ý đến bạn là ai,
bạn có thể
là ai, bởi thế, tất cả những điều mà bạn thường nghĩ tới như là văn hóa
- một
sự quan tâm giữa người này với người khác, hay bạn sống như thế nào...
- văn
hóa như thế thực sự chưa có. Nói ngắn gọn, độc ác là di sản của kinh
nghiệm
này.
Wachtel:
Tôi ngạc nhiên khi nghe như vậy, bởi vì thường ra,
khi viết về xã hội của riêng họ - độc lập so với chế độ thuộc địa -
người ta
thường tiểu thuyết hóa những con người của nó hơn là chỉ ra một điều gì
khó
chịu, không thoải mái, như sự độc ác chẳng hạn.
Kincaid:
Có như vậy, nhưng không thực, ít ra là theo kinh
nghiệm của riêng tôi. Bạn cứ tới những nơi chốn, nơi cái xiềng thuộc
địa thật
sự bằng thép, và tỏ ra hết sức hữu hiệu: Phi Châu, vùng Caribbean, hay
một nơi
nào khác trên địa cầu. Phi Châu là một thảm họa. Tôi không hiểu đất đai
con
người ở đây rồi có ngày lành mạnh trở lại, hay là không. Thật khó có
chuyện,
những ông chủ thuộc địa bỏ qua, không đụng tới cái phần tâm linh của
con người
Phi Châu. Bởi vậy, chuyện tiểu thuyết hóa là đồ dởm. Những người Phi
Châu đối
xử với nhau thật là độc ác; bạn chỉ việc nhìn tất cả những con người
đói khát
đó thì thấy. Làm sao có chuyện những ngài thủ lãnh Phi Châu nhìn vào
mặt con
dân của họ, và rớt nước mắt? Họ cứ tiếp tục duy trì, theo một con đường
tệ mạt
khốn kiếp, cái điều đã xẩy ra khi còn chế độ thuộc địa. Sự thực, là bất
cứ đâu
đâu, cái gọi là di sản của chủ nghĩa thuộc địa, đó là: độc ác, tàn
nhẫn, trộm
cướp. Cách những tên thực dân đối xử: mild way, nhẹ nhàng thôi, đôi lúc
có xoa
đầu những người dân cô lô nhần, bây giờ chúng ta đối xử với nhau, theo
một cách
cay độc hơn, khốn kiếp hơn. Và bạn biết không, chúng ta cứ mắm môi mắm
lợi, lấy
hết sức lực ra, full force, để mà "chơi" nhau. Bởi vậy, có thể dưới
luật thuộc địa, người Phi Châu ăn rất ít; dưới luật của người Phi Châu,
họ
chẳng ăn gì hết - và cứ như thế. Tại vùng West Indies, tình hình không
đến nỗi
quá tệ, con người ở đây cũng không bị cai trị một cách độc ác như ở Phi
Châu,
nhưng thật sự ra là chẳng còn chi để mà khai thác, bóc lột. Vậy mà sau
khi hết
chế độ thuộc địa, con người ở đây vẫn bị đối xử tàn tệ hơn trước. Có
những điều
con người ở đây được bảo đảm, thí dụ như
chế độ health care, học vấn, những gì mà bạn gọi là hạ tầng cơ sở...
chúng có
thực, tuy không bằng ở Anh. Dưới chế độ tự cai trị, chẳng còn gì hết.
Nhà
thương, nếu có, thì thật tệ, rất tệ. Tôi chưa hề thấy cảnh suy dinh
dưỡng,
thiếu ăn khi còn bé. Bây giờ có, ở Antigua. Bởi vậy chẳng có lý do gì
để mà
tiểu thuyết hóa (quê hương), ngoại trừ một điều: bạn cứ muốn nó tiếp
tục khốn
kiếp như vậy.
Wachtel:
Bà có thể nhớ lại, một sự kiện, một thời điểm đặc
biệt nào đó, lần thứ nhất trong đời, bà nhận ra, rồi chối từ di sản
thuộc địa.
Kincaid:
Tôi nhớ, và không hiểu tại sao, rằng "Rule
Britania" thật kỳ kỳ khi hát, vì những từ như vầy: "Britons never
shall be slaves" (Người Anh sẽ chẳng bao giờ là nô lệ). Tôi nhớ lại,
tôi
thấy nó kỳ kỳ, và đây là khởi đầu của một điều gì đó. Rồi còn cái
chuyện nàng
công chúa Princess Magaret viếng thăm vùng West Indies làm cỏ cây con
người ở
đây gần như phát rồ. Tất cả là do Hoàng gia không muốn nàng công chúa
quấn quít
bên một người đàn ông đã có vợ. Tôi nhớ cái cảnh mẹ tôi cứ cuống lên,
và khi
nàng công chúa tới, tôi bị bắt buộc phải trở thành một Brownie, hay một
thứ gì
đó. Tôi nghĩ đây đúng là lúc tôi bắt đầu nhận ra, có một cái gì sai.
Ngay từ
lúc tôi cảm thấy mình như là một con người, một cá nhân, là tôi có
những tình
cảm bài-thuộc địa, và rất bài-Anh (anti-Bristish feelings). Nhưng còn
một điều
"kỳ kỳ" nữa: ngôn ngữ độc nhất mà tôi có thể diễn tả điều đó, là
tiếng Anh, tức ngôn ngữ của những kẻ hành hạ tôi. Có một điều chi thật
tuyệt
vời, ở đây.
Wachtel:
Như những nhân vật của bà, Annie John và Lucy, bà
đã rời Antigua khi mười mấy tuổi, để kiếm đường vào đời; khi đó bà 17
tuổi. Bà
có cảm thấy đây là một cuộc trốn chạy?
Kincaid:
Không, bởi vì tôi không thể cáng đáng (handle) được
chuyện đó. Để nhận ra, đây là một cuộc trốn chạy, như vậy có nghĩa là,
tôi đã
biết được, chỗ mình muốn tới. Tôi muốn nói thêm ở đây, như vậy có
nghĩa, tôi đã
hiểu một điều gì đó về mình, mà tôi không thể chịu nổi một sự hiểu biết
như
thế. Bây giờ nhìn lại, nó là một cuộc trốn chạy, đúng như vậy. Như thể
tôi biết
rằng, thà chết còn hơn, nếu trở lại. Thế giới đầy rủi ro, bạn biết đấy.
Tôi tới
xứ sở này chẳng hề biết một ai, sống ở những nơi chốn cũng chẳng biết
một người
nào. Tôi quyết định trở thành một nhà văn, mà chẳng có gì lận lưng (no
credentials). Tôi cứ nhắm mắt mhắm mũi nắm lấy tất cả những cơ may vận
rủi như
thế, và chẳng cần biết rồi sẽ ra sao. Cái mà tôi không có, đó là tự ý
thức về
mình. Tôi không muốn biết cái điều tôi đang làm. Chính vì thế mà tôi
không muốn
biết, rằng tôi đang trốn chạy, bởi vì tôi không thể chịu nổi, tôi chỉ
có thể
hành động theo bản năng. Cứ thế húc đầu lao tới, nếu ngừng lại để suy
nghĩ, là
rơi xuống vực thẳm.
Wachtel:
Theo bà, tại sao lại như vậy?
Kincaid:
Đây là việc lớn. Quá lớn đối với một cô gái 17
tuổi, tôi nghĩ vậy. Tôi lớn lên với yêu thương, và mọi người đặt nhiều
tin
tưởng ở nơi tôi. Ai cũng giúp đỡ tôi, và tôi thấy nếu tôi rút ra, cuối
cùng là
tang tóc, hủy diệt. Tôi không thể mở miệng với bất cứ người nào, theo
cách như
tôi đang nói với bà bây giờ. Lại càng không thể nói với tôi. Ngay bây
giờ, khi
nhìn lại, đôi lúc tôi muốn xỉu, như thể ai đó đưa cho tôi coi tấm hình
một
người đang vượt qua thác Niagara Falls trên một sợi dây mỏng manh. Tôi
không
hiểu làm sao tôi hành động như vậy. Tôi không dám hiểu. Tôi không thể
đối mặt
với nó, để mà hiểu.
Wachtel:
Trong cuốn tiểu thuyết Lucy của bà, người kể chuyện
là một người đàn bà trẻ người Antigua, làm vú em cho một gia đình giầu
có người
Mỹ. Ở đây, có một ý nghĩa: người đàn bà đang lột da. Bà ta rời bỏ gia
đình, quê
hương, và nhận thấy mình đang bị tha hóa bởi những giá trị Mỹ trắng. Bà
có cảm
thấy ở giữa những căn cước, như Lucy?
Kincaid:
Một kinh nghiệm như thế thật nhức nhối, và tôi phải
nói, tôi không phân biệt giữa Mỹ trắng và Mỹ đen. Tôi có thể phân biệt
giữa đặc
quyền và quyền lực, giữa không đặc quyền và không quyền lực (no
privilege and
no power). Những từ Mỹ trắng Mỹ đen không phải là những từ đúng để diễn
tả
chuyện gì đang xẩy ra. Mầu da sau cùng không quan trọng. Theo tôi,
không có
những điều như là giá trị trắng, hay giá trị đen: người ta làm điều họ
có thể
làm, khi có thể. Trong Lucy, không một lần, những từ "trắng" hay
"đen" được sử dụng để xác định mầu da. Đối với một người như Lucy,
với một nền tảng như thế, sẽ là sai lầm nếu ý thức về mầu da, nhưng lại
không
sai lầm khi ý thức về quyền lực bất đồng đều
Wachtel:
Đúng thế. Có một xen trong truyện, khi Lucy đi du
lịch với người chủ trên xe lửa, và cô nhận xét: tất cả những người trên
toa xe
ăn đều giống như người chủ và bà con của người đó; tất cả những người
phục vụ
họ đều giống như cô, và bà con của cô.
Kincaid:
Tôi nghĩ, người ta nói giá trị trắng (white values)
theo nghĩa vật chất (material things). Tôi chẳng thấy có gì sai trái
nếu có một
cái tủ lạnh thật ngon - tôi hiện đang có một cái. Và tôi không ủng hộ
những
phương tiện có nó bằng cách đàn áp người khác trên thế giới, nhưng một
khi
chúng ta thành công trong việc làm đó, tôi chỉ còn việc bật nó lên,
khoan khoái
hưởng cái phần chia của mình.
Tôi
thực sự không quan tâm về mầu da. Khi bạn bắt đầu nghĩ
về nó, lập tức cái đầu của bạn bị loãng ra và không còn biết đâu là
giải pháp
thực (real issue) của vấn đề. Bởi vì khi bạn nói về mầu da (race), thực
chất
bạn đang nói về chuyện: có một nhóm người có quyền lực đang "bảo vệ"
ý tưởng mầu da, và có một nhóm người có không quyền lực phải "chấp
nhận" ý tưởng đó. Nhưng thường ra, khi bạn thức giấc, bước ra khỏi
giường
ngủ, việc đầu tiên tới với bạn chắc chắn không phải là mầu da của tôi.
Việc đầu
tiên bạn nghĩ tới, chắc là một cảm giác chán ngán về cái nóng cái lạnh
của thế
giới chung quanh. Chán quá! Chịu không
nổi! Đó là cảm giác đầu tiên, khi bước ra khỏi giường, ở bất cứ hoàn
cảnh nào.
Thành thử, ngoại trừ cái đầu của bạn bị trục trặc, điều đầu tiên bạn
nghĩ đến
đâu phải là vấn đề mầu da. Bạn nghĩ đến cái thân phận con người, làm
sao nó
khốn khổ, cực nhọc như vậy...
Wachtel:
Nhưng có thể, điều thứ nhì, thứ ba mà bà bắt buộc
phải nghĩ tới, là mầu da của bà.
Kincaid:
Well, "giờ phút của sự thực":"bắt
buộc" phải nghĩ tới. Trong cõi "chuyện thường ngày ở huyện", cõi
đời thường, bạn không nghĩ về nó. Trong cõi mà tôi lớn lên, nó là đời
thường:
mọi người đều đen. Với tôi, "đen" là đời thường. Bây giờ, tôi sống ở
một nơi chốn gần như hầu hết mọi người không đen, nhưng, kể từ khi họ
không
nhắc nhở gì đến chuyện đen của tôi, tôi không nói gì đến chuyện họ
không đen,
(và thế là)ø tôi quên: rằng chúng tôi khác nhau. Có thể, khi nhìn thấy
tôi, họ
nghĩ ở trong đầu: "Boy, con bé đen", nhưng họ không nói ra, thế là
tôi quên béng chuyện đó.
Tôi
luôn luôn sững sờ về điều: chuyện gì sẽ xẩy ra cho những
người Phi Châu, nếu họ không chấp nhận những niềm tin (beliefs) của
những kẻ đã
chiến thắng họ. Ngay cả một điều giản dị, thí dụ như, ai làm (ra) bạn?
(who
made you): nó là một khí giới. Khi người ta nói, người đó quá chính
trị, có
nghĩa là người đó quá để ý đến chuyện
mỗi ngày.
Trở
lại với vấn đề: chuyện gì sẽ xẩy ra với những người Phi
Châu ở đây nếu họ không tin vào Ky-tô giáo, nếu họ cứ giữ mãi cảm quan
về thực
tại của họ, và đòi quyền hiện hữu của nó.
Wachtel:
Nhưng đâu phải chuyện nào cũng giống như chuyện
nào; điều có thể xẩy ra, sẽ xẩy ra.
Kincaid:
Tôi thực sự không hiểu, nhưng tôi nghĩ hoài đến
chuyện đó. Lẽ dĩ nhiên, còn có những người Do-thái vẫn tiếp tục tin vào
những
điều họ đã tin tưởng. Như vậy rồi sẽ ra sao? Tôi không biết. Tất cả
chúng ta
đều đi tới một câu đố: làm sao sống, sống thế nào (how to live). Thật
là một
điều lớn lao khi nhìn thấy những con người bạn làm nhục, đánh bại, huỷ
diệt, họ
trở nên có cùng một niềm tin như bạn, về tha thứ và cứu chuộc. Thật là
tuyệt
vời!
Wachtel:
Nhân vật Lucy đã tỏ ra thật lạnh lùng, tàn nhẫn, khi
cố tạo một căn cước cho riêng mình. Cô không để cho quá khứ đánh gục,
không cần
đến gia đình bạn bè, hay người yêu: nói theo nghĩa đen, cô ta đã không
trả lời
thư từ của chính người mẹ của cô. Liệu như vậy là cần thiết, để có được
tự do,
cho chính mình (to free oneself)?
Kincaid:
Tôi nghĩ đúng như vậy. Ngoại trừ bạn muốn là một vị
thánh. Tôi không nghĩ người ta cứ phải tiếp tục sống trọn đời, chỉ một
cách
sống. Và cách sống như trên có thể hiểu được, và tha thứ được, khi bạn
còn trẻ.
Nếu bạn cứ tiếp tục sống như thế, rồi sẽ một ngày nó phản lại bạn,
nhưng nó
thật hữu ích, lúc bắt đầu đời mình; ít ra đây là kinh nghiệm riêng của
tôi.
Wachtel:
Đó là điều bà cảm thấy phải làm?
Kincaid:
Vâng. Tôi cảm thấy phải lạnh lùng tàn nhẫn để chiếm
riêng cho mình một không gian. Nhưng điều này không còn thực nữa. Thật
thê thảm
nếu cứ sống mãi như thế.
Wachtel:
Ngay cả bây giờ, khi nghe bà nói, tôi vẫn còn cảm
thấy hơi bị "sốc", rằng có một cái gì thái quá ở đây.
Kincaid:
Well, nó làm sốc, nhưng thực. Tôi cố gắng trung
thực với hồi ức, và với chính tôi, như là tôi có thể.
Wachtel:
Bà sinh ra với tên Elaine Potter Richardson, hai
chục năm trước đây, bà chọn tên Jamaica Kincaid, tại sao bà đã chọn tên
đó?
Kincaid:
Tôi muốn viết văn, và tôi sẽ nói những điều tàn bạo
về chính tôi, và gia đình tôi, và tôi không muốn họ biết (tôi là người
viết).
Nhưng lẽ dĩ nhiên là họ nhận ra ngay chính họ, không cần tôi phải nói
ra. Họ
nói: Phải chăng Elaine? Thế là tôi đổi luôn tên theo đúng pháp luật.
Thật kỳ kỳ
khi nghe chính mình nói với mình, như là Elaine. Tôi luôn luôn cảm thấy
rùng
mình mỗi lần gặp một người có tên đó. Tôi không thể tưởng tượng, đó là
một con
người dễ chịu (a nice person).
Wachtel:
Làm sao bà kiếm ra tên Jamaica Kincaid?
Kincaid:
Qua thí nghiệm, như chuyện xẩy ra ở trong văn
chương. Tôi đang cùng một số bạn bè quây quần, trò chuyện, gọi nhau
bằng đủ thứ
tên khác nhau. Tôi nghĩ đến cái tên đó, và nói: Đây là tên tớ. Còn
những cách
giải thích khác nữa, liên can tới những hòn đảo, nhưng cái tên đã bám
lấy tôi.
Bạn biết đấy, nó còn có nghĩa là Mỹ. Thế là từ đó bạn bè gọi tôi như
vậy. Chẳng
ai nhắc nhở với tôi về nó, họ cứ thế chấp nhận. Nó là Mỹ: bạn chỉ tự
bịa đặt
ra, chính bạn.
Wachtel:
Giọng nói trong tác phẩm của bà, trong Annie John,
trong Lucy, và trong những tác phẩm không phải giả tưởng (non-fiction),
nó thật
là rõ rệt, thật là phân biệt (distintive). Mạnh, mang chất thơ, và độ
chân
thành (honesty) gần như không hề qua kiểm duyệt. Tôi nghĩ Susan Sontag
đã có
nói về tính thực xúc cảm (emotional truthfulness) trong giọng nói của
bà. Làm
sao nó bật ra, ở trong bà?
Kincaid:
Tôi mong tôi hiểu (nó là như vậy). Nó thực đối với
tôi, như tôi đang chân thành, lúc này. Tôi nghĩ trong đời, tôi đã học
được một
điều gì đó, về sự tủi hổ, nhục nhã. Tôi nghĩ nếu bạn cảm thấy nhục nhã
về một
điều gì, bạn phải nói ra, nếu không, người khác sẽ dựa vào đó, để hiếp
đáp bạn.
Ở đây, lại thấy ám ảnh về vấn đề có quyền lực hay không có quyền lực.
Tôi cứ
lục lọi trong tôi, về những điều mà tôi sẽ cảm thấy nhục nhã, và rồi
nói chúng
ra.
Wachtel:
Thật là thú vị, bởi vì trong Annie John, có một
đoạn, cô gái đang viết luận ở trường, và cô lược bỏ nó, bởi vì cô không
chịu
nổi chuyện đưa cho mẹ coi trong một tình huống bất thuận lợi, không
muốn bất cứ
ai có nhận xét không tốt về bản thân cô. Cô gái giữ lại cái điều mà bà
- như là
tác giả của cuốn sách - sửa soạn nói ra.
Wachtel:
Có thể cô không muốn người khác nhìn thấy, nhưng
"cô nhìn thấy" nó. Trong giả tưởng tôi nói ra mọi chuyện. Đôi lúc,
chính tôi ngạc nhiên về một số điều ở trong đó. Trong một vài điều tôi
đang
viết, tôi nói thẳng thừng về gia đình tôi, về chồng tôi. Anh đọc tất cả
những
gì tôi viết, và nói: "Oh, darling, em chắc chắn muốn nói ra điều
này?". Nhưng tôi là như vậy, luôn nói thẳng. Có những điều thật sự
riêng
tư, những bí mật gia đình, nhưng khi rời bàn viết, tôi không còn là
người đó
nữa. Tôi đâu có cà kê dê ngỗng về mình, ở bất cứ chỗ nào. Tôi cố gắng
viết
những điều đã xẩy ra cho tôi. Tôi nghĩ, khi còn là một đứa trẻ tôi đã
đau khổ
rất nhiều về sự nhục nhã. Lớn tuổi, tôi bắt đầu cảm thấy nhục nhã về di
sản của
tôi, về cuộc sống gia đình. Tôi được biết cha tôi không phải là cha
tôi, tôi
phải hiểu điều đó, nhưng tôi đã không hiểu, vì như thế nhục nhã quá.
Bởi vậy,
bây giờ tôi viết hết những điều đó ra.
Wachtel:
Chúng ta đã nói ở trên, chuyện cô gái Lucy và sự
cần thiết phải có sự độc lập tình cảm của cô. Trong hầu hết những tiểu
thuyết
của bà, những tình cảm mãnh liệt nhất, về yêu thương và thù hận, đều
xoáy vào
liên hệ giữa người mẹ và cô con gái. Làm sao giữ mãi được như thế?
Kincaid:
Càng lớn lên, ảnh hưởng giữa mẹ tôi và tôi càng
giảm dần dần, và tôi nghĩ, đó là do tôi cũng trở nên một bà mẹ. Tôi có
những lo
toan khác, chồng và hai con, không còn chỗ cho mẹ tôi và tôi nữa.
Wachtel:
Cách bà tả liên hệ với bà mẹ, như được trộn lẫn, và
tự quay quanh nó. Khởi thuỷ giống như ở Thiên đàng, rồi bị đẩy ra, rồi
có thù
hận khủng khiếp, có ước mong nhìn thấy bà chết. Liệu bà có lo, mọi
chuyện lại
tiếp diễn giữa con gái, và bà?
Kincaid:
Tôi chẳng lo gì hết. Những tình cảm hận thù với mẹ
của tôi là do một số sự kiện mà ra. Nhưng còn một điều khác nữa, đó là
vấn đề
liên quan đến tâm lý con người. Tôi đọc Paradise Lost ngay từ khi còn
nhỏ, và
nhập ngay vào một với Satan. Gần như mọi chuyện của tôi là bắt đầu bằng
thiên
đàng, rồi bị tống ra khỏi, hết đường trở lại. Có thể, nếu hồi nhỏ, tôi
đọc một
thứ hoàn toàn khác hẳn với Paradise Lost, tôi sẽ có những mẫu mã khác.
Còn một
điều này nữa, khi bị điểm xấu, cô giáo bắt tôi chép phạt, lại vẫn những
dòng từ
Paradise Lost.
Wachtel:
Bà đã không gặp mẹ trong 19 năm, sau khi rời nhà.
Khi trở về, bà là một người khác, bà thấy sao?
Kincaid:
Tôi có già đi, nhưng đâu khác hẳn. Nếu không có con
cái, có thể tôi không gặp lại mẹ tôi. Tôi không muốn lập lại những lỗi
lầm. Rời
Antigua lần đầu tiên, tôi nặng 130 pounds, và khi trở về gặp mẹ, tôi
nặng 170
pounds, cộng thêm hai cuốn sách. Những tôi đâu có khác biệt hẳn. Thời
gian lúc
đó, và bây giờ là một chuyện đáng nói nữa. Bây giờ tôi không còn là con
gái của
mẹ tôi nữa, thực sự như vậy.
Wachtel:
Dòng cuối truyện Annie John, là lời người mẹ nói:
"Con đi đâu, con làm gì, cũng vậy thôi. Mẹ vẫn luôn luôn là mẹ của con,
và
nhà vẫn luôn luôn là nhà của con".
Kincaid:
Đúng là một điều thật đễ thương mà một đứa bé thích
nghe. Bạn không bao giờ được ruồng rẫy con nhưng bạn phải cho con được
quyền
ruồng rẫy bạn.
Tahar ben Jelloun:
Nhà văn không phải là một ông chủ tiệm.
(A writer is not a
shopkeeper).
Câu
trên của Tahar ben Jelloun, người Marốc, viết văn bằng
tiếng Pháp, trong một cuộc phỏng vấn trên tờ Điểm Sách Paris, số Mùa
Thu 1999
Ông
hiện nay là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất ở
Pháp. Cuốn sách “Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc được giải thích cho con
gái của
tôi” (Le Racisme expliqué à ma fille, Racism explained to My Daughter),
là một
best-seller. Đêm Thiêng, La Nuit Sacrée, được giải Goncourt 1987, là
cuốn tiểu
thuyết đầu tiên của một nhà văn Ả rập được vinh dự này. Tên ông có
trong danh
sách chót của giải Nobel văn chương trong hai năm vừa qua.
Ông
sinh tại Fez, Morocco (Marốc). Gia đình ba trai, một
gái, sống tại một căn phòng nhỏ, trong khu vực mang dấu vết thời trung
cổ đẹp
nhất thành phố. Cha là chủ tiệm bazzar, sau chuyển qua thợ may, sản
xuất những
chiếc áo dài dành cho đàn ông Ả rập (djellabas).
Năm
tuổi, ông vào một trường học dậy kinh Koran, nơi ông
phải nhớ và học thuộc lòng những dòng kinh trên. Hai năm sau, chuyển
qua trường
Ả rập-Pháp, học tiếng Pháp buổi sáng, và buổi chiều, tiếng Ả rập. Một
học sinh
chăm chỉ, nghiêm túc: Ngay từ nhỏ, tôi đã cảm nhận cái trách nhiệm phải
đứng
bằng đôi chân của mình (Very early, I felt the responsibility of
standing on my
own feet). Sau đó ông học triết tại Đại học Rabat.
Vào
năm 1971, 26 tuổi, ông di cư qua Pháp, hoàn tất việc học
tại đại học Sorbonne. Sau đó, làm nghề chuyên viên tâm thần ở Paris.
Cuốn tiểu
thuyết đầu tiên của ông, “Harrouda”, xuất bản năm 1973. Tiếp theo là 9
cuốn
tiểu thuyết, và vài tập truyện ngắn, thơ ca, và tiểu luận. Ông có lẽ
được biết
đến nhiều nhất, qua tiểu thuyết bộ ba (trilogy) viết về cuộc đời của
Ahmed/Zahra, một cô gái mà người cha, vì quá thất vọng không có một đứa
con
trai nối dõi tông đường, đã nuôi dậy cô bé như là một con trai: The
Sand Child
(L’enfant de sable, Đứa trẻ cát), một best-seller ở Pháp; Đêm Thiêng,
và cuốn
vừa mới xuất bản La Nuit de l’erreur (Đêm Lầm, bản tiếng Anh, The Wrong
Night
sắp xuất bản).
Dưới
đây là chuyển ngữ cuộc phỏng vấn, được thực hiện tại
văn phòng của ông ở khu St-Germain des-Prés, gần ngay bên nhà xuất bản
Seuil,
và quán Café de Flore, nơi ông thường ngồi với bạn bè.
Người
phỏng vấn: Ông sinh ra, và được nuôi nấng như là một
người Marốc. Tiếng nói mẹ đẻ của ông là Ả rập, tuy nhiên, ông chọn viết
văn
bằng tiếng Pháp. Cho phép tôi được hỏi: tại sao?
Tahar
ben Jelloun: Sự thực, tôi song ngữ. Ngôn ngữ đầu tiên,
Ả rập; nhưng sau đó tôi học một trường song ngữ. Khi khởi sự viết, như
là một
anh chàng thanh niên không tham vọng văn chương, tôi cảm thấy hạnh phúc
làm
điều này, với tiếng Pháp. Vào thời điểm đó, nó không phải là một “chọn
lựa”
mang tính ý thức.
-Có
thể là do ông đọc nhiều tác giả Pháp hơn tác giả Ả rập?
-Có
thể. Nhưng còn do tôi coi tiếng Ả rập là “cây nhà lá
vườn”, chẳng bao giờ mất, nên đâu cần phải mất công với nó. Một cách vô
thức,
tôi cho rằng, phải đầu tư hết nghị lực vào một ngôn ngữ ngoại. Nó hầu
như còn
là một thách đố, một cú thúc vào đít. Vào lúc hai mươi tuổi, tôi bắt
đầu mê
viết, và cứ thế “chơi” luôn tiếng Tây. Những nhà trí thức trong thế
giới Ả rập
đã chỉ trích tôi, đôi khi thật dữ dằn, vì đã không viết bằng tiếng Ả
rập. Thật
đau cho tôi. Thường ra, động cơ chỉ trích thật đáng ngờ.
-Chắc
chắn là, sau khi ông được (giải thưởng văn chương
Pháp) Goncourt, còn có sự thèm muốn xen vô nữa?
-Có
thể. Nhưng câu trả lời là: tôi viết bằng một ngôn ngữ mà
tôi có thể làm chủ một cách diệu nghệ. Một bản văn, bài đọc (lecture)
bằng
tiếng Ả rập, được thôi, nhưng tiểu thuyết, là phải tiếng Tây. Bởi vậy,
vì kính
trọng tiếng mẹ đẻ cho nên tôi không được quyền “tàn sát” nó.
-Ả
rập là một ngôn ngữ rất giầu có, uyển chuyển: chỉ với một
từ gốc gồm hai hoặc ba phụ âm, người ta có thể xây dựng cả một tự vựng
nào
nghĩa đen nghĩa bóng, nào hoa lá cành. Một tiếng nói đã sản xuất ra thơ
ca lớn,
văn xuôi lớn. Trên tất cả, đây còn là một ngôn ngữ thiêng, như ngôn ngữ
Hebrew
– Thượng Đế đã nói bằng ngôn ngữ này. Vậy thì, như ông nói, đây không
phải là
thứ ngôn ngữ để giỡn chơi, hoặc coi thường. Ông đã học nó ở trường lớp?
-Tại
trung học, chúng tôi học những tác phẩm cổ điển Ả rập.
Tôi bị cuốn hút bởi sự giầu có và tinh tế của nó, khi tôi bắt đầu dịch
thuật.
Do làm chuyện này, tôi lại càng cảm thấy chớ có “táy máy” với nó. Như
ông biết
đấy, vì là một ngôn ngữ thiêng, được Thượng Đế ban cho qua bộ kinh
Koran, con
người cảm thấy kinh ngạc, sợ hãi, thấy mình nhỏ bé trước ngôn ngữ này.
Adonis,
một nhà thơ lớn người Lebanon, có lần nói với tôi: tiếng Ả rập chưa
từng gặp
một nhà văn nào mạnh hơn nó, đủ khả năng khuất phục nó. Người ta nói về
tiếng
Anh như là ngôn ngữ của Shakespeare, tiếng Ý, tiếng của Dante, nhưng
đừng nói Ả
rập là ngôn ngữ của al-Ghazali – nó luôn luôn là ngôn ngữ của kinh
Koran. Táy
máy với nó là mang tội (one would feel almost guilty manipulating it).
-Nhưng
biết đâu, người ta viết bằng tiếng Tây, hay tiếng
Anh, là để có lắm người đọc?
-Đây
là do tình hình chính trị, một hình ảnh xấu về thế giới
Ả rập. Nó ảnh hưởng tới sự phát triển văn hóa Ả rập. Thật bất công
(unfair) –
có rất nhiều nhà thơ, nhà văn lớn Ả rập chưa được biết tới. Như thể văn
hóa của
một xứ sở tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế-chính trị. Hiện nay, Ả rập
được coi
là tiếng nói của hai trăm triệu con người. Tiếng Ba tư là cả một nền
thi ca
lớn. Cả hai trở thành những ngôn ngữ thiểu số. Hiện tại Tây phương ngó
về Viễn
Đông, và bỗng nhiên, mọi người khám phá ra những nền văn hóa Nhật bản,
Trung
quốc. Thật khó mà thay đổi được tình trạng này, một khi mà hình ảnh
những xứ sở
Ả rập còn đục ngầu vì chính trị; văn hoá Ả rập sẽ còn đau khổ vì những
hậu quả
trên.
-(Nhà
văn người Mỹ gốc Do thái) John Updike có lần nói với
tôi, khi tới Ai cập, ông đã gặp những nhà văn tuyệt vời mà hoàn toàn vô
danh
đối với Tây Phương – đây là trước khi Naguib Mahfouz được Nobel văn
chương –
trong khi đó, ông ta hay một tác giả dòng Anglo-Saxon vừa mới hỉ mũi
một cái,
thế là thiên hạ xúm lại chuyển ngữ, nghiên cứu, phê bình nghị luận loạn
cả lên,
bằng cả chục thứ ngôn ngữ trên thế giới.
-Văn
hóa Tây phương được quan tâm nhiều hơn, và không đảo
lại được. Tôi có thể làm một bài đọc về Faulkner ở Mỹ, như bất kỳ một
nhà trí
thức nào trong thế giới Ả rập; chẳng ai kinh ngạc về chuyện này. Trong
khi đó,
sự hiểu biết ở Tây phương về những nhà văn của chúng tôi thật ít ỏi,
hạn hẹp ở
một số nhà chuyên môn được gọi là Những nhà Đông phương học. Tôi hy
vọng, một
ngày nào đó, tình trạng này sẽ thay đổi, và chẳng bao lâu nữa, kho tàng
giầu có
là những nền văn chương Ả rập và Ba tư sẽ được khám phá tại bất cứ nơi
nào trên
thế giới, vì lợi ích của nhân loại.
-Tôi
cũng hy vọng như ông. Nhưng có thể tôi và ông quá lạc
quan. Ông có nghĩ rằng, một khi viết bằng tiếng Ả rập, những tác phẩm
của ông
sẽ khác đi?
-Lẽ
dĩ nhiên. Bởi vì ngôn ngữ chẳng những là một dụng cụ, nó
còn là cả một bộ những cơ chế tinh thần, như mớ hành trang lỉnh kỉnh mà
con
người mang theo cùng với mình suốt cuộc lữ. Văn hóa tiếng Tây phát
triển hơn
văn hóa tiếng Ả rập. Vả chăng, như tôi đã nói, Ả rập là một ngôn ngữ
thiêng,
những tác giả Ả rập kính sợ, và họ không thể sử dụng bạo lực chống lại
nó.
-Những
tác phẩm sẽ khác đi, chẳng hạn như thế nào?
-Hãy
bắt đầu bằng đề tài: có những điều tôi không thể đụng
vô, nếu viết bằng tiếng Ả rập, thí dụ như dục tính, hay phê bình cách
xử sự của
nhân vật, nếu nó liên can tới tôn giáo. Chi ly từng chi tiết không hiểu
sao,
nhưng sẽ có nhiều cấm kỵ.
-Còn
dục tính, ông sẽ “tiếp cận” bằng đủ mọi cách?
-Có
những bản văn huê tình (erotic) quan trọng trong văn
chương cổ điển Ả rập thế kỷ 14, 15, thí dụ như The Scented Meadow (tạm
dịch
Hương Đồng Nội Cỏ), của nhà văn Shaykh Naszawi (thế kỷ 14); đây là một
Kamasutra của thế giới Ả rập. Tôi có thể viết theo cùng một mạch. Nhưng
một khi
viết, khó mà biết được “một trăm phần trăm” ngòi bút sẽ dẫn dắt bạn tới
đâu –
có những chuyện xẩy ra một cách tự nhiên; bởi vậy, tôi cho rằng, nếu
làm chủ
được ngôn ngữ, tôi có thể đề cập tới dục tính bằng tiếng Ả rập, nhưng
điều này
ngoài sức tôi.
-Có
Kama-sutra của Ấn, có thi ca huê tình của những nhà thơ
Ả rập, thí dụ như nhà thơ Abu Nawas. Nhưng những diễn tả phòng the xê
dịch
(differ) giữa những nền văn hóa và những ngôn ngữ. Văn chương phòng the
Ả rập
khác với của chúng tôi theo cách nào?
-Tôi
nghĩ quan niệm về huê tình của Đông phương rộng hơn, và
tinh tế hơn, so với của Tây phương. Thí dụ như, trong Ngàn Lẻ Một Đêm
có một
“mảnh quần hồng quan trọng” (an important erotic element), nó là một
trong
những chìa khóa để hiểu Đông phương. Nhưng hiện nay có vẻ như người ta
e dè vấn
đề này, trong thế giới Ả rập, như thể họ sợ gây sốc, và đây là hậu quả
của chủ
nghĩa chính thống (fundamentalism).
-Nếu
ông sống ở Bắc Phi và viết bằng tiếng Ả rập, ông sẽ
viết lách ra sao, trong khí hậu chính thống đó?
-Sẽ
không thể viết, về bất cứ điều gì. Đó là tự sát. Chủ
nghĩa chính thống chống lại tự do nói chung, và tự do đối với một nhà
văn không
chỉ là tự do ngồi xuống ghế và viết, nhưng còn là tự do tư tưởng, thoải
mái nói
về chính mình. Bởi vậy, tôi nghĩ, một xã hội chính thống chẳng đẻ ra
một thứ
gì, ngoại trừ sự câm nín, hay là văn chương chống đối, viết từ lưu vong.
-Ông
khởi sự viết, trước tiên với thơ, vào năm nào?
-Thời
điểm viết “nghiêm túc”, là khi tôi ở đại học, 22 tuổi,
học triết. Chương trình học như Sorbonne. Vào năm 1966 tôi bị bắt cùng
trên
trăm sinh viên khác, do hoạt động chính trị Tả phái, lẽ dĩ nhiên, như
bất cứ
người nào trong thời kỳ đó. Thay vì tống vào tù, nhà nước bắt tụi tôi
đi quân
dịch (nghĩa vụ quốc gia, national service), trước đó trong nước chưa hề
có chế
độ quân dịch. Thế là tập tành, hít đất hít cát, quân trường đổ mồ hôi
như mọi
tân binh khác, nhưng đây là một trừng phạt; nó gây sốc và tôi phản ứng
lại bằng
một “trường ca” viết lén lút. Sau 18 tháng, được thả, tôi nghĩ, có lẽ
mình nên
“công bố” bài trường ca viết trong “tù”, bởi vì đây chính là “bổn phận”
của
người trí thức, phải “chuyển tải” (transmit) một kinh nghiệm như thế!
Bài thơ
được in trên báo Soufle, (Hơi thở), của Abdellatif Laabi, một thi sĩ
Marốc. Bài
thơ được nhiều người khen ngợi, và tôi cảm thấy đây là một khích lệ đến
từ phía
độc giả. Nếu bài thơ bị chê, có lẽ tôi quẳng bút, cũng nên. Phản ứng
của công
chúng đối với một tác phẩm mới ra lò của một nhà văn “lần đầu tiên
trình làng”,
là rất quan trọng.
Sau
khi tốt nghiệp đại học, tôi làm giáo sư trung học, môn
triết, trong ba năm, trước ở Tétouan và sau đó ở Casablanca. Vào năm
1971, tình
hình chính trị ở Marốc trở nên bất ổn – đảo chính, rồi lại có tin sắp
đảo chính
– tôi có ý định nghỉ dậy học, học tiếp lấy bằng tiến sĩ. Tới Paris, vô
Sorbonne, nhờ một khoản trợ cấp (grant). Tôi nhập vô một môi trường
thuận lợi.
Pháp là một nước hiếu khách, thật khó mà tưởng tượng không khí những
ngày này.
Dân chúng không bị khiếp sợ bởi làn sóng di dân như bây giờ. Ngay cả
tôi cũng
thấy ớn, mỗi lần đang đi phố bất thình lình đụng một người lạ, thường
vẫn là
một câu trao đổi niềm nở, nhưng đôi khi bị phang một câu: “Cút về nhà
mày đi,
đồ di dân dơ dáy”, hay một câu tục tĩu khác.
Tại
Paris tôi gặp được những người đã giúp tôi tận tình. Thí
dụ, tôi trở thành bạn với chủ bút tờ Thế Giới; ông yêu cầu tôi viết về
vấn đề
di dân, và về văn hóa Ả rập nói chung. Cùng lúc đó, tôi khởi sự viết
cuốn tiểu
thuyết đầu tay, Harrouda. Tôi đưa nó cho Maurice Nadeau, ở nhà xuất bản
Denoel.
Ông rất chú ý tới việc xuất bản những tác phẩm văn chương ngoại. Những
tác phẩm
tới từ “không đâu”, và “mới”; ông chịu nó. Tôi khởi đầu là như vậy.
-Ông
đã xuất bản một tập tho trước cuốn tiểu thuyết đầu tay?
-Vâng.
Bữa đó, tôi tới cơ sở xuất bản của Francois Maspero,
và đưa bản thảo cho bà xã của ông ta, lúc đó lo về thơ ca. Bà quyết
định in.
Phản ứng của giới phê bình và của công chúng thưởng ngoạn, phải nói là
rất rộng
lượng. In hai ngàn cuốn, một con số khá lớn, vào những ngày đó.
-Có
nhiều nhà văn Bắc Phi khi đó, hay chỉ lèo tèo vài người,
trong đó có ông?
-Có
vài người. Đặc biệt, trọn một thế hệ nhà văn Algérie,
khởi nghiệp vào thập niên 1950, thí dụ như Kateb Yacine, Mohammed Dib,
Jean
Pelegrini, T. Amrouche và những người khác. Tác phẩm của họ đóng rễ vào
cuộc
chiến dành độc lập của Algérie. Khi tôi nói, tôi được “hân hoan” đón
nhận,
không phải theo nghĩa “ào ào”. Đây là một tiến trình “tà tà, nhẩn nha”.
Tôi nói
một cách nghiêm túc: không phải như bây giờ, khi mà mọi người tranh
nhau nói về
một tác giả trong ba tháng, thí dụ vậy, rồi xong. Ông ta biến mất,
chẳng để lại
một dấu vết. Harrouda chỉ bán được ba ngàn cuốn, nhưng, trái ngược với
những
thành công sớm nở tối tàn khác, là, 24 năm sau, nó vẫn vớ được độc giả,
theo
kiểu lai rai, rỉ rả.
-Đây
là một tác phẩm “rất” văn chương, với một cốt truyện
rất lạ lùng. Ông lấy ở dâu ra vậy?
-Ở
Fez, có một cô điếm già làm rúng động trí tưởng tượng của
trẻ con và thanh thiếu niên. Tôi là một đứa trẻ, khi sống ở đó. Và tôi
biến cô
thành một vị thánh, đại khái như vậy.
-Nhưng
thành công thực sự, là với Goncourt. Ông là nhà văn Ả
rập đầu tiên, đúng ra là nhà văn ngoại quốc đầu tiên thắng giải này.
-Vào
năm 1934 đã có một nhà văn Phi châu được giải, nhưng
năm 1987, khi tôi được Goncourt, chẳng ai nhắc đến ông ta, như vậy cứ
coi tôi
là người đầu tiên đi. Giải thưởng cho tôi một công chúng thưởng ngoạn
rộng rãi
hơn, dù rằng trước đó, Đứa Trẻ Cát đã bán được 130 ngàn cuốn. Khi Đêm
Thiêng được
Goncourt, thế là nó cõng tất cả những cuốn khác của tôi cùng đi theo
với nó.
-Ngoài
chương trình học trung học, nhà văn nào gây nên hứng
khởi đầu, “xúi” ông viết?
-Có
vẻ kỳ kỳ, tôi không thấy mình “hợp” với mấy
ông nhà văn, mà là với một vài nhà làm
phim: Orson Welles, Federico Fellini, Yasujiro Azu, Akira Kurosawa,
Michelangelo Antonioni – tức là những người kể chuyện. Lẽ dĩ nhiên, có
ảnh
hưởng trí thức, từ Sartre, Camus, Genet và những người khác, nhưng đó
là bắt
buộc, theo kiểu ảnh hưởng thời đại. Nếu phải tìm kiếm bà con nghệ
thuật, tôi
tìm ở Welles và Ozu hơn là ở những tiểu thuyết gia.
-Ông
có thử thời vận, như là một nhà làm phim?
-Tôi
đã muốn nghiên cứu nghệ thuật điện ảnh tại Viện Nghiên
Cứu Cao về Điện Ảnh. Nhưng ngay lập tức, tôi nhận ra, điện ảnh là một
kỹ nghệ,
một kỹ nghệ rất nặng nề, và do đó, rất nhiêu khê. Khi lệ thuộc vào quá
nhiều
người, quá nhiều hoàn cảnh, thật khó là một nhà sáng tạo. Tôi đã lẫn
lộn tình
yêu phim với ao ước làm phim. Thế là tôi chào thua.
-Điện
ảnh là một đam mê ở Pháp – họ đã phát minh ra nó. Hồi
còn là sinh viên ở đó, chắc là ngày nào ông cũng mò đi coi ciné?
-Tôi
mê hình ảnh. Ciné giúp tôi nhiều nhất, ở cái khoản này:
câu chuyện được kể qua hình ảnh, bởi một Welles hay một Hitchcock.
Trong một
vài phút đầu tiên của phim, những nhân vật, hoàn cảnh câu chuyện bầy ra
trước
mắt bạn, và bạn cứ thế nhập vô, cứ thế lên đường cùng với phim. Ngày
nay, phim ảnh
Mỹ khổ vì muốn… hiện thực. Bạn nhìn một người nào đó uống cà phê, ăn
trong
tiệm, thoi vào mặt một người khác. Nhưng Ozu và Welles không sao chép
thực tại.
Quan trọng là bịa đặt ra một câu chuyện và làm cho khán giả tin tưởng
câu
chuyện đó – quan trọng là, một khi ngồi trong phòng tối tại một rạp,
cuốn phim
đưa bạn tới một vũ trụ khác, trong tưởng tượng. Đó là điều tôi cố gắng
làm, với
những cuốn sách của tôi.
-Ông
đi coi phim, nhưng còn đọc cả lố, như ông nói đấy. Ai?
Có tác giả ngoại nào không?
-Tôi
đọc [nhà văn Mỹ] Steinbeck, Dos Passos, Faulkner, khi
tôi còn trẻ. Nhưng nhà văn giúp tôi nhiều nhất, là James Joyce, không
phải bởi
vì tôi muốn làm cùng một điều như ông ta, mà là: ông ta liều cùng mình.
Tôi
nghĩ nếu Joyce dám liều như vậy, tôi cũng dám. Khi còn nằm ở trại lính,
tôi yêu
cầu bạn bè gửi những cuốn sách dầy nhất mà họ kiếm được. Bởi vì cấm đọc
sách ở
đó, tôi đọc lén, và tôi muốn một cuốn sách kéo thật dài. Thế là họ gửi
lén cho
tôi cuốn Ulysses, và tôi thật sự kinh hồn bạt vía bởi sự táo bạo, từ
một công
trình lớn lao như vậy. Tôi chẳng biết gì về Ái Nhĩ Lan, nhưng cuộc hành
trình
của nhà văn làm tôi quan tâm, tính táo bạo của ông ta. Nhưng tôi chào
thua cuốn
Finnegans Wake – những hiểm nguy ở đó thật là vô tích sự (gratuitous).
Nó thì
tối tăm.
Người
phỏng vấn: Tuy nhiên, ông mê thơ hiện đại, mà cái thứ
này nếu không mờ mờ thì cũng thường xuyên tăm tối?
Ben
Jelloun: Thi ca tối tăm không hiện hữu, hoặc nếu tối
tăm, thì đó không phải là thi ca (poetry). Thơ thứ thiệt chẳng bao giờ
tối tăm;
ngay cả [nhà thơ Pháp] Mallarmé cũng rõ ràng. Về phần tôi, tôi mê
St.-John
Perse, René Char, một số bài của Yves Bonnefoy, của Louis-René des
Forêts. Đôi
khi tôi đọc những tập thơ mà tôi nhận được, và nói với chính mình, “Thứ
này
thật là vô nghĩa! Nó chẳng mắc mớ gì tới thơ.” Nhưng đời mà, đôi khi
người ta
chẳng có gì để nói, hoặc chẳng có gì để nói “thêm”, tuy nhiên họ vẫn cứ
tiếp
tục nói: nó vẫn vậy mà! Hãy nhìn [nhà làm phim người Pháp] Jean-Luc
Godard: đối
với tôi, những phim đầu tay của ông thật đáng yêu, thế rồi một ngày,
tôi khám
phá ra một hiện tượng kỳ cục: Godard là một người đàn ông chẳng có gì
“thêm”,
để nói. Cũng vẫn kỹ thuật đó – cách táy máy, mầy mò hình ảnh thật tuyệt
vời
(this marvelous way of manipulating images), những phim của ông chẳng
ai thèm
quan tâm tới nữa: chúng rỗng tuếch.
Cùng
trường hợp như vậy, với một vài nhà thơ. Như là một hậu
quả: tôi nghĩ lúc này chẳng có thơ. Vắng thơ, ít ra ở Tây phương, và
cảm giác
kinh cung chi điểu: sợ thơ, như thể mọi người hết còn dám [làm thơ].
Tại Pháp,
thời kỳ Kháng Chiến đã đẻ ra một nền thi ca lớn, bằng cách đem hứng
khởi tới
cho những nhà thơ như Aragon, Éluard, René Char. Họ có một điều gì thật
nóng
hổi, thật gấp gáp cần phải truyền đạt, một số giá trị cần phải chống
đỡ; và
phải làm liền, làm mạnh bởi vì những giá trị này đang gặp hiểm nguy.
Một nhà
thơ Pháp nói gì đây, bây giờ? Viết một bài thơ để chống lại Le Pen? Làm
thơ về
nạn thất nghiệp? Về nạn tự tử của lớp trẻ? Đây chỉ là những đề tài lòng
vòng,
mang tính nhất thời.
Đâu
phải chuyện tai nạn, khi một nhà thơ dở như Bobin bán ào
ào cả chục ngàn ấn bản mỗi lần cho ra lò một tuyển tập mới. Một thứ thơ
tình
cảm, giả-tôn giáo, dở ẹt. Nhà Luyện Kim (The Alchemist), tiểu thuyết
của
Coeltho, theo tôi, thuộc loại tầm phào, vậy mà bán ra mười một triệu ấn
bản. Đó
là vì người ta “cần” thơ và tìm kiếm một thứ tâm linh nào đó: họ cần
“lại cảm
thấy yên ổn”, và hy vọng. Nhưng đây là thứ tâm linh chợ búa, hàng quán
(bazaar). Một thứ tâm linh Đồng Giá (Monoprix).
-Theo
tôi, có vẻ như người ta tìm thấy thơ, ở những nhà văn
xuôi hiện nay. Ở Anh chẳng hạn. Sự thành công của những cuốn sách của
ông, tôi
nghĩ, một phần là do cách viết và cảm tính của ông có chất thơ ở trong
đó.
-Đó
là gia tài Ả rập của tôi. Khi tôi kể một câu chuyện, tôi
cảm [thấy mình là người] Marốc, và tôi kể nó như là một người Marốc kể
chuyện,
với hình ảnh và cấu trúc, chẳng hiện thực, nhưng là một nơi chốn [để
cho] thi
ca trú ngụ.
-Trong
Ngàn Lẻ Một Đêm – vốn tắm đẫm tranh ảnh, minh họa
(pictorial) – tác giả vẽ những bức tranh, có lẽ bởi vì thoạt kỳ thuỷ
những câu
chuyện này được truyền miệng, và những người kể chuyện phải làm cho
người nghe
chú ý bằng cách nhấn từ, nhấn giọng. Ông kể những câu chuyện của mình
giống như
một người kể (conteur) Đông phương.
-Tôi
không cho rằng, mình có hơi hớm tác giả Ngàn Lẻ Một
Đêm, hay phải viện dẫn tới một thời kỳ đặc biệt nào đó trong lịch sử Ả
rập. Tuy
nhiên, tôi cảm thấy mình ăn ở với văn hóa Ả rập. Ít ra đây là lời giải
thích
thuận lý mà tôi có thể có được, nếu nói về chất “thơ” trong văn của
tôi. Về kỹ thuật
tự sự (narrative technique), tôi bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Roland
Barthes –
những bài tiểu luận của ông về mối liên hệ giữa bản văn (text) và văn
chương.
Khi còn là sinh viên, Tiểu Thuyết Mới làm tôi nản, và tôi không muốn
viết bất
cứ một thứ gì giống như vậy. Điều tôi làm, tôi phát minh ra nó trên
đường đi,
trong lúc viết, một cách vô thức. Tôi nghĩ, văn phong của tôi là Marốc,
nhưng
có lẽ những người Marốc không nghĩ như vậy!
-Những
đề tài của ông cũng là Marốc – câu chuyện luôn luôn
xẩy ra ở Marốc, hay ít ra, ở Bắc Phi.
-Đúng
như vậy. Những đề tài bám rễ Maghrebi, bởi vì chúng
liên quan tới những vấn đề mắc míu với chúng tôi, những vấn đề của cuộc
sống
thường ngày – sự liên hệ giữa đàn ông và đàn bà trong một xã hội Hồi
giáo, giữa
nhà nước và luật pháp, hay cá nhân và tập thể.
-Trong
tất cả những xứ sở thuộc thế giới thứ ba, đặc biệt
trong những xứ Hồi giáo, có trạng thái giao động, không chắc chắn
(uncertainty), như là hậu quả do va chạm với hiện đại tính và Tây
phương. Đây
là trường hợp [đưa đến] sự thành công lớn lao đầu tiên của ông, trong
Đứa Trẻ
Cát; câu chuyện một đứa bé sinh ra là gái, nhưng cha mẹ cứ làm như nó
là trai,
bởi vì họ đã có 6 cô “công chúa”, và cảm thấy nhục nhã vì không sản
xuất ra nổi
một chú bé đực rựa. Điều này đưa tới những hậu quả bi thương cho cô bé,
khi cô
đã trưởng thành. Ông dựa trên chuyện thực?
-Không,
tôi bịa ra nó, bởi vì tôi muốn viết về thân phận
người phụ nữ ở Bắc Phi, nhưng không muốn nó mang vẻ mô phạm, hay mang
tính dấn
thân (militant). Tôi muốn phản ứng lại thứ văn chương nữ quyền của thập
niên
1980, vốn đặt nặng tu từ, nghe “the thé” (strident), và chẳng có tí
tưởng tượng
nào ở trong đó. Vì vậy, tôi nghĩ, nếu tôi bịa ra một đứa bé mà số mệnh
bắt buộc
phải tách ra khỏi dòng đời bình thường [nữ bị coi là nam] và sau đó
sống cả hai
thân phận, là nam là nữ cùng một lúc, như vậy tôi có thể làm bật ra một
số vấn
đề.
-Đêm
Thiêng, cuốn tiểu thuyết được Goncourt, tiếp tục câu
chuyện kể. Đây là cuốn thứ nhì trong một bộ ba. Cuốn thứ ba là Đêm Lầm.
Cuốn
thứ nhất, Đứa Trẻ Cát, đưa ra một số kết cục có thể xẩy ra. Chi tiết
này cho
thấy, ông là một trong số những người kể chuyện Đông phương. Nhưng ông
phải
chọn một trong những kết cục đó. Làm cách nào, ông chọn?
-Đây
là do những độc giả đòi hỏi tôi tiếp tục câu chuyện.
Tôi nhận hết thư này tới thư khác, hỏi: “Chuyện gì xẩy ra cho
Ahmed/Zahra? –
nhân vật chính với căn cước dục tính “kép” (the main character with the
double
sexual identity). Đây là một cách nói về thân phận người phụ nữ mà
không rơi
vào giáo điều.
-Nếu
độc giả không “năn nỉ”, chắc là ông nghỉ chơi luôn?
-Ông
có thể đặt câu hỏi theo một cách khác, như thế này: nếu
câu chuyện chẳng [có một cơ may] tiếp diễn, độc giả đã chẳng thèm “năn
nỉ”.
-Ông
đã từng nói: “Là một người đàn bà là một nhu nhược tự
nhiên mà mọi người chấp nhận” (To be a woman is a natural infirmitythat
everyone accepts). “Là một người đàn ông là một ảo tưởng và một bạo lực
mà mọi
điều [đều có thể] biện minh và khuyến khích” (To be a man is an
illusion and a
violence that everything justifies and favors).” Đây có phải là quan
niệm hiện
thời của ông về thân phận người phụ nữ trong thế giới Hồi giáo, đặc
biệt trước
đà phát triển của chủ nghĩa chính thống, cứ chĩa mũi dùi vào người phụ nữ? Tôi hỏi ông câu này, bởi vì,
song song với sự áp bức trà đạp người phụ nữ của cái gọi là chủ nghĩa
chính
thống, phong trào đòi hỏi nữ quyền Hồi giáo hiện đang trỗi dậy.
Những
nhà nữ quyền Hồi giáo lấy ra những đòi hỏi, những luận
cứ của họ, từ chủ thuyết và lịch sử đạo Hồi. Họ chứng minh rằng những
áp bức
trà đạp người phụ nữ trong những xứ sở Hồi giáo chẳng mắc mớ chi đến
đạo Hồi,
thoạt kỳ thuỷ nhằm giải phóng họ, và đã
sản xuất ra những vị nữ lưu đứng đầu nhà nước, những chính trị gia,
những nhà
thơ, những nhà thần học. Một trong những vị nữ lưu, đồng bào của ông,
Fatima
Mernissi: một trong số những người hùng biện nhất, thông thái nhất của
những
nhà nữ quyền Hồi giáo. Tôi đang nghĩ tới những cuốn sách của bà: Những
Hoàng
hậu đã bị bỏ quên của Hồi giáo (The Forgotten Queens of Islam), Hồi
giáo và Dân
chủ (Islam and Demecracy), Quá khỏi Mạng che mặt (Beyond the Veil)…
chúng cho
thấy, Hồi giáo bị biến chất (denatured) tới mức nào, so với tư tưởng
khởi đầu
của người sáng lập ra nó. Và nó bị biến chất là do những nhà cai trị
tham
nhũng, và những mullahs (giáo sĩ Hồi giáo). Bà cảm nhận, ngày nay sự áp
bức phụ
nữ còn liên quan tới sự kém mở mang, nghèo đói, bất công, và tham
nhũng,
“chuyện thường ngày ở huyện” trong những xứ sở thuộc thế giới thứ ba.
-Đúng
như vậy. Bức mạng che hiện hữu trong tất cả các tôn
giáo, ngay cả trong đạo Cơ đốc. Người ta lấy khăn phủ đầu, như là một
dấu hiệu
của sự kính trọng, khi bước vào nhà thờ, nhà tu. Khi cầu nguyện bắt
buộc phải
làm vậy. Nhưng tôi nghĩ, thiết yếu là phải tách rời chính trị và tôn
giáo. Tôn
giáo là vấn đề của từng cá nhân, nó là sự quan tâm giữa từng con người
với
Thượng Đế. Sử dụng Hồi giáo vào những mục đích chính trị là mị dân
thuần tuý,
một phương thức để áp bức dân chúng. Tôn giáo quan tâm tới điều được
coi là
vĩnh hằng, thiên thu, trong khi đó, chính trị, do bản chất của nó, là
tạm bợ,
nhất thời. Bởi vậy, chúng ta phải tách rời cả hai, nếu không, những xứ
sở Hồi
giáo sẽ chẳng bao giờ vượt lên khỏi tình trạng kém mở mang và áp bức.
-Chúng
ta hãy trở lại với nhân vật Ahmed/Zahra. Làm cách nào
cô giải quyết được bài toán nhức đầu của cô?
-Việc
của tôi (My job) không phải đưa ra những câu trả lời
hay tìm giải đáp, nhưng mà hỏi (ask questions), chứng nghiệm (testify),
trong
một hoàn cảnh nhân sinh. Tôi kể một câu chuyện, và hy vọng rằng, nó sẽ
gây suy
nghĩ (incite reflection), tạo tư tưởng.
-Xen
kẽ bộ ba trên, ông còn viết một cuốn sách nhỏ về tình
bạn, Ngợi Ca Tình Bạn (L’Éloge de l’Amitié, In Praise of Friendship),
trong đó
ông nhắc tới tất cả những bạn bè làm cho cuộc đời của ông thêm giầu có.
Trong
số đó, Jean Genet có vẻ chiếm một vị trí đáng kể nhất, đối với ông.
Tính tình
ông ta rất kỳ lạ: dữ dằn (farouche), nhút nhát, cô độc, rất ít người
biết tới.
Ông nghĩ thế nào, về con người và tác phẩm, từ một khoảng cách hiện
nay, nhìn
lại?
-Ông
ta là một con người cực kỳ khác thường. Khi cuốn đầu
tay của tôi ra lò, tôi gửi một bản tới ông, qua nhà xuất bản của ông
ta, chẳng
hy vọng ông trả lời; như mọi người biết, đây là một con người rất e
thẹn, và cô
độc. Một bữa, một tay Cộng sản bạn của tôi, thường xuyên đọc báo “đảng”
(tờ
Nhân Loại, L’Humanité), anh ta bảo: có một bài viết về “toa” trên tờ
báo đảng
đó! Tôi chạy vội đi mua một tờ! Bài viết hoá ra là một bài phát thanh,
của
Genet, về một số nhà văn Ả rập. Trong bài viết, ông ta tấn công Sartre,
buộc
tội Sartre đã không quan tâm đúng mức tới những nhà văn này, trong số
đó có
chính tôi!
Ngày
hôm sau tôi gửi lời cảm ơn về lòng tốt của ông ta, và
cho biết, tôi hiện đang ở Khu Sinh Viên (Cité Université). Ngày tới, có
người
gọi cho tôi. Là Genet. Và ông đề nghị gặp. Đó là khởi đầu một tình bạn
kéo dài
tới hết cuộc đời của ông. Vào năm 1979, khi xẩy ra cuộc cách mạng của
Khomeini
tại Iran, ông ta bảo tôi: “Tớ khoái tay già này, dám nói ‘Hãy xéo đi!’
với Mỹ
và Tây phương”. Không phải ông quan tâm tới cuộc cãi lộn chính trị giữa
“the
Shah” (Vua Iran) và Khomeini, nhưng mà là thái độ nổi loạn của một con
người
chống lại một hệ thống, chống lại cả thế giới. Ông luôn luôn giữ những
vị trí
tàn bạo (brutal positions), vì ông là một con người nổi loạn, chống lại
quyền
lực bất kể dưới dạng nào.
Chúng
tôi trở thành bạn, mặc dù ông chẳng hề tin vào tình
bạn, bởi vì theo ông, tự do và sự trung thuỷ không thể cặp kè với nhau
được.
Tuy nhiên ông luôn là bạn tốt, với tôi. Ông bảo tôi: “Khi viết, hãy
nghĩ tới
người đọc, hãy giản dị”. Tôi cố theo lời khuyên của ông, bởi vì tôi
nghĩ giản
dị là một dấu hiệu của chín chắn.
-Tình
bạn được tôn thờ tại những xứ sở Trung Đông. Tại Ba
tư, nó gần như “xêm xêm” với tình yêu. Ở Marốc, cũng rứa?
-Không
hoàn toàn như vậy. Nhưng tình bạn giữ một vai trò
quan trọng trong cuộc đời của riêng tôi. Tình yêu là một điều chi khác,
nhiều
khi đối ngược với tình bạn. Tình yêu thì rắc rối, đầy khó khăn trắc
trở. Nó
thuộc loại hiếm hoi, nghĩa là còn tùy thuộc vào những điều mà thường
xuyên vượt
ra khỏi khả năng của người trong cuộc. Tình bạn ngược hẳn lại: giản dị,
tự
nguyện, bền vững.
-Rữa
Thối (Corruption, dịch từ bản tiếng Pháp: L’homme
rompu), xuất bản năm 1994, là về sự tham nhũng, hối lộ trong một xứ sở
như
Marốc. Đây là một tiểu thuyết mang tính chính trị, tố cáo mạnh mẽ nhất
trong
những tác phẩm của ông. Ông có nghĩ rằng chính trị có thể làm thay đổi
những sự
việc ở Maghreb, hay ở trong những xứ sở thuộc thế giới thứ ba, nói
chung? Theo
ông có cần làm sống lại đạo đức, tâm linh (a moral and spiritual
revival)?
-Đạo
đức và tâm linh chẳng thể nào tái sinh trong một thể
chế chính trị bịnh hoạn, hư ruỗng. Do đó, cuộc chiến đấu chống lại tham
nhũng,
hối lộ là một cố gắng làm cho xã hội trở nên khoẻ mạnh, về đạo đức,
cũng như là
về văn hóa.
-Cuốn
tiểu thuyết mới của ông, Đêm Lầm, là cuốn thứ ba trong
một bộ ba cuốn. Nhân vật chính lại (again) là một người đàn bà. Có phải
đây là
phản ứng của ông trước chuyện (ngược đãi phụ nữ) xẩy ra tại Algeria,
vào lúc
này?
-Không.
Cuốn sách nói về một bạo lực nào đó, từ lâu vẫn nằm
ngủ trong nhân vật chính, và sau cùng bà đã trả thù. Đây không phải là
một câu
chuyện mang tính hiện thực (realistic). Nó là về bạo lực của một người
đàn bà
đã bị áp bức quá lâu, và cuối cùng nổ bung ra. Nhưng không phải một
người đàn
bà thực (a real woman), bà thuộc về cõi huyền hoặc (she belongs to the
realm of
legend).
-Ông
nghĩ gì về chủ ngh |